Monday, June 12, 2017

Bài viết hay(5044)

Một anh cựu sĩ quan VNCH khuyên tui đừng trách ông Thiệu khi quyết định rút bỏ vùng 1 và 2 đưa đến sụp đổ nhanh chóng cả chế độ và đưa cả miền Nam vào tay VC. Anh nghĩ là tui nên thông cảm cho ông Thiệu khi ông phải làm theo ý của Mỹ sau khi Mỹ đã cắt hết viện trợ và bỏ rơi đồng minh để cho Liên Sô phải đối đầu với TQ và làm tan rã cả hệ thống XHCN; Mỹ nhảy vào thị trường TQ lớn nhất TG để từng bước tư bản hoá xã hội CS này như họ đang làm vơí VC hiện nay chứ không chỉ có đổi VNCH lấy Israel theo ý Henry Kissinger. Cho dù anh lập luận như thế nào, tui vẫn cho rằng nhất định phải đem ông Thiệu ra toà án luận tội và ông phải nhận trách nhiệm cho dù ông đã mất. Rất nhiều người muốn tha thứ và quên đi chuyện ông Thiệu đã làm mất miền Nam, đẩy hàng triệu người vào tù, hay chết oan ức, chưa kể những mất mát cho rất nhiều người. Như vậy công bằng hay không? Ông là Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh mà không hề trách nhiệm gì về những quyết định sai lầm chết người? Chết là hết? Dễ dàng quá!

Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Khuyến nghị chính sách

Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC một cách thiếu nghiên cứu, thiếu thận trọng có thể đẩy những người nông dân ra “bên lề” của công cuộc hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp. Vậy nhà nước nên có những chính sách gì để đảm bảo vai trò chủ thể của người nông dân? Sau kỳ I & kỳ II phân tích toàn diện về tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC trong loạt bài “Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Đôi điều trăn trở”, mời bạn đọc đọc tiếp kỳ cuối “Khuyến nghị chính sách” của tác giả Trần Đức Viên.
Tích tụ ruộng đất ở quy mô lớn mới thực sự là cứu cánh cho nền nông nghiệp đang trì trệ? Nguồn ảnh: TTXVN.
Tích tụ, tập trung đất đai
1. Thực tế cho thấy tình trạng nông nghiệp kém hiệu quả hiện nay ở nước ta xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó do diện tích canh tác nhỏ bé, phân tán nên cần phải tích tụ, tập trung đất đai là một trong những nguyên nhân, nhưng chưa hẳn đã là nguyên nhân mang tính quyết định. Người ta cho rằng, nguyên nhân chính của tình trạng kém hiệu quả hiện nay là do tổ chức nông dân (tổ chức sản xuất) và tổ chức thị trường còn có những yếu kém, thể hiện ở chỗ nông nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi toàn cầu ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, lao động giản đơn, thiếu sự hỗ trợ của công nghiệp, dịch vụ, chế biến, thiếu thương hiệu có uy tín, sản xuất không theo tín hiệu thị trường, không theo quy hoạch, sử dụng vật tư, giống chất lượng kém dẫn đến chất lượng nông sản thấp, năng lực cạnh tranh trên thị trường nông sản quốc tế yếu, quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp còn có những hạn chế dẫn đến tình trạng tàn phá tài nguyên[1], ô nhiễm môi trường ...
Vì vậy, để tái cơ cấu nông nghiệp hiệu quả, cần các giải pháp toàn diện, trong đó giải pháp tích tụ, tập trung đất nông nghiệp[2] phải đi đôi với cải cách mạnh mẽ các điều kiện của sản xuất nông nghiệp như tổ chức tốt thị trường đầu vào, đầu ra, xây dựng và bảo vệ thương hiệu, tăng cường quản lý chất lượng nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng nông nghiệp, tôn trọng qui luật thị trường, để thị trường điều tiết qui mô sản xuất và công nghệ áp dụng với sự định hướng và hỗ trợ của nhà nước… người nông dân đồng thời là doanh nhân trên đồng ruộng của họ, Có như vậy thì nông nghiệp Việt Nam mới có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới.








2. Tích tụ ruộng đất phải tuân theo quy luật thị trường[3], đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng giữa các chủ thể (hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp, ...). Quy luật thị trường sẽ tự nó phân phối nguồn lực đất đai (và các nguồn lực khác như vốn, lao động, và cả công nghệ tương thích nữa) một cách hiệu quả. Chính quyền chỉ nên làm vai trò xúc tác, trung gian hỗ trợ doanh nghiệp (DN) và hộ nông dân trong quá trình thỏa thuận thuê, mua đất. Xu hướng chung là người nông dân không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tâm lý giữ đất vẫn phổ biến bất chấp nguồn thu nhập phi nông nghiệp được đảm bảo. Do đó, vai trò của thị trường thuê đất cần được chú ý để đảm bảo việc tiếp cận đất đai trong quá trình mở rộng sản xuất nông nghiệp. Mạnh dạn thay đổi chính sách, pháp luật nhằm khuyến khích việc chuyển đổi ruộng đất, cho thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp để tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Bỏ thời gian giao đất, nên xem xét giao đất nông nghiệp cho nông dân sử dụng lâu dài như đất ở, qua đó tăng giá trị tài sản cho họ khi góp đất vào DN hay cho DN thuê đất.
3. DN có vai trò đầu tàu trong liên kết giúp người nông dân sản xuất theo chuỗi sản phẩm phù hợp với tín hiệu thị trường cả trong và ngoài nước. DN tích tụ ruộng đất nhưng không làm người nông dân mất kế sinh nhai, giúp người nông dân có cuộc sống tốt hơn khi làm nông nghiệp cùng DN. Lúc đó, nông dân mới có điều kiện tự nguyện nhượng cho DN quyền sử dụng đất hay cho thuê đất dài hạn. DN tự thương thảo với người nông dân theo cơ chế thị trường, tức là gặp nhau giữa “cung và cầu”, chính quyền chỉ đứng ra làm chứng, xác nhận để dân yên tâm hơn. Nhà nước chỉ nên là người tạo ra các “luật chơi” và thực hiện vai trò kiến tạo của mình, chứ không nên tham gia trực tiếp vào “cuộc chơi” kiểu như đứng ra thuê đất của nông dân rồi cho DN thuê lại. Cần xem lại tư cách pháp nhân của chính quyền địa phương khi ký kết hợp đồng thuê đất và cho thuê đất giữa nông dân và DN.








4. Về kiến nghị bỏ hạn điền, cần suy xét cẩn trọng trong việc tích tụ ruộng đất quy mô lớn[4], nên chăng chỉ là nới hạn điền. Kiến nghị bỏ hạn điền  mang lại lợi ích không lớn, không chắc chắn, trong khi rủi ro tiềm ẩn lại khá cao. Hãy thử phân tích một số hệ quả và ích lợi mang lại.
Đã có một số DN tập trung được diện tích đất khá lớn nhưng kinh doanh không thành công, khi giao đất, chính quyền kỳ vọng từ các DN nông nghiệp là họ sẽ đầu tư lớn, đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp, áp dụng giống mới, công nghệ mới, nhờ đó cung cấp khối lượng sản phẩm đạt quy mô xuất khẩu hiệu quả, đồng nhất về kích cỡ, chất lượng, đảm bảo các tiêu chuẩn về thương nhãn, xuất xứ, thương hiệu… Nhưng, để xây dựng thương hiệu, cần một quá trình lâu dài. Quy mô lớn mà không có thương hiệu, không có thị phần ổn định thì rủi ro phá sản khi thị trường giảm giá càng lớn. Mà thị trường nông sản thế giới luôn hoạt động theo chu kỳ tăng, giảm khó đoán định, nhất là với DN Việt Nam, còn rất non trẻ, ít kinh nghiệm trên thương trường quốc tế. Ở khía cạnh này, DN kém “sức sống” hơn hộ gia đình. Bởi vì người nông dân kinh doanh ở quy mô hộ gia đình có khả năng “co giãn” nhu cầu, điều tiết cung cầu để thích ứng với rủi ro thị trường tốt hơn DN. Do đầu tư ít, họ ít chịu áp lực trả nợ ngân hàng; do không phân định rõ tiền lương và lợi nhuận nên hộ nông dân có thể duy trì sản xuất ở mức tiền lương tối thiểu, không có lợi nhuận. Vì thế, nông nghiệp nông hộ sẽ ít chịu hậu quả phá sản khi giá nông sản bước vào chu kỳ giảm so với DN nông nghiệp.
Các rủi ro đem lại tác động tiêu cực của việc bỏ hạn điền có thể là: (i) Sẽ có hiện tượng DN nỗ lực nhận quyền sử dụng đất để đầu cơ, bán lại dự án cho DN khác khiến ruộng đất bị bỏ hoang ở quy mô lớn trong thời gian dài, trong khi dân thiếu đất canh tác dẫn đến hiện tượng lấn chiếm trở lại như từng xảy ra trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ những năm qua; (ii) Người giàu có thể thành lập DN (trá hình) để mua đất nhằm tích trữ của cải một cách an toàn, tránh lạm phát và phá sản của ngân hàng. Do mục tiêu là tích trữ của cải nên họ không chú trọng đầu tư để phát triển nông nghiệp dẫn đến một số diện tích đất không được sử dụng hiệu quả, kích động lại chế độ phát canh thu tô ở quy mô nhỏ; (iii) Hiện tượng cho vay nặng lãi (hoạt động ngầm và thịnh hành ở nhiều nơi, không chỉ ở nông thôn) sẽ hỗ trợ cho những người giàu tích tụ đất đai không nhằm kinh doanh nông nghiệp, đồng thời xuất hiện trở lại nhiều hộ nghèo, vì hoàn cảnh khó khăn phải bán đất. Như vậy, quá trình tích tụ đất tự phát sẽ không còn bị ngăn cản bởi hạn điền (mặc dù hạn điền không thể ngăn chặn hoàn toàn quá trình tích tụ đất phi pháp, nhưng hạn chế động cơ tích tụ đất phi pháp do rủi ro lớn).








Như vậy, việc bỏ hạn điền không hứa hẹn một cách chắc chắn rằng có làn sóng đầu tư lớn của DN, tập đoàn lớn vào kinh doanh nông nghiệp, trong khi đó lại tiềm ẩn các tác động tiêu cực khá lớn. Vì vậy, vấn đề này, cần nghiên cứu thận trọng để nếu cần thiết thì mở rộng thêm hạn điền ở quy mô kinh doanh hiệu quả (nới hạn điền).
5. Nên có chính sách khuyến khích các DN, nhất là các DN có tiềm lực tài chính mạnh, đầu tư vào phát triển công nghiệp chế biến nông sản, phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông sản và tổ chức thị trường nội địa và xuất khẩu (kết nối nông dân Việt Nam với thị trường toàn cầu) hơn là khuyến khích các DN tích tụ ruộng đất để sản xuất qui mô lớn theo mô hình phương Tây như hiện nay. Học viện Nông nghiệp Việt Nam (HVNNVN) đã có bài học về việc này khi tổ chức trồng dứa quy mô lớn ở Quảng Trị: (a) Ruộng đất vẫn của nông dân; (b) DN lo đầu vào (cung cấp giống chuẩn, vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chuẩn với giá bán buôn thấp nhất cho nông dân) và lo bao tiêu toàn bộ sản phẩm với giá cả đã được công bố công khai từ đầu vụ (trước khi trồng), nông dân mang nông sản đến các vị trí tập kết, xe tải của DN đến thu mua và trả tiền mặt cho nông dân tại các điểm tập kết gần ngay đồng ruộng của nông dân, khấu trừ tiền giống và vật tư DN đã ứng trước (không tính lãi); (c) HVNNVN cùng DN lo tập huấn (miễn phí) cho nông dân và cử cán bộ kĩ thuật cùng sinh viên thực tập tốt nghiệp chỉ đạo sản xuất trực tiếp; (d) Chính quyền địa phương làm trọng tài, đồng hành cùng nông dân và DN giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng phát sinh (nếu có), lo xác đinh các vị trí tập kết, lo tổ chức các nhóm hộ nông dân, Hợp tác xã (HTX) sản xuất theo yêu cầu kĩ thuật và công nghệ của DN và của HVNNVN, lo tu sửa đường xá, hệ thống cấp thoát nước phục vụ sản xuất và thu mua nông sản. Khi diện tích trồng dứa của tỉnh vượt quá 2.000hecta, DN sẽ đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến dứa tại chỗ, tỉnh có trách nhiệm tìm đất và tiến hành các thủ tục pháp lý giao đất cho DN xây dựng nhà máy. Như vậy là, DN không trực tiếp sản xuất ra nông sản, chỉ lo “đầu vào” và “đầu ra” của nông sản. Sản xuất trên đồng ruộng là việc của nông dân, tổ chức sản xuất là việc của chính quyền. Tất nhiên là, chính quyền, DN, HVNNVN luôn đồng hành cùng nhau vì lợi ích của DN và của người nông dân. Mô hình này cũng đang được triển khai thành công ở Tây Nguyên.
Với nông dân Việt Nam, trong điều kiện hiện nay, quy mô diện tích bao nhiêu là vừa? chưa ai nghiên cứu kĩ càng vấn đề này cho từng vùng miền, cho từng loại nông sản. Có người cho rằng đất trồng cây hàng năm khoảng 30 hecta, đất vườn trồng cây ăn trái khoảng 100 hecta, đất trồng rừng khoảng 300 hecta là phù hợp, là vừa sức với với trình độ quản lý và công nghệ hiện nay của hộ nông dân.








Nông nghiệp công nghệ cao
1. Cần có chính sách khuyến khích phát triển NNCNC quy mô lớn, tập trung, nhưng cũng phải quan tâm đúng mức, nếu chưa muốn nói là quan tâm hơn, đến sản xuất quy mô nông hộ[5], tổ/nhóm hộ nông dân, HTX. Xin nhắc lại là, sản xuất nông sản hàng hóa ứng dụng CNC quy mô nông hộ[6] rất thành công ở Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Hà Lan và thậm chí là ở ngay Hoa Kỳ, đất nước với những cánh đồng nhìn hút tầm mắt. Cần phân định rõ và tôn trọng cả hai hình thức: NNCNC và ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp. NNCNC hay ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp thì cũng phải hướng tới nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn, thân thiện với môi trường, tạo tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp.
Thận trọng trong việc nhập khẩu nguyên xi công nghệ tiên tiến "nhất thế giới" của các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính mạnh và quan hệ xã hội rộng. Điều đó đóng góp không đáng kể cho việc tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia, buộc chúng ta phải lệ thuộc vào công nghệ, giống, vật tư của nước ngoài. Cần cân nhắc được-mất giữa nhập khẩu lương thực, thực phẩm sang nhập khẩu giống, vật tư, công nghệ; chưa ai đo đếm xem “đắt, rẻ” thế nào giữa hai hình thức nhập khẩu này.
2. Nông dân vẫn phải là chủ thể của ruộng đồng, muốn vậy, bằng một cách nào đó, họ phải được tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình vận hành và hoạt động của các khu NNCNC, không thể để nông dân bị đẩy ra "bên lề" của công cuộc phát triển NNCNC. Việc các DN thâu tóm diện tích quy mô lớn (kiểu AgroHolding của Ukraina), đẩy nông dân ra khỏi đồng ruộng của họ tiềm ẩn nhiều rủi ro và hậu họa khó lường trước, ví dụ khi DN bị thua lỗ, ai sẽ tạo sinh kế mới cho nông dân; và khi ấy DN có thể dùng con bài “nông dân” để mặc cả với chính quyền. Nhờ tham gia vào các hoạt động này, họ và con cháu họ học hỏi được kinh nghiệm quản lý và vận hành DN nông nghiệp, hiểu biết về các công nghệ phù hợp; từ đó hình thành tầng lớp nông dân mới, có tri thức, làm chủ công nghệ và biết quản lý, điều hành DN nông nghiệp, làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn, xác lập vị thế mới của nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
*** Những vấn đề trên cần có các nghiên cứu độc lập và tương đối toàn diện về tác động/hiệu quả của việc tích tụ ruộng đất, nới hạn điền, NNCNC đến phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường nói chung, đến phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới nói riêng, nhất là tác động đến sinh kế của người dân (ngắn hạn và dài hạn).
Có thể học tập mô hình "Ngân hàng đất nông nghiệp" với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển thế hệ các nông dân trẻ có tri thức như Pháp, Hàn Quốc và Nhật Bản. Ở đó, họ thành lập các công ty (ngân hàng) thu mua đất của nông dân theo giá thị trường, nếu như nông dân không có nhu cầu sử dụng đất để canh tác, và nông dân chỉ có thể mua bán đất hay gửi đất vào các ngân hàng đất này. Ai muốn sử dụng đất để canh tác (trồng trọt, chăn nuôi) thì phải có đề án khả thi, có bằng tốt nghiệp thấp nhất là Trung cấp nông nghiệp, sẽ được các Ngân hàng đất này cho thuê lại, và được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.Trần Đức Viên
Chú thích
[1] Theo Quỹ Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Việt Nam đã đánh mất 43% lượng rừng che phủ từ năm 1973 đến năm 2009.
[2] Ông Sergut Zorya, chuyên gia về nông nghiệp của WorldBank nhận xét: “Bên cạnh những tác động khách quan ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng nông nghiệp như hạn hán, xâm nhập mặn… thì nông nghiệp Việt Nam đang đối diện với những thách thức nội tại như cơ chế chính sách đất đai, trình độ sản xuất và thương hiệu. Đã vậy, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng. Xuất khẩu tiếp tục khó khăn cả về lượng lẫn về giá. Gạo Thái Lan có thể bán với giá 800 USD/tấn trong khi gạo xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 400 USD/tấn”.
[3] Theo một số ghi nhận, thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hoạt động rất yếu, thậm chí có xu hướng giảm. Trong số đất nông nghiệp đã chuyển nhượng thì 29% chuyển nhượng trước 1994, 41% chuyển nhượng trong giai đoạn 1994 - 2003, 30% chuyển nhượng trong giai đoạn từ 2004 đến nay. Mặt khác, thị trường cho thuê đất còn kém hơn rất nhiều so với thị trường chuyển nhượng đất nông nghiệp.
[4] Có người cảnh giác: Chủ trương tích tụ ruộng đất có đi ngược lại mục đích của cuộc cải cách ruộng đất cách đây hơn 60 năm không? Nếu vậy thì mục tiêu cách mạng đã thay đổi? Đâu là cơ sở lý luận cho vấn đề này? Tích tụ ruộng rất có mâu thuẫn gì với mục tiêu của phát triển nông nghiệp bền vững (tăng trưởng kinh tế, cộng đồng thịnh vượng, bảo vệ môi trường)? Đặc biệt là với sinh kế của đại đa số nông dân trong điều kiện hiện nay khi công nghiệp và dich vụ chưa thể hấp thụ hết lao động dư thừa do “mất đất” ở nông thôn? Liệu cộng đồng nông thôn có thịnh vượng được không hay sẽ gây bất ổn về xã hội?
[5] Chính những hộ nông dân này (nông trại quy mô vừa và nhỏ) là những người đã làm nên kỳ tích của nông nghiệp VN thời gian qua, họ cũng cần được đối xử bình đẳng như DN. DN được thuê đất, mua đất, vay vốn để xây dựng NNCNC thì họ cũng có quyền được thuê đất, mua đất, vay vốn để ứng dụng CNC vào nông nghiệp. Nông dân với 1,5 hecta đất nông nghiệp nếu đem thể chấp ngân hàng chỉ được vay 200-300 triệu đồng, không bằng một chủ sở hữu một ngôi nhà 40m2 có thể thế chấp vay được 3-5 tỷ đồng! Cách làm này, vô hình trung đã hỗ trợ cho người giàu, làm gia tăng khoảng cách giàu-nghèo, gia tăng mâu thuẫn và các bất ổn xã hội.
[6] Trên thực tế, không ít nông hộ đã ứng dụng CNC vào sản xuất. Đa số các nông trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ của hộ nông dân đều nuôi lợn lai, hoặc lợn siêu nạc có giống gốc từ các "cường quốc" chăn nuôi châu Âu như Bỉ, Đan Mạch.., Bò giống từ Úc, Bỉ, Hà Lan... nuôi theo quy trình chăm sóc nghiêm ngặt, giám sát thú y chặt chẽ, thức ăn chế biến sẵn theo quy chuẩn, v.v... Thế đã đủ để được gọi là CNC chưa?
-------------
Tài liệu tham khảo chính
1. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai - Lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2013.
2. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Hà Nội 2013.
3. Nông nghiệp Việt Nam đứng trước ngã ba đường, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nong-nghiep-viet-nam-dang-dung-truoc-nga-ba-duong-20161030064014869.htm.
4. Luật đất đai 2013, NXB Chính trị Quốc gia, 2013
5. Nguyễn Ðình Bồng (2013). Chính sách tích tụ ruộng đất nhìn từ thực tiễn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Cộng sản. 847 (5-2013). tr. 54-58
6. Nguyễn Cúc và Hoàng Văn Hoan (2010). Chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong điều kiện thực hiện các cam kết của WTO. NXB Khoa học kỹ thuật. tr 98-209
7. Nguyễn Đình Bồng, Tạ Hữu Nghĩa (2010), “Phân tích, đánh giá vai trò quản lý Nhà nước tác động đến tích tụ ruộng đất”, Cục chính sách  hợp tác và phát triển nông thôn Bộ Nông nghiệp.
8. Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
9. Tích tụ ruộng đất: Giải pháp thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, http://baoninhbinh.org.vn/tich-tu-ruong-dat-giai-phap-thyc-hien-tai-co-cau-nong-nghiep-2016121308363601p2c21.htm
10. Báo cáo số 13-BC/NN-NT ngày 25 tháng 11 năm 2016 của Vụ Nông nghiệp-Nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương, 2016.
11. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016, Báo cáo về tình hình tích tụ, tập trung đất đai của một số địa phương thuộc khu vực phía Bắc, 2016
12. Dương Đình Tường, 2009. Nông nghiệp công nghệ cao: Nặng trình diễn, nhẹ hiệu quả, http://nongnghiep.vn/nong-nghiep-cong-nghe-cao-nang-trinh-dien-nhe-hieu-qua-post36762.html
13. Đỗ Kim Chung, Nguyễn Văn Song, Trần Đình Thao, Trần Hữu Cường, Nguyễn Việt Long, Trần Thanh Phương, Nguyễn Xuân Trạch, 2017. Tích tụ đất đai và hạn điền; Trao đổi cá nhân
Phát triển kinh tế nông nghiệp: Tích tụ ruộng đất không phải là yếu tố quyết định
Gần đây, có nhiều kiến nghị về chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững của nông nghiệp Việt Nam. Tôi cho rằng, không hoàn toàn như vậy. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất – hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác.

Tập đoàn Lộc Trời là đơn vị đã triển khai tiêu chuẩn Sản xuất lúa gạo bền vững (Sustainable Rice Platform-SRP) với các tiêu chí đảm bảo sức khỏe, an toàn thực phẩm, môi trường… cho tới các yếu tố bình đẳng như nữ quyền, quyền trẻ em. Nguồn ảnh: TBKTSG.

Vài năm gần đây, những mô hình sản xuất lớn như “Cánh đồng (lúa) mẫu lớn” do tập đoàn Lộc Trời hợp tác với nông dân, làm lúa giống kết hợp trồng cỏ nuôi bò trên quy mô lớn của ông Sáu Đức, nuôi heo theo mô hình hiện đại của ông Huỳnh Chánh Huy ở An Giang… hay những chủ trang trại nuôi cá tra với sản lượng hàng ngàn, thậm chí cả vạn tấn/năm/hộ đang xuất hiện nhiều hơn. Các doanh nghiệp này có mô hình khép kín, tự cung cấp từ con giống, thức ăn, tự nuôi thương phẩm và được ưu đãi hoàn thuế VAT. Tuy nhiên, nhiều hộ sản xuất và cả các doanh nghiệp có qui mô lớn đó... lại đang rất “bí” đầu ra, đang chờ... khó khăn mới.

Hiện nay, hầu như không có doanh nghiệp nào kêu bí “hạn điền” cả. Mặc dù về lâu dài, cũng có tâm lý chưa an tâm về “quyền tài sản” đối với đất, nhưng trước mắt Điều 129 và 130 Luật đất đai 2013 đã cho phép sang nhượng, nhận quyền sử dụng đất cao hơn 10 lần hạn điền cũ, tức là tối đa 30 ha đất sản xuất cây hằng năm, 100 ha đất cây ăn quả và 300 ha đất trồng rừng. Thiết nghĩ, một hộ sản xuất lớn sở hữu quy mô chừng đó là cũng có phần quá sức so với thực tế; còn nếu muốn sản xuất ở quy mô lớn hơn thì các hộ sản xuất phải đăng ký thành doanh nghiệp, lúc đó thì đâu có hạn điền nào bó buộc. Vì vậy việc nông sản các nước ồ ạt vào Việt Nam, thị trường nông sản của Việt Nam ở các nước khác đang bị teo tóp hoặc bị mất chủ yếu do thiếu chữ tín, chất lượng hàng hóa không ổn định và thường là thấp kém… chứ không thể “đổ tội” cho hạn điền. Thậm chí, sản xuất lớn, đưa sản lượng tăng vọt mà sản phẩm chưa khẳng định được chỗ đứng trên thị trường mới càng khiến giá rơi thảm hại, người sản xuất lao đao. Bài học gạo, cá… và mới đây là chuối, heo cho thấy rõ điều này.

Theo tôi thì cái “bí” của sản xuất nông nghiệp vừa qua và hiện nay nằm ở tầm vĩ mô thuộc quản lý Nhà nước đã không bảo đảm các cân đối lớn chủ yếu về sản xuất – thị trường, sự an lòng của người dân về quyền tài sản đối với đất đai; và, về một nền giáo dục phổ thông lành mạnh – vì con người – do con người chưa được đáp ứng vv...

Trong bài trả lời phỏng vấn trên báo An Ninh điện tử ngày 10/5/2017, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PT Nông thôn Lê Huy Ngọ kể: Khi nông dân hỏi Bộ trưởng là nên nuôi trồng cây con gì thì ông trả lời: “Ra chợ hỏi”. Ông lấy ví dụ những chủ trang trại ở Mexico phải bỏ hoang hàng vạn ha đất vì chưa ký được hợp đồng tiêu thụ sản phẩm dẫn chứng về việc là sản xuất phải xuất phát từ thị trường chớ không phải từ Nghị quyết, kế hoạch trong phòng họp. Tôi cũng có thông tin rất mới về “Tích tụ đất ở tỉnh Thái Bình” qua lá thư của ông bạn tôi (A) nhận ngày 12/5/2017 như sau:

“Kính gửi: Anh (A).

Tôi đang ở Thái bình (cũng là quê của Anh), tiếp xúc với người nhà và được biết tình hình chính quyền thuê đất của dân như sau:

1. Lựa chọn vùng bờ xôi ruộng mật, gần đường và đất tốt để quy hoạch mời doanh nghiệp vào. Vùng xa, đi lại khó khăn và đất xấu thì không quy hoạch và không thuê.

2. Đất được thuê với giá 140 kg thóc/sào /năm nhưng chi trả bằng giá thóc nhà nước tính thuế (470.000-480.000 đồng/tạ) trong khi giá thị trường là 800.000 đồng/tạ và chi trả từ hai đến năm năm một lần.

3. Trên 95% nông dân không đồng tình cho thuê đất vì các lý do sau: (1) giá thấp gần như chỉ bằng 50% giá thị trường, nên nông dân cho rằng sẽ không đủ tiền để mua thóc cho an ninh lương thực của gia đình; (2) đưa đất cho doanh nghiệp thì mình lấy gì làm kế sinh nhai, tiền sẽ tiêu hết nhưng đất vẫn có thể tạo ra thu nhập. Doanh nghiệp chỉ thuê lao động trẻ 18 – 35 tuổi trong khi trên 70% lao động đang làm việc ở quê là lao động già và không có doanh nghiệp nào thuê, hiện có một lực lượng lao động trên 35 tuổi đang bị “thải” về và quay trở lại làm nông nghiệp; (3) Mức thuê 140 kg thóc/ sào/ năm lúc này có vẻ hợp lý, nhưng 5-10 năm nữa có sự thay đổi về công nghệ thì mức đó sẽ bị thấp, (4) Diện tích thuê chỉ tính ruộng mà không tính bờ nên diện tích bờ sẽ được chính quyền tính riêng với doanh nghiệp.

Chỉ có khoảng 2-3% hộ đồng ý vì không làm ruộng và bỏ hoang vì nhiều lý do.

Vì thế ở quê tôi, xã Phúc thành, huyện Vũ thư thì dân không đồng ý.

Kính thư!
Giáo sư  Đ K C”


Vì vậy, làm nông nghiệp bây giờ là phải: chuyển từ số lượng - diện tích, năng suất, sản lượng sang chất lượng - ngon, bổ, sạch, đẹp, cung cấp ổn định; từ cao trào - phong trào dịu xuống còn bình thường và ổn định; tránh tình trạng “dư cung” trong sản xuất và phải biết tạo ra sự khác biệt. Khác biệt chính là sự hấp dẫn cho thị trường. Đó là quan điểm chỉ đạo nhưng chính quyền, đoàn thể không triển khai, tuyên truyền như xưa nay mà hãy để cho doanh nhân và nông dân làm việc cùng nhau. Chính quyền hãy trở về vai trọng tài và chế tài mà từ lâu quên lãng. Các đoàn thể chính trị trở về với công việc của hội đoàn của mình. Các cấp ủy Đảng với vai trò lãnh đạo kịp thời điều chỉnh, điều chuyển những cán bộ không thích hợp. Nếu cả hệ thống chính trị cùng quan tâm thì sẽ đi vào vết xe “huy động sức mạnh tổng hợp đẩy mạnh phong trào sản xuất” như lâu nay.

Kiến nghị

- Không thay đổi hạn điền, giữ như Luật Đất đai năm 2013 (điều 129, 130) nhưng thời hạn sử dụng đất được giao nên thay đổi. Bởi vì, tại sao thời hạn chỉ là 50 năm? Điều này đã gây lo lắng, hoài nghi trong dân nhưng không ai nói ra. Đó cũng có thể là nguyên nhân sâu xa vì sao dân không mạnh dạn, hứng thú đầu tư vào nông nghiệp như chính phủ kỳ vọng! Đề nghị đất trong hạn điền không ghi thời hạn sử dụng, không thu thuế trực canh hoặc thuế cho thuê lại; không dùng khái niệm “thu hồi đất” mà dùng từ “mua lại”, “trưng mua”, “trưng dụng có thời hạn”, “trưng thu”… Hạn điền là “chiếc giày” do chế độ này đóng cho nông dân đó, đừng tháo nó ra!

- Nên có văn bản quy định rõ việc doanh nghiệp muốn sản xuất lớn ở quy mô nông trại, đồn điền với hàng ngàn ha, ngoài điều 129, 130 Luật Đất đai 2013 thì không hạn chế, doanh nghiệp chỉ cần lập dự án, có phương án và được cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu thuê lại đất công thì ký trực tiếp với chính quyền thuê đất; nếu thuê/ mua lại của dân thì do doanh nghiệp và nông dân tự thỏa thuận, chính quyền chỉ làm trung gian, hòa giải. Nếu chính quyền thay doanh nghiệp thỏa thuận và ký với nông dân hoặc ngược lại là tạo sơ hở cho tham nhũng như cách làm nôn nóng vừa qua thì sẽ làm mất lòng dân, xã hội không ổn định. Cần chú ý nói rõ: Doanh nghiệp có dự án phải sản xuất, kinh doanh đúng mục đích của dự án, nếu chuyển mục đích dự án phải có điều kiện ràng buộc hoặc chế tài nghiêm khắc. Chống đầu cơ đất, “ghim đất” giữ giá, “phát canh thu tô” trá hình. Có quy định thuế lũy tiến với đất cho thuê vượt hạn điền (3ha, 10 ha, 30 ha… theo từng loại đất).

- Cần bổ sung quy định “đa sở hữu”, thừa nhận quyền tài sản cá nhân về đất nằm trong sở hữu toàn dân. Trong sở hữu toàn dân có phần sở hữu do chính quyền trực tiếp quản lý chứ không đồng nghĩa hai chủ thể (Toàn dân – Nhà nước với Chính quyền) là một. Có chế tài nghiêm trị bất cứ ai vi phạm quy định thu hồi đất trái luật như vừa qua.

- Mở rộng quy mô đất đai, thay đổi phương thức canh tác, thị trường... nhưng trên hết là cơ chế-thể chế quản lý kinh tế-xã hội phải đồng thời, đồng bộ. Nếu đất sản xuất rộng, thị trường hẹp ắt sẽ sinh phương thức phát canh thu tô, nếu mọi thứ đều ổn mà lòng người chưa yên thì sản xuất cũng không bền vững. Cần cảnh giác sự biến thái của thị trường đất do “nhóm lợi ích” chi phối, sinh ra tư bản hoang dã mà “nới hạn điền” cũng là một cơ hội lớn cho các nhóm lợi ích!

- Nhà nước “làm thị trường” theo kiểu nhà nước – bằng kinh tế đối ngoại, làm trọng tài và có chế tài luật pháp, đặc biệt là phải bảo vệ chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường, chống cạnh tranh không lành mạnh. Còn các đơn vị sản xuất kinh doanh phải “tự lực”, như doanh nhân tự phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu; tiểu thương biết bán lẻ đến từng hộ gia đình; nông dân phải biết sản xuất ra con gà, hạt gạo... sạch, ngon và tìm nơi bán... chứ không thể cứ kêu Nhà nước “cứu” như đã quen được bảo hộ trong thời bao cấp.
- Cuối cùng là niềm tin xã hội đang bị tổn thương, nếu không nói là bị mất quá nhiều với khẩu ngữ: “Nói vậy không phải vậy”,“Thấy vậy không phải vậy” đang phổ biến. Ta không tin thực phẩm ta sạch thì ai tin? Và làm sao cho ta tin ? Có lần PGS VTK thốt lên: “Sản phẩm nông nghiệp của ta bẩn như thế chỉ có bán cho Trung Quốc”. Nhưng nay thì ngược lại rồi, họ bán thực phẩm của họ mà dán nhãn Việt Nam, đúng là “quả báo một giây nhãn tiền”! Còn với cung cách làm ăn kiểu “ăn xổi ở thì” của ta thì khách hàng nào thành khách hàng “truyền thống” với ta? - Nguyễn Minh Nhị(nguyên là Chủ tịch tỉnh An Giang)

Những thế giới song song và Cách mạng Công nghiệp 4.0

Chúng ta sống trong những thế giới tồn tại song song. Vốn luôn là như vậy. Nhưng gần đây có chút thay đổi: những thế giới song song này bỗng gặp gỡ nhau.
Người công nhân này dùng phễu nhôm để hứng chiếc đinh nóng đỏ do đồng nghiệp của anh tung cho, rồi đưa vào đóng xuống đúng vị trí trong khi tham gia bảo dưỡng cầu Long Biên năm 2015 - các công nghệ tân tiến vẫn chưa hề chạm đến thế giới của họ. Ảnh: dantri.com.vn

John Doe là một nông dân ở Nebraska (Mỹ). Ông trồng ngô. Ông đồng thời cũng là một cư dân mạng. Công việc canh tác ngày nay phần lớn được tự động hóa nên John có rất nhiều thời gian rảnh để chơi game online. Ông gia nhập một mạng lưới người chơi trên toàn nước Mỹ. John chơi rất giỏi những game nhập vai siêu anh hùng kiểu như Iron Man hay Spiderman, tham gia vào những trận đánh trên các thiên hà xa xôi. Captain America là vai ưa thích của ông. Giả thử Captain America có tham gia tranh cử ở Mỹ thì hẳn là John đã bầu cho chàng ta một phiếu. Nhưng Captain America không tranh cử, nên John quyết định bầu cho Donald Trump. Ông không hối tiếc điều này bởi giờ đây ông có thể hằng ngày đọc những dòng tweet từ Trump với nội dung đơn giản mà ông có thể hiểu, ví dụ: Obama thật ti tiện khi nghe trộm điện thoại của tôi […] ông ta thật xấu xa [hoặc bệnh hoạn]! John Doe thực sự vui thích lên mạng vì những chuyện như vậy.

Người ta nói rằng các đường song song không bao giờ giao cắt, nhưng các thế giới song song đôi lúc vẫn gặp nhau một cách hiếm hoi và ngắn ngủi, chỉ đủ để trao nhau một cái bắt tay hay một nụ cười. Một thế giới của người giàu và một thế giới của người nghèo. Gần đây, nhà kinh tế người Pháp, Thomas Piketty, xuất bản một cuốn best-seller, Tư bản trong thế kỷ 21, trong đó ông dùng toán học để chỉ ra khoảng cách giữa hai thế giới ngày càng gia tăng sâu sắc. Nhưng chẳng cần đến những con số minh họa thì từ lâu chúng ta đã biết điều này. Trong nửa sau thế kỷ 19, một triết gia người Đức từng viết một cuốn sách về cùng chủ đề, đó cũng là một best-seller. Ông nổi tiếng với lời kêu gọi công nhân trên toàn thế giới đoàn kết lại. Các bạn chẳng có gì để mất ngoài những xiềng xích, ông bảo họ. Tuy nhiên, những người công nhân Pháp và công nhân Đức sống trong những thế giới song song, mỗi bên tin rằng thế giới bên mình là tốt, bên kia là xấu. Vài thập kỷ sau, họ ném bom vào nhau, giành giật nhau từng tấc đất chiến hào lầy lội, và kết quả là gần hai mươi triệu người chết, một nửa là dân thường, một nửa là quân nhân.

Trái ngược với thế giới của người nghèo, thế giới của người giàu không hề chia cắt thành những không gian song song phân định bởi ranh giới các quốc gia. Đó là thế giới của toàn cầu hóa, những tập đoàn đa quốc gia. 54 người giàu nhất nắm trong tay 1,4 nghìn tỷ USD, bằng tổng của cải của một nửa dân số thế giới, những người nghèo ở tầng lớp dưới.

Gần hai năm trước, cầu Long Biên được bảo dưỡng. Nhiều đinh ốc rỉ sét được thay thế. Phải nói rằng những người công nhân thực hiện công việc này là những nghệ sỹ xiếc; một đoạn phim chiếu trên internet1 cho thấy họ khéo léo thế nào, một người tung những chiếc đinh nóng đỏ, một người khác dùng phễu nhôm để hứng lấy từ xa rồi đưa vào đóng xuống đúng vị trí. Tôi đã chiếu đoạn phim này tại một tọa đàm bàn tròn về an toàn hạt nhân trong một hội thảo ở Đà Nẵng mà tôi được mời. Những người công nhân trên cầu Long Biên và những đại biểu họp tại Đà Nẵng sống trong những thế giới giao cắt nhau, điểm giao cắt chính là khi các vị quan khách đại biểu được xem đoạn phim nói trên; tuy nhiên thế giới của họ vẫn là những thế giới song song, bởi đoạn phim mà tôi cho trình chiếu tại hội thảo không hề mang lại thay đổi gì cho những người công nhân cũng như chẳng ảnh hưởng gì tới các vị đại biểu.

Sống trong cùng thế giới của những người công nhân làm việc trên cầu Long Biên là rất nhiều những người công nhân Việt Nam khác mà tôi được thấy. Những người phụ nữ cắt cỏ trên dải phân cách đường Hoàng Quốc Việt, ngay trước mặt viện nghiên cứu nơi tôi làm việc, ít năm trước họ còn dùng kéo, nay họ cải tiến hơn: sử dụng liềm. Những phụ nữ đẩy những chiếc xe rác đầy ứ qua các ngõ ngách, dùng hai thanh sắt gõ vào nhau để báo hiệu cho cư dân về sự có mặt của mình. Và những người gác thanh chắn đường tàu đoạn đi qua Điện Biên Phủ. Các công nghệ tân tiến vẫn chưa hề chạm đến thế giới của họ, ngoại trừ việc mỗi người đều sở hữu một chiếc điện thoại di động để tự chụp selfies hay chụp ảnh con cháu mình và chia sẻ trên Facebook. Họ cũng là những cư dân mạng.

Gần đây, thế giới của người giàu bị xâm lấn bởi những phần tử lạ. Đó không phải là người thực như bạn và tôi mà là những robot được lập trình bởi những công ty đa quốc gia, như Siemens, Google hay Samsung. Các chuyên gia nói về Dữ liệu lớn, Điện toán đám mây, Internet của vạn vật, hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, và họ viết tắt là IoT và Công nghiệp 4.0. Họ rất thích nói tắt, nào là mạng 5G, in 3D, rồi CPS (viết tắt của Cyber-Physical Systems). Họ vẽ ra một viễn cảnh tương lai theo kiểu tiểu thuyết Aldous Huxley: robot tự học hỏi, máy móc tự tái định dạng, môi trường nhận dạng thông minh, phần cứng kèm cảm ứng nối mạng, và toàn bộ Trái đất biến thành một bộ não khổng lồ.

Với bạn và tôi, đây dường như là những khái niệm đến từ hành tinh khác; nhưng may mắn là một số người hiểu được và lý giải chúng theo cách chúng ta tiếp thu được; ví dụ khi ông Chủ tịch Hiệp hội Internet Việt Nam trả lời phỏng vấn báo Hải quan2bản chất của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là việc tạo ra các hệ thống ảo được thiết lập từ môi trường thông tin, giúp kết nối và tương tác giữa con người, máy móc và thế giới thực thông qua cả năm giác quan. Điển hình nhất cho sự liên kết thực và ảo hiện nay là sự ra đời IoT (Internet of Things – Internet kết nối vạn vật). Có thể lấy ví dụ về trò chơi Pokemon Go được phát triển gần đây, thế giới trong game là thế giới ảo nhưng đã có sự tương tác với con người, nếu được phát triển thành những mối quan hệ thông minh hơn, có độ tương tác mạnh hơn như hiểu được cảm xúc con người… thì sẽ càng tác động lớn đến đời sống xã hội.

Tôi không biết nhiều về Pokemon, ngoài từng nghe các cháu mình hồi bé có nhắc đến tên nhân vật hoạt hình này, và tôi phải thừa nhận là mình đã quá già để có thể hiểu vì sao nó có thể tác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội… Trong một bài phỏng vấn khác, chủ tịch Express/Asia-Pacific giải đáp mối lo ngại của tôi rằng Công nghiệp 4.0 sẽ chỉ làm lợi cho những tập đoàn đa quốc gia: không hề nhé, bà ta khẳng định, Markor, công ty bán lẻ đồ nội thất Trung Quốc, nhận ra họ có thể đổi mới chuỗi cung ứng của mình để nhận diện các xu hướng trong hành vi người tiêu dùng. Công ty tạo ra một ứng dụng trên điện thoại di động, dùng dữ liệu lớn để nhận biết các xu hướng này, từ đó đưa ra những gợi ý phù hợp cho khách hàng về kiểu dáng sản phẩm. Sử dụng các thiết bị di động, nhân viên bán hàng có thể cho khách xem trước các bản demo sản phẩm và hình ảnh 3D của đồ nội thất được tùy chỉnh theo ý khách. Khi việc mua bán thành công, sở thích của khách và các chi tiết giao dịch được tự động lưu trữ và công ty dùng những thông tin này để định hướng cho hoạt động kinh doanh tiếp theo. Bạn nghe có tuyệt vời không? Chẳng phải tôi đã nói rồi sao, đúng kiểu Aldous Huxley.

Hẳn là tôi cần bỏ nhiều công sức hơn để có thể hiểu đầy đủ về tất cả những điều này. Tuy nhiên, [không quá khó để thấy rằng] xe tự lái sẽ chẳng giúp ích gì cho người Hà Nội khi mỗi ngày đều đối diện với nạn kẹt xe. Công nghiệp 4.0, dường như chỉ phục vụ lợi ích của người giàu. Liệu những người thợ mỏ ở Trung Quốc (1.043 người chết vì tai nạn hầm mỏ năm 2013, năm cuối cùng có số liệu thống kê về vấn nạn này) có quan tâm đến Internet của vạn vật hay Lưu trữ Dữ liệu Điện toán đám mây? Công nghiệp 4.0 vẫn cần đến điện để chạy, trong đó điện than vẫn chiếm phần lớn, nhưng các chuyên gia lại thích nói về năng lượng tái tạo bởi nghe có vẻ hợp mốt và hợp tai công chúng.

Liệu một cô thợ may làm việc trong một xưởng may của Việt Nam có quan tâm đến đóng góp của Công nghiệp 4.0 tới sự phát triển của “thời trang ăn liền” (fast-fashion)? Không, điều cô ta nên quan tâm là nguy cơ mất việc: hàng triệu công nhân dệt may nên lo ngại về điều này. Theo một báo cáo gần đây của Tổ chức Lao động Thế giới, công nhân trong hai ngành công nghiệp lớn và đang tăng trưởng mạnh ở Việt Nam – dệt may và điện tử - đang nằm trong diện rủi ro: 86% công nhân dệt may có thể bị thay thế bởi các dây chuyền tự động hóa và robot trong các thập kỷ tới. Năng suất và ứng dụng công nghệ ở Việt Nam hiện thấp hơn nhiều so với các nước Đông Nam Á khác: ngành dệt may Việt Nam có năng suất chỉ bằng 20% của Thái Lan. Sản xuất dệt may ở Việt Nam hiện chủ yếu dựa vào số lượng lao động hơn là tay nghề kỹ thuật cao. Tổng số lao động Việt Nam dự kiến đạt 62 triệu vào 2025, đặt ra một thách thức lớn cho quốc gia, đòi hỏi hơn bảy triệu việc làm mới được tạo ra hằng năm.

Vậy ai sẽ hưởng lợi từ Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư? Gần đây tôi đọc một bài báo thú vị bởi những người được coi là các nhà tư vấn chiến lược ở Đức3; họ đưa ra câu trả lời, không phải dưới giác độ Việt Nam, mà của châu Âu. Về cơ bản, họ quan ngại rằng các nước đang phát triển đã tăng gấp đôi thị phần thế giới trong các ngành sản xuất chế tạo, khiến thị phần của châu Âu giảm từ 35% xuống còn 24%. Từ năm 1991 tới năm 2011, thị phần sản xuất chế tạo trên thế giới của các nước đang phát triển tăng từ 21% lên 40%, trong đó châu Á (không tính Nhật Bản) thị phần tăng từ 8% lên 31%. Xu hướng thuê khoán từ những nước lao động giá rẻ khiến châu Âu lâm vào tình trạng giải công nghiệp, kỹ năng lao động bị mai một, và buộc những nước công nghiệp yếu phải dựng lên các rào cản để tự bảo vệ. Theo các tác giả của bài báo, hiện nay chính là thời điểm châu Âu tận dụng cơ hội từ Công nghiệp 4.0 để phản kích. Tuy nhiên, bài báo không thuyết phục được độc giả rằng cơ hội phản kích này có nhiều triển vọng sẽ thành công.

Với Việt Nam thì sao? Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gần đây yêu cầu các cơ quan trung ương và địa phương phải có kế hoạch tận dụng tối đa những cơ hội từ Cách mạng Công nghiệp 4.0. Cụ thể, các bộ, ngành sẽ cung cấp dịch vụ công chất lượng cao hơn cho người dân và doanh nghiệp bằng cách đơn giản hóa và hiện đại hóa các quy trình thủ tục hành chính. Bộ Thông tin và Truyền thông phụ trách sự phát triển an toàn và vận hành hợp lý mạng lưới di động 4G từ nay tới 2018. Bộ KH&CN thực hiện các chương trình KH&CN quốc gia về toán, vật lý, và các ngành khoa học cơ bản khác. Bộ GD&ĐT thúc đẩy giáo dục STEM ở các trường phổ thông. Bộ Tài chính xây dựng cơ chế, chính sách thuế và tài chính nhằm khuyến khích các công ty đầu tư cho công nghệ mới và R&D.

Đây là những điều thiết thực mà chúng ta có thể hiểu. Chúng phù hợp với tình hình hiện nay của Việt Nam, với những lợi thế và nhược điểm của đất nước cũng như bức tranh chung của thế giới xung quanh. Ít ra, chúng ta không coi Công nghiệp 4.0 như một thách thức để tự bào chữa [cho sự tụt hậu của mình], mà coi đó như một động lực cho đổi mới (mặc dù đổi mới là yêu cầu tất yếu, dù có Công nghiệp 4.0 hay không). Chúng ta thừa hiểu những nguy cơ cho đất nước nếu cứ kéo dài mãi tình trạng bị bóc lột, là điểm cung cấp lao động giá rẻ cho các nước giàu. Chúng ta hiểu rõ một trong những ưu tiên hàng đầu của quốc gia là chuẩn bị cho thế hệ trẻ khả năng sẵn sàng đáp ứng những công việc của ngày mai, rằng giáo dục và đào tạo là chìa khóa cho tương lai của Việt Nam.
Việt Nam có lợi thế gì? Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, khoảng 6% trong năm ngoái; có đánh giá cho rằng Việt Nam có nền kinh tế tăng trưởng nhanh thứ tám trên thế giới, tính từ nay tới năm 2050. Đội ngũ lao động tăng trưởng mỗi năm trên một triệu người, trong khi tỷ lệ thất nghiệp chỉ ở mức 2,5%. Giới trung lưu có tốc độ phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á, đạt 33 triệu người vào năm 2020. Độ tuổi trung vị chỉ trên 29. Gần 70% dân số trong độ tuổi 15 tới 64. Một phần tư dân số dưới độ tuổi 15. So với các nước có mức thu nhập tương đương, Việt Nam có mức đổi mới sáng tạo cao hơn; so với các nước có trình độ phát triển kinh tế tương đương, Việt Nam liên tục có thành tựu vượt trội.
Nhưng theo cách nhìn của các nhà đầu tư nước ngoài, lợi thế chủ yếu của Việt Nam là ở đội ngũ lao động giá rẻ. Mức lương tối thiểu theo quy định quốc gia là 110 USD/tháng, trong khi của Trung Quốc là 160 USD, của Thái Lan là 230 USD. Rõ ràng Việt Nam không thể tự bằng lòng với mức thu nhập thấp như vậy; chỉ nên coi đây như một bước phát triển quá độ trên con đường tiến tới tương lai thịnh vượng hơn. Khi Việt Nam ngày càng mở cửa đón đầu tư nước ngoài, dòng chảy FDI tăng một cách vững chắc, đạt 24,4 tỷ USD trong năm 2016, tăng 9% so với năm trước đó; 78% dòng vốn này là từ châu Á, trong đó riêng Hàn Quốc có 7 tỷ USD.
Trong nhiều năm, các nhà quan sát nền kinh tế Việt Nam đều có chung một quan điểm. Một bài báo gần đây của Dung Phan đăng trên ASEAN Today4 tổng kết khá đầy đủ quan điểm này, tôi chỉ xin trích dẫn một vài luận điểm nổi bật nhất: Kể từ khi ngành công nghiệp chế tạo của Trung Quốc suy giảm, Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm thị trường nóng tiếp theo. Trong năm năm qua, xuất khẩu của quốc gia này tăng hơn gấp đôi, lao động giá rẻ và hạ tầng chi phí thấp thu hút FDI đổ vào ngành công nghiệp chế tạo. Tuy nhiên, những thành tựu này mặc dù là dấu hiệu thành công đáng kể về kinh tế, cũng đồng thời tiềm ẩn sâu trong đó nguy cơ mất cân bằng. Hãy nhìn vào mối quan hệ giữa sự thiếu vắng đội ngũ nhân lực trình độ cao và sự dư thừa nhân lực trình độ thấp, thường được gọi là “lao động giá rẻ”, trong ngành chế tạo. Sự chú trọng vào tăng trưởng kinh tế có thể che đậy tình trạng lao động trình độ thấp, với cách nhìn coi “lao động giá rẻ” là “nguồn lực dồi dào thu hút đầu tư nước ngoài để thúc đẩy nền kinh tế”. Năng suất và chất lượng lao động của Việt Nam thấp và tụt hậu xa so với khu vực. Việt Nam nay đối diện với sự khan hiếm lao động trình độ cao do giáo dục cấp ba không đáp ứng nhu cầu lao động của doanh nghiệp. Lạm phát khiến lương tăng nhanh trong khi trình độ lao động không tăng nhanh tương ứng, gây hạn chế tăng trưởng và tăng thêm các thách thức cho các nhà hoạch định chính sách. Đất nước không thể cứ mãi dựa vào mức lương thấp. Cạnh tranh dựa vào lương thấp là rất rủi ro, chỉ nên được coi như giải pháp tạm thời trước mắt với một nước đang phát triển như Việt Nam. Nếu Việt Nam tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ thì sẽ không có động lực đổi mới công nghệ để chuyển sang những kỹ thuật tiên tiến hơn.

Chúng ta hãy đừng quá mơ mộng, hãy tạm quên đi những thế giới ảo song song nơi Donald Trump giao thoa với Captain America, nơi Pokemon gây bão trong đời sống xã hội, hay robot tư duy giống như người. Việc nối mạng có ích lợi là cho phép chúng ta dễ dàng khám phá những thế giới song song, những thế giới có thực trong đời sống, nơi những đứa trẻ chết đói ở Hạ Sahara, những cậu bé Iraq kẹt dưới bom đạn ở Mosul, những bé gái Nigeria bị Boko Haram bắt cóc. Có thể điều đó sẽ giúp chúng ta tỉnh thức, điều mà thế giới đang rất cần. Bên cạnh đó, việc nối mạng cũng giúp chúng ta khám phá về những thế giới hạnh phúc hơn, là cơ sở cho hi vọng, điều mà thế giới cũng đang rất cần. Một ví dụ điển hình chính là tiến trình ngoạn mục của Việt Nam trong cải thiện mặt bằng sức khỏe của người dân, đạt mức tuổi thọ trung bình cao hơn đáng kể so với những nước khác có mức GDP đầu người tương đương; và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm tới ba lần trong vòng hai thập kỷ qua. Những thông tin như vậy giúp chúng ta hiểu sâu hơn về thực tế đất nước mình và xác định rõ đâu là mục tiêu ưu tiên cần tiếp tục phấn đấu trên con đường phát triển tới đây. Mong rằng chúng cũng giúp chúng ta nhận thức đúng hơn về tài sản vô giá, không thể thay thế của đất nước, đó chính là thế hệ trẻ; rằng chúng ta có trách nhiệm đào tạo các em một cách bài bản, cung cấp những hỗ trợ và khuyến khích cần thiết để các em có thể đối diện với nhiều khó khăn đang chờ đón phía trước.
Pierre Darriulat/Thanh Xuân dịch
-----------------
1https://www.youtube.com/watch?v=wHO1B2jKBps
2 http://www.baohaiquan.vn/Pages/ Cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-Co-hoi-mo-hon-cho-nguoi-Viet-Nam.aspx
3 Roland Berger Strategy Consultants, www. Think-act.com, 2014.
4 https://www.aseantoday.com/2016/ 06/vietnam-time-to-stop-the-delusion-of-cheap-labour/
Chúng ta hãy đừng quá mơ mộng, hãy tạm quên đi những thế giới ảo song song nơi Donald Trump giao thoa với Captain America, nơi Pokemon gây bão trong đời sống xã hội, hay robot tư duy giống như người. Việc nối mạng có ích lợi là cho phép chúng ta dễ dàng khám phá những thế giới song song, những thế giới có thực trong đời sống, nơi những đứa trẻ chết đói ở Hạ Sahara, những cậu bé Iraq kẹt dưới bom đạn ở Mosul, những bé gái Nigeria bị Boko Haram bắt cóc. Có thể điều đó sẽ giúp chúng ta tỉnh thức, điều mà thế giới đang rất cần. Bên cạnh đó, việc nối mạng cũng giúp chúng ta khám phá về những thế giới hạnh phúc hơn, là cơ sở cho hi vọng, điều mà thế giới cũng đang rất cần. 

No comments:

Post a Comment