Friday, June 9, 2017

Bài viết hay(5037)

Tháng năm, hoa phượng tím jacaranda đã bắt đầu nở rực ở nhiều đường phố miền nam California trông thật đẹp và mát mắt; nhất là khi xác phượng tím ngập đầy mặt đường như trải thảm. Vậy mà thằng Mễ gần nhà tui rất bực mình với jacaranda khi nó phải quét dọn xác phượng tím với mùi khó chịu. Nó yêu cầu city phải đốn hết hàng cây jacaranda này nên nó gỏ cửa hàng xóm để ký vô petition. Rốt cuộc chỉ có nó và một bà Mỹ trắng gốc Do Thái ký nên city không thể chìu ý họ. Thế là nó bán nhà và con Tàu dọn vô. Hàng cây jacaranda nhờ vậy mà vẫn còn tồn tại ở đường phố này cho tui ngắm mỗi khi hè về để nhớ phượng đỏ sân trường ngày nào.

Do ai khiến dân bất an?

Sáng 09.6.2017, trong thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội Đặng Thuần Phong đã nêu ra 6 nội dung cần quan tâm trong đó có những việc mà ông gọi là “nỗi bất an của người Việt Nam”(*). Một tiếng nói lẻ loi tại nghị trường nói đúng thực trạng xã hội Việt Nam ngày nay. Điều đó rất đáng hoan nghênh trong tư duy của những người suy nghĩ về đất nước.
Tuy nhiên, vấn đề lớn ở đây là giải pháp làm sao thì chưa làm được và nguyên nhân do ai gây ra thì thật sự vẫn chưa thẳng thắn chỉ tên. Theo dòng lịch sử của Quốc hội đã không ít nghị viên trước đây cũng có nhiều người nói. Nhưng nói xong, chẳng thấy thay đổi bất cứ điều gì. Từ suy nghĩ trăn trở cho hiện tình đất nước biến thành tinh thần hành động dứt khoát thì còn là một hố sâu ngăn cách.
Trong bài phát biểu ông Phong đã đưa ra 6 điểm hết sức tổng quát và vĩ mô, nhưng cũng rất cụ thể, chi tiết. 6 điểm là 6 nỗi đau của dân tộc đang phải gánh chịu từ cơ chế của cả hệ thống chính trị đến những tệ nạn tham nhũng, văn hóa, chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng, môi trường sống đều bị bủa vây của cơ chế công quyền trong nhiều trường hợp cùng tính chính danh của nó.

“Đừng vì những lợi ích tức thời mà buông bỏ tương lai dân tộc. Tiền có thể nhiều đến đâu cũng không mua lại được môi trường tươi đẹp đã mất. Mỗi thứ đều do người Việt hại người Việt và từng bước biến sự vô cảm thành vấn đề đạo đức mang tính phổ biến”. Đó là thông điệp rất đáng trân trọng của ông Phong gởi đến Quốc hội sau khi kết thúc bài phát biểu.
Vì sao tiếng nói tâm huyết của nhiều đại biểu Quốc hội khó trở thành hành động thực tiễn để đưa đất nước tươi đẹp? Nền tảng chính trị của Việt Nam đều bị đóng khung bởi sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản. Đảng nói đúng hay sai thì cả hệ thống chính trị buộc lòng phải thực hiện như vậy. Chính phủ bị dây thòng lọng của Đảng o bế, Chính phủ có làm khác được chỉ thị đường lối của Đảng hay không? Khi nào mà chưa có tính độc lập giữa Quốc hội và Đảng Cộng sản thì tới khi đó Quốc hội vẫn chỉ là đám đông nghị trường vâng theo ý Đảng.
Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đưa ra, tuy nhiên trong quá trình thực hiện, Đảng và Trung ương có những chỉ đạo về xử lý tiêu cực, tham nhũng, gồm cả xử lý trách nhiệm của người đứng đầu thì lại chưa được như mong muốn?!
Ai có thể tham nhũng ngoài đảng viên của Đảng Cộng sản. Ai điều hành chính sách vĩ mô về kinh tế, ai tận thu tài nguyên khoáng sản, ai phá nát hệ thống môi trường sinh thái, ai kêu gọi đầu tư nhưng thiếu trách nhiệm trong thẩm định, đánh giá dự án khiến từng bước biến Việt Nam thành điểm đến của công nghiệp rác, công nghệ lạc hậu? Để trả lời người ta thấy rõ Đảng Cộng sản chính là cội nguồn của sự hủy diệt.
Dân bất an trong môi trường sống bị sự độc tôn cộng sản lãnh đạo cũng chẳng lấy gì làm lạ. Đứa trẻ muốn được sinh ra an toàn cũng phải mua mạng sống bằng tiền nơi nhà thương, vừa cất tiếng khóc chào đời đã bị nợ công hàng ngàn đô la phủ lên mặt trẻ thơ. Già trẻ, nam nữ lắng lo sợ hãi trong vòng xoáy của thuế khóa, luật pháp mơ hồ.
Dân sống trong một bãi rác hôi thối, đầy dịch bệnh thì hỏi sức khỏe dân tộc có bền vững, sự an nguy của xã tắc có đáng lo ngại? Muốn dân sống khỏe, bình an thì trước hết cần phải dọn rác thối.
Ông Đặng Thuần Phong đã thấy được cái thối rữa, sâu mọt, héo úa của thân, cành, lá. Gốc rễ mộc ruỗng là nguyên nhân sinh ra bệnh, cần phải bứng rễ nó đi mà thay vào một loại cây khác. Liệu ông Phong và các dân biểu tại Nghị trường Quốc hội có can đảm để làm điều đó để trả lại môi trường tươi đẹp cho dân tộc Việt Nam?
Muôn đời dân luôn là mảnh đất phì nhiêu, màu mỡ, trù mật, là người nông phu hãy biết gieo vào trong lòng dân những hạt giống tốt, cây sẽ đâm chồi nảy lộc và sinh và kết trái.
09.06.2017Paulus Lê Sơn

Phản biện 3 nghị quyết về kinh tế

A. Giới thiệu

Ngày 03/6/2017 T.Ư Đảng ban hành 3 nghị quyết (NQ) về kinh tế.
Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết số 11-NQ/TW về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Nghị quyết số 12-NQ/TW về đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Các lần trước, sau khi đọc đi đọc lại vài lần một nghị quyết nào đó của Đảng tôi đi đến kết luận: “mới đọc qua thấy có vẻ đầy đủ và hợp lý, nhưng càng đọc càng phát hiện ra nhiều thứ vô bổ và sai lầm”. Lần này, đọc xong cả 3 NQ, cảm tưởng hoàn toàn ngược lại: Đọc lần 1 chỉ thấy NQ là một đống ngôn từ văn hoa, trộn lẫn một rừng khẩu hiệu đao búa, những ý tưởng chung chung, trống rỗng và cũ rích. Đọc kỹ lần thứ hai, thứ ba, cố đãi cát lấy vàng thì cũng tìm được một vài ý mới, ví như: vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân, đổi mới mô hình tăng trưởng… Nhưng đó là mới với Đảng mà quá cũ đối với thế giới. Ngay ở VN, cách đây trên hơn thế kỷ, các bậc tiền bối trong Đông Kinh Nghĩa Thục đã chủ trương kinh tế tư nhân là then chốt. Thôi thì cứ chấp nhận cách nói của Đảng, làm sai rồi, làm hỏng rồi, sửa sai, làm theo cách cũ thì gọi là đổi mới. Nhưng hãy phân tích xem, với 3 NQ ấy liệu Đảng có thể đưa dân tộc “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” để đưa nước ta trở thành “nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020” và trả được món nợ khổng lồ hàng trăm tỷ đô la.
Viết bài này tôi nêu một số nhận xét và phản biện, hy vọng có thể nêu ra vài ý kiến để những ai quan tâm đến các loại nghị quyết có thế cùng trao đổi.

B. Tóm lược nội dung 3 NQ

Về hình thức cả 3 NQ có cấu tạo giống nhau, mỗi NQ gồm 4 đoạn (I; II; III; IV), mỗi đoạn gồm các đề mục (1; 2; 3…) như sau:
I- Tình hình và nguyên nhân
1. Qua một thời gian (15 năm, 30 năm…) Đảng ta luôn quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rút ra các bài học kinh nghiệm,…
2. Tuy nhiên,…còn phạm phải nhiều thiếu sót, sai lầm.
3. Những hạn chế, yếu kém do các nguyên nhân khách quan và chủ quan…
II- Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu
1. Quan điểm chỉ đạo.
2. Mục tiêu tổng quát.
3. Mục tiêu cụ thể (NQ 11 và 12 ghép mục 3 vào 2 và ghi: Mục tiêu cụ thể đến năm 2020; Mục tiêu đến năm 2030).
III- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
Đây là phần cơ bản và các NQ có nội dung khác nhau. NQ 10 có 5 mục, NQ 11 có 7 mục, NQ 12 có 5 mục.
IV- Tổ chức thực hiện
1. Đảng đoàn Quốc hội…
2. Ban cán sự Đảng Chính phủ…
3. Ban Kinh tế Trung ương…
4. Ban Tổ chức Trung ương…
5. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…
6. Ban Tuyên giáo Trung ương…

C. Một số nhận xét chung cho 3 NQ

Toàn văn các NQ khá dài, số chữ vào khoảng sau: NQ 10: 6300 chữ; NQ 11: 7600; NQ 12: 7800. Đọc xong NQ có cảm tưởng như người soạn thảo cố tình viết cho thật dài để chứng tỏ trình độ cá nhân hoặc tầm quan trọng của NQ.
Đoạn I- Tình hình và nguyên nhân. Cách trình bày của 3 NQ giống nhau. Mục 1 nêu thành tích, ưu điểm, mục 2 nêu thiếu sót, nhược điểm, mục 3 trình bày nguyên nhân. Mục 1 và 2 trình bày chung chung, phạm phải lỗi ngụy biện kiểu “lập lờ đánh lận”, nhằm xoa dịu mọi người. Mục 3 chỉ nêu được vài nguyên nhân gần, dễ thấy, đổ lỗi cho nhận thức và trình độ kém, việc tổ chức thực hiện thiếu quyết liệt, người đứng đầu tổ chức thiếu gương mẫu, hiệu quả thanh tra, kiểm tra kém, suy thoái tư tưởng và lối sống v.v… Đó chỉ là các nguyên nhân rõ ràng, hời hợt. Chưa dám vạch ra các nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân cơ bản do lỗi của hệ thống, của thể chế. Kiểu tìm nguyên nhân một cách loa qua, hời hợt như thế chỉ làm thỏa mãn được những trí tuệ nông cạn mà không vạch ra được nguyên nhân gốc để khắc phục. Tôi cho rằng những nguyên nhân được nêu trong các nghị quyết là không sai, nhưng chưa đúng, chưa trúng. Phải tìm nguyên nhân gốc từ trong thể chế và đường lối chung. Tôi sẵn sàng tham gia đối thoại với các nhà lý luận của Đảng để tìm ra đâu là nguyên nhân gốc rễ của mọi nhược điểm trong phát triển kinh tế. Theo tôi, nguyên nhân gốc rễ nằm trong sự độc tài toàn trị của Đảng.
Đoạn II và Đoạn III- Sẽ phân tích riêng cho từng NQ ở phần sau.
Đoạn IV- Tổ chức thực hiện. Cả 3 NQ đều thống nhất giao nhiệm vụ cho các tổ chức của Đảng và Mặt trận Tổ quốc, nội dung đoạn này cũng giống với nhiều NQ khác. Đảng đoàn Quốc hội lo làm luật, Ban cán sự Đảng Chính phủ… lo xây dựng kế hoạch, Ban Tuyên giáo tổ chức học tập v.v… Lại phổ biến, học tập, thảo luận. Không biết có phải viết thu hoạch và làm kiểm điểm hay không. Những việc này được Tuyên giáo cho là rất quan trọng, phải tiến hành thật nghiêm túc. Thực tế chứng tỏ những việc như vậy có tác động chủ yếu là hành hạ đảng viên, lãng phí thời gian và công sức, lợi ít hại nhiều.
Ngoài các tổ chức của Đảng, NQ nào cũng lôi kéo Mặt trận TQ vào làm vai trò bung xung trong việc giám sát thực hiện NQ. Tôi đã có nhiều năm tham gia công tác Mặt trận và rất nghi ngờ việc giám sát này. Có thể là đã có tổ chức Mặt trận, phần nối dài của Đảng, thì phải giao nhiệm vụ cho qua chuyện, chứ biết chắc là Mặt trận cũng chẳng làm được gì đáng kể.

D. Quan điểm chỉ đạo của NQ số 11

Trong mục 1, đoạn III có ý cho rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (KTTTĐHXHCN) là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Quan điểm “Xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTTĐHXHCN là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng…, đổi mới mô hình tăng trưởng…”. Quan điểm này tỏ ra không vững vàng, thiếu tự tin. Cái đuôi định hướng thật ra là một sự chắp vá gượng ép, chỉ nhằm làm thỏa mãn sự nhận thức hời hợt, sự bảo thủ ý thức hệ của một số ít người trong nước đã mắc bệnh nghiện XHCN. Khi ra thế giới chúng ta không dám thò cái đuôi ấy. Vì sao vậy? Vì không tự tin, vì các nước dân chủ không công nhận. NQ viết “là khâu đột phá quan trọng,… đổi mới mô hình tăng trưởng”. Có thật vậy không khi trên 20 năm nay theo đuổi KTTTĐHXHCN và bây giờ vẫn tiếp tục, đột phá chỗ nào. đổi mới chỗ nào?
Quan điểm “tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, thông lệ quốc tế, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa…” thực chất là đặt nền kinh tế dưới sự quản lý chặt chẽ của ĐCSVN. Đây là một mâu thuẩn không thể khắc phục khi mà ĐCS vẫn kiên trì Chủ nghĩa Mác Lê.
Quan điểm “hoàn thiện thể chế kinh tế đi đôi với hoàn thiện thể chế chính trị mà trọng tâm là đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy và cán bộ”. Đây có thể là một chiêu lập lờ đánh lận. Hiện nay có nhiều ý kiến đề xuất, đã đến lúc đổi mới lần 2, đó là đổi mới thể chế chính trị mà cốt lõi là kiến tạo nền dân chủ với tam quyền phân lập. NQ đưa ra khái niệm “Hoàn thiện thể chế chính trị…” phải chăng để dỗ những người nhẹ dạ cả tin rằng Đảng đang đổi mới lần 2?

E. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của NQ số 11

Đây là phần chính, chiếm khoảng 3/4 số chữ của NQ. Trên kia tôi viết, đọc qua một lần thấy mỗi NQ là một đống ngôn từ văn hoa, một rừng khẩu hiệu là về vấn đề này. Nó trình bày đủ mọi thứ của đời sống xã hội, những điều mà mọi người đã quá bị nhàm chán do nghe quá nhiều, đọc quá nhiều về tiến bộ, công bằng, quyết tâm, đẩy mạnh, tiếp tục, hoàn thiện v.v… mà thực tế cuộc sống một phần nhỏ nhích lên theo kiểu rùa bò, còn phần lớn theo kiểu giật lùi từng bước, sụp đổ từng bộ phận. Xin phân tích một số điều mục trong đoạn này.
1. Thống nhất nhận thức về nền KTTTĐHXHCN ở nước ta.
Nhận thức chủ yếu là sự phản ảnh thực tế vào đầu óc con người. Nền KTTTĐHXHCN ở nước ta vốn chưa từng tồn tại, thế thì lấy cái gì để phản ảnh. Thực chất nó là sản phẩm của tư duy gán ghép. Ừ, thì tư duy cũng đem đến nhận thức, nhưng nó phải được kiểm chứng. Thử lấy một ý: “Nền KTTTĐHXHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Đây là một sự quy kết vô căn cứ. Tôi thách đố Hội đồng Lý luận TƯ, kể cả những nhân vật cao cấp nhất của Đảng chứng minh rõ ràng luận điểm này.
2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp.
3. Hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường.
4. Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
5. Hoàn thiện thể chế đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
Bốn mục 2; 3; 4; 5 vừa nêu đều nhằm “hoàn thiện thể chế”, có nghĩa là sửa đổi, làm thêm các văn bản: luật pháp, thể chế, chính sách, cơ chế, chương trình, chế độ. Dưới mỗi luật lại phải có thêm nghị định và thông tư. Sẽ có thêm một rừng luật và văn bản mới để rồi trong thực tế phần lớn chỉ dùng một luật rừng. Kinh nghiệm của thế giới cho hay việc tổ chức thi hành luật quan trọng hơn việc ban hành nhiều văn bản pháp luật. Lãnh đạo Việt Nam thích làm ngược lại hay là chỉ có thể làm ngược lại: lo ban hành thật nhiều luật còn việc tổ chức thi hành thì ít quan tâm.
Có một điều lạ là trong nhiệm vụ và giải pháp của nền kinh tế có điều: “Đẩy mạnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Phát triển y tế, bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Phát triển văn hoá, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện”. Phải chăng viết như thế để chứng tỏ sự quan tâm toàn diện của Đảng?
6. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò xây dựng và thực hiện thể chế kinh tế của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoàn thiện thể chế KTTTĐHXHCN.
Việc Đảng lãnh đạo làm cách mạng là thuộc về quá khứ. Trong xây dựng xã hội hòa bình, hình như khái niệm “đảng lãnh đạo” chỉ còn trong vài nước do cộng sản khống chế, còn lại, khái niệm phổ quát hơn là “đảng cầm quyền”. ĐCSVN vẫn khăng khăng là đảng cách mạng, giữ vai trò lãnh đạo mà không biết, không chịu chuyển thành một đảng chính trị cầm quyền. Muốn lãnh đạo được phải có đội ngũ tinh hoa, phải có một luận thuyết tiến bộ, lại phải có cơ chế thu thập thông tin ngược để điều chỉnh. Thế mà hiện nay ĐCSVN đều thiếu cả 3 thứ đó. Thế thì càng lãnh đạo càng dẫn dân tộc vào con đường bế tắc. Thà rằng cứ để cho thị trường tự điều tiết.
7. Một số nhiệm vụ cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.
Từ nay đến năm 2020, cần hoàn thiện một số thể chế như: Huy động, phân bổ các nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, có chính sách đột phá tháo gỡ vướng mắc, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, hiệu quả quản lý và năng lực kiến tạo của Nhà nước, phương thức lãnh đạo của Đảng, kiểm soát quyền lực v.v…
Phải chăng đây chỉ là thu gọn một số nội dung các mục 2; 3; 4; 5; 6? Theo tôi cái cần nhất là tổ chức các cuộc đối thoại để làm rõ khái niệm KTTTĐHXHCN, là xử lý xong các cơ sở kinh tế làm ăn thua lỗ, là làm trong sạch môi trường chứ không nên quá tập trung vào công việc văn bản.

F. Quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp củ NQ 10, 12

Bài viết đã khá dài, tôi xin để các vấn đề này lại trong một bài khác tiếp theo.

G. Kết luận

Cũng giống như nhiều NQ khác của Đảng, 3 NQ vừa nêu được viết khá dài dòng, thể hiện trình độ yếu kém, không biết là của người soạn thảo hay của người chỉ đạo. Đó là nhìn về phương diện hình thức. Còn về nội dung? Trên đây chỉ mới phân tích sơ qua NQ số 11, thấy rằng phần lớn nội dung chỉ là sản phẩm của tư duy bàn giấy, mà lại là những tư duy lỗi thời, sáo vẹt, chủ yếu là sao chép qua lại giữa các văn bản. Có lẽ Đảng đã quá quen với cách làm việc phải dựa vào NQ, không có NQ thì không thể làm gì, không biết làm như thế nào. Vì vậy để làm việc gì cũng phải có NQ. Mà những người chuyên soạn thảo NQ đã quá quen với các lối mòn, không có được tư duy sáng tạo. Người ta nói vui rằng, nếu thế giới mở cuộc thi hoặc tìm kỷ lục về viết NQ thì VN chắc chắn đạt giải nhất về mặt số lượng, còn về chất lượng sẽ bị loại ngay từ vòng sơ tuyển.
Hội đồng lý luận (HĐLL) nên tìm cho ra người đầu tiên nghiên cứu, đưa ra khái niệm KTTTĐHXHCN để cùng nhau viết ra một quyển sách, có cơ sở lý thuyết, có thực tế minh họa, có định nghĩa rõ ràng, có quy luật chi phối, có các quan hệ, các ảnh hưởng, cách vận hành v.v… Đó là nói khi HĐLL có đủ niềm tin. Nếu như thế thì không những viết thành sách mà còn lập thành lý thuyết kinh tế để đóng góp vào kho tàng lý luận của thế giới. Trước đây lý thuyết “Làm chủ tập thể” đã bỏ lỡ mất dịp tốt đưa ra để thế giới tham khảo và đánh giá. Nhưng nếu như HĐLL còn chưa đủ lòng tin vào KTTTĐHXHCN thì xin tạm cắt cái đuôi cho nhẹ nhàng.
Ở đâu ra cái đuôi ghép vào “kinh tế thị trường”? Vào ngày 22/1/2017 tôi có viết bài “Sự tích cái đuôi định hướng”, cung cấp một số thông tin. Nếu HĐLL tìm ra được nguồn khác chính xác hơn thì cũng nên công bố để mọi người biết gốc gác của khái niệm KTTTĐHXHCN chứ nó không tự trên trời rơi xuống hoặc từ dưới đất mọc lên.
Dự đoán rằng, sau khi tuyên truyền rầm rộ trên các phương tiện thông tin của Đảng, sau khi bỏ nhiều công sức để học tập một cách loa qua thì rồi vì những việc khác quan trọng và cấp thiết hơn lôi kéo mà các NQ sẽ trôi vào quên lãng, để cho thị trường tự điều chỉnh như không có NQ nào chi phối.Nguyễn Đình Cống

Từ nhóm lợi ích du lịch

Con người có nhu cầu khám phá và soi mình vào cái đẹp. Cái đẹp ở những kì quan. Kì quan của thiên nhiên và kì quan do con người tạo ra. Cái đẹp ở những nền văn hóa của loài người và những nét văn hóa của cuộc sống. Vì vậy con người đã rời bỏ nếp sống yên ổn, đầy đủ, nề nếp và cũng nhàm chán hàng ngày, khoác ba lô lên đường đến những miền đất lạ. Những chuyến đi đó được gọi là du lịch.
Làm du lịch là đáp ứng nhu cầu được khám phá, được soi mình vào cái đẹp của khách du lịch. Khám phá sự phong phú, đa dạng, độc đáo của thiên nhiên, khám phá tài năng sáng tạo của con người ở những miền đất lạ và khám phá bản sắc văn hóa của những cộng đồng dân cư sống trên những miền đất lạ đó.
Người làm du lịch đích thực phải biết phát hiện ra những nét đẹp, nét độc đáo, riêng biệt của thiên nhiên từng vùng miền, giữ gìn, bảo tồn và chỉ có thể tôn tạo, làm nổi bật, làm phong phú thêm nét độc đáo của thiên nhiên. Không được phép can thiệp thô bạo, xâm hại, phá vỡ nét đẹp, nét độc đáo của tự nhiên. Càng không được phép thay thiên nhiên thứ nhất thăm thẳm kì vĩ do tự nhiên sáng tạo ra bằng thiên nhiên thứ hai trần trụi ô trọc do thẩm mĩ thô thiển và lợi ích cục bộ của con người thế vào làm thương tổn và hủy hoại tự nhiên.

Vẻ đẹp lộng lẫy của thiên nhiên vịnh Hạ Long, Quảng Ninh. Vẻ đẹp kì vĩ, thăm thẳm, huyền bí của động Sơn Đoòng, Quảng Bình. Vẻ đẹp vừa hùng vĩ tráng lệ với núi cao biển rộng, với non xanh nước biếc, vừa kín đáo sâu thẳm với màn sương bảng lảng, quấn quít trong rừng ngàn tuổi, với đàn voọc hoang dã như từ ngàn xưa lạc đến hôm nay thoắt ẩn thoắt hiện giữa ngàn xanh Sơn Trà, ngay sát cạnh thành phố trẻ trung Đà Nẵng… Đó là tài sản, là vốn liếng vô giá, là giá trị vĩnh hằng, là sức sống bền vững của du lịch Việt Nam.
Với bản qui hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, Tổng cục Du lịch của nhà nước cộng sản Việt Nam đang âm thầm nhưng hối hả phá rừng, bạt núi, đào hố đổ bê tông xây dựng bốn mươi biệt thự du lịch nghênh ngang ở bán đảo Sơn Trà. Bê tông hóa bán đảo Sơn Trà, những đầu óc tối tăm và tham lam đang hăm hở thực hiện một tội ác với non sông đất nước Việt Nam, với hôm nay và muôn đời con cháu người Việt ngày mai: tàn phá thiên nhiên đất nước. Tàn phá thiên nhiên để làm du lịch là bằng chứng về sự ngu dốt, phản du lịch, phản văn hóa của quan chức quản lí nhà nước về du lịch.
Bốn mươi biệt thự du lịch đang nghênh ngang mọc lên nơi non xanh nước biếc Sơn Trà còn mang bóng dáng của những nhóm lợi ích du lịch, biến tài sản của đất nước, của nhân dân thành tài sản của riêng nhóm lợi ích du lịch. Như họ đã biến những bãi biển tuyệt đẹp của đất nước, của mọi người dân Việt Nam ở Mỹ Khê, Đà Nẵng, ở Mũi Né, Phan Thiết, ở Phú Quốc, Kiên Giang thành bãi biển của riêng nhóm lợi ích du lịch. Như nhóm lợi ích nhà binh đã biến đất dự trữ của sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Gia Lâm thành sân golf, thành nhà hàng, thành biệt thự cho thuê thu lợi mỗi tháng hàng chục tỉ đồng cho những người mang đất quốc phòng, mang tài sản nhà nước ra kinh doanh kiếm lợi riêng. Vì thế họ quyết bảo vệ cho những biệt thự lô cốt bê tông giữa non xanh nước biếc Sơn Trà như những vị tướng quyết bảo vệ sự tồn tại ngang trái của những sân golf thênh thang trong sân bay Tân Sơn Nhất chật chội, kẹt cứng.
Phá rừng, bạt núi, đào móng, xây biệt thự du lịch ở Sơn Trà cũng giống như san bằng nền động Sơn Đoòng, bạt nhũ đá xây cung điện trong hang động ngàn xưa Sơn Đoòng. Tàn phá được thiên nhiên gấm vóc Sơn Trà, xây được lô cốt biệt thự du lịch Sơn Trà, rồi những cái đầu ngu tối, tham lam lại có quyền lực nhà nước sẽ xây cung điện trong động Sơn Đoòng chỉ là một bước ngắn.
Người làm du lịch chân chính lên tiếng phản bác bản qui hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà, bê tông hóa một vùng non xanh nước biếc, phản bác sự ngu dốt, phản du lịch, phản văn hóa của những quan chức nhà nước làm du lịch liền bị quyền lực nhà nước quản lí du lịch đòi xử lí, dùng quyền lực, dùng mệnh lệnh hành chính trù dập, loại bỏ tiếng nói từ lẽ phải của người làm du lịch chân chính. Đó là sự lộng hành của tăm tối có quyền lực.
Khi những nhóm lợi ích đã liên kết, ăn chia với quyền lực nhà nước, tất yếu sẽ chi phối quyền lực nhà nước, thì sự lộng hành của tăm tối có quyền lực là không giới hạn. Sự lộng hành đó không phải chỉ có ở cơ quan quản lí nhà nước về du lịch. Đã nhiều năm rồi người dân nghèo Việt Nam phải chịu giá xăng cao ngất ngưởng mang lại lợi nhuận khổng lồ cho nhóm lợi ích xăng dầu. Vậy mà quyền lực nhà nước vẫn chằm chặp bảo vệ nhóm lợi ích xăng dầu, vẫn thản nhiên đứng về phía nhóm lợi ích bất lương, vẫn hăm hở, quyết liệt nâng thuế môi trường đánh vào xăng dầu từ 3000 đồng lên 8000 đồng một lít, chồng chất thuế cao, phí nặng lên đầu người dân, vỗ béo nhóm lợi ích xăng dầu làm giầu bằng chính sách giá và thuế của quyền lực nhà nước.
Đất nước đang thoi thóp hấp hối trong sự quản lí của những nhóm lợi ích mà nhóm lợi ích lớn nhất mang tên Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì lợi ích của Đảng Cộng sản, đất nước bị mất lãnh thổ, mất đất biên cương, mất biển, mất đảo, xã hội mất dân chủ và người dân mất quyền làm người, mất quyền công dân.
Người dân không có quyền con người, không có quyền công dân. Đất nước không còn sức mạnh vô tận của dân và xã hội không còn sức đề kháng. Đất nước chìm trong bạo lực và tội ác. Tội ác tàn phá thiên nhiên gấm vóc của dải đất Việt Nam không phải chỉ diễn ra ở Sơn Trà mà đang ào ạt diễn ra trên khắp đất nước thương yêu của chúng ta.Phạm Đình Trọng

No comments:

Post a Comment