Tuesday, June 13, 2017

Bài viết hay(5053)

Sáng nay bắt đầu có nhiều phản ứng trước chuyện chế độ hay ông Chung bội tín. Nếu Chung giữ lời hứa thì Chung sẽ phải làm gì? Nếu Chung từ chức để phản đối thì có lẽ mọi người sẽ hiểu ra và tôn trọng Chung hơn. Nếu Chung dùng quyền hạn của mình mà buộc CA Hà Nội phải thực hiện những gì Chung đã hứa thì coi như Chung hy sinh sự nghiệp chính trị của mình. Có thể Chung sẽ có cách riêng nào đó hay hơn mà chúng ta chờ xem sao. Vấn đề là CA Hà Nội sẽ làm gì với những người bắt giữ nhân viên công lực khi đang làm nhiệm vụ? Có thể giơ cao đánh khẽ thì sao? Tui chỉ mong sao vụ này là mồi lửa cho một trận bão đủ lớn giựt sập một ngôi nhà mục ruỗng quá rồi. Đã đến lúc người dân phải nổi dậy.

GỬI ÔNG NGUYỄN ĐỨC CHUNG- CHỦ TỊCH UBND TP HÀ NỘI


Hà Nội, ngày 14/6/2017
Thưa ông Nguyễn Đức Chung,

Ngày 22/4/2017, tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức thuộc TP Hà Nội, trước sự chứng kiến của đông đảo nhân dân và những người dự họp đối thoại, giữa thanh thiên bạch nhật, ông với tư cách Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã ký vào “BẢN CAM KẾT” với 03 điều:

“1. Trực tiếp kiểm tra Đoàn thanh tra, chỉ đạo sát sao làm đúng sự thực khách quan, đúng pháp luật. Khu vực đất Đồng Xênh rõ ràng đâu là đất quốc phòng, đâu là đất nông nghiệp, không mập mờ, đảm bảo quyền lợi của nhân dân Đồng Tâm, đúng pháp luật.
2. Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm. ”.
3. Cam kết chỉ đạo điều tra xác minh việc bắt và gây thương tích cho Cụ Lê Đình Kình, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”.
Dưới BẢN CAM KẾT, Ông không chỉ ký tươi và còn điểm chỉ đỏ cùng ông Dương Trung Quốc (đại biểu QH). Bên dưới đó, UBND xã Đồng Tâm đã xác nhận chữ ký của ông Nguyễn Đức Chung là đúng, và đóng dấu đỏ.
BẢN CAM KẾT nói trên đã được chụp, in ra cho mỗi người dân xã Đồng Tâm, từ em bé đến cụ già; đã đăng trên các báo chí, lan truyền trên mạng xã hội; toàn dân Việt Nam, toàn thế giới đều có thể thấy. Sự kiện Đồng Tâm nói chung và BẢN CAM KẾT nói riêng đã trở thành tài liệu lịch sử. Có nghĩa là tên tuổi ông Nguyễn Đức Chung và sự kiện Đồng Tâm được ghi trong sử sách lưu truyền mãi mãi…
Tất cả mọi người có lương tri đều đánh giá cuộc đối thoại của Ông với dân Đồng Tâm và BẢN CAM KẾT lịch sử này là một cái kết có hậu, có lý, có tình, thấu tỏ lòng dân. Một niềm vui mới râm ran trong dân Đồng Tâm và trong xã hội… Khắp nơi, người ta nhắc đến Nguyễn Đức Chung như một con người tử tế, người của nhân dân và đặt nhiều hy vọng vào Ông sau này…
Nhưng thật bất ngờ, điều 2 và 3 của BẢN CAM KẾT chưa thấy được thực hiện, thì các báo chính thống đồng loạt đăng tin: “Ngày 13/6, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an Hà Nội cho biết, đã ra quyết định khởi tố vụ án Bắt, giữ hoặc giam người trái luật và Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản liên quan đến vụ việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội”...
Đây là một việc làm vô cùng tai hại cho chính quyền nói chung và cá nhân ông, rói riêng. Rõ ràng là một sự bội ước, lật lọng, phản bội nhân dân và phản bội chính mình! Một con người tử tế không thể bội ước bạn bè; một chính khách đứng đầu Thủ đô ngàn năm văn hiến không thể phản bội người dân và phản bội chính mình như vậy; một chính thể không thể lừa dối nhân dân trắng trợn đến thế!
Để cứu vãn tình thế, ông phải làm gì?
1.Ông phải quyết tâm đấu tranh đến cùng với các thế lực “cản phá”, kiên quyết thực hiện đúng BẢN CAM KẾT ông đã ký ở Đồng Tâm ngày 22/4/2017, vì đó là lương tâm, danh dự, trách nhiệm chính trị - đạo đức của cá nhân ông và của cả Chính quyền, của cả chế độ này…
2. Nếu đấu tranh thất bại thì ông và những người chứng kiến đã ký vào BẢN CAM KẾT (trong đó có ĐBQH Dương Trung Quốc…) phải ra TUYÊN BỐ phản đối hành động của những người đã chà đạp lên BẢN CAM KẾT mà ông đã ký và nhiều người làm chứng đã ký. Rồi chuyện gì đến ông đều chấp nhận. Đó là hành động của một người trọng danh dự, có nhân cách, một chính nhân quân tử. Làm như vậy, ông sẽ đi vào lịch sử như một người chân chính, biết đứng về phía nhân dân.
3. Còn nếu như đây là “kịch bản” của ông; hoặc vì sức ép, ông cứ bưng tai, bịt mắt, làm ngơ để CA Hà Nội điều tra, truy tố người dân Đồng Tâm, phản bội lại BẢN CAM KẾT, thì xin lỗi, ông sống không bằng chết! Nhiều người dân, trong đó có tôi, nhìn thấy mặt ông ở đâu là nguyền rủa, phỉ nhổ! Và chắc ông cũng biết: “Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”!
Nói những điều này với Ông, vì tôi là người ngay thật và tin vào tính thiện lương của con người.
Chào ông!
Mạc Văn Trang, một công dân Hà Nội

THƯ NGỎ GỬI THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC

(Cập nhật : 4 hội đoàn và 111 cá nhân ký tên)
Kính thưa Thủ tướng,
ảnh bài 1 -2
Mấy hôm nay theo sát kỳ họp Quốc hội, báo chí và công luận, chúng tôi vui thấy có những đại biểu và bài báo nói thẳng nói thật về việc yêu cầu thu hồi sân golf cho sân bay Tân Sơn Nhất. Chúng tôi có chút hy vọng là chính phủ sẽ đáp ứng lòng dân, dẹp bỏ một thực trạng vô cùng phi lý và trơ trẽn, tệ hại đã quá lâu, bất chấp lợi ích của đất nước và nhân dân. Chúng tôi làm thư ngỏ này yêu cầu chính phủ sớm thu hồi đất sử dụng trái khoáy, khai thông lối vào và mở rộng sân bay, khắc phục tình trạng ùn tắc và quá tải từ bấy lâu nay.

Tuy nhiên mới đây tại diễn đàn Quốc hội, một thành viên chính phủ là Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Trương Quang Nghĩa lại đăng đàn phủ nhận yêu cầu hợp lý này. Ông Bộ trưởng còn ngụy biện về tính không khả thi, bất chấp ý kiến cụ thể và thông tuệ của các chuyên gia:
Chúng tôi ký tên dưới đây là các hội đoàn dân sự và các nhân sĩ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước đồng tình xin gửi đến Thủ tướng và Lãnh đạo nhà nước Thư Ngỏ với những nội dung sau đây:
1. Chúng tôi cực lực phản đối Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Trương Quang Nghĩa về nội dung ngụy biện phản khoa học và vô trách nhiệm tại diễn đàn Quốc hội.
2. Chúng tôi vô cùng phẫn nộ trước thái độ tham lam bất chấp kỷ cương phép nước, quyền dân của nhóm lợi ích và một số thế lực trong quân đội. Họ đã ngang nhiên chiếm đoạt phần đất sân bay, vùng đất không gian quan yếu vào bậc nhất cho việc giao thông quốc nội và quốc tế, vô cùng cần thiết cho việc phát triển đất nước.
3. Nếu chính phủ còn do dự và thắc mắc về sự chọn lựa giữa giải pháp tốn kém xây dựng sân bay Long Thành và giải pháp thực tế thu hồi sân golf cho sân bay Tân Sơn Nhất thì chúng tôi yêu cầu nhanh chóng tổ chức một hay nhiều hội thảo có chuyên gia Việt Nam và quốc tế tham dự để thẩm định khách quan và khoa học những vấn đề được đặt ra.  Trên quan điểm vì lợi ích đất nước và nhân dân, chúng tôi không thấy có lý do nào để sân golf tồn tại, chiếm đất sân bay đang quá tải.
4. Yêu cầu chính phủ khẩn trương thu hồi toàn bộ đất sử dụng không đúng mục đích hiện nay để phục vụ công ích, cải thiện tình trạng ùn tắc đường vào sân bay, nhất là tình trạng quá tải bãi đậu, đường băng đáp máy bay, uy hiếp nghiêm trọng tính mạng hành khách tại cửa khẩu đường không quan trọng nhất của Việt Nam.ảnh bài 1 -1
Kính mong được sự ủng hộ của Nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước.
Ký tên xin gửi về email: thuhoisangolf@gmail.com.
Làm tại TP. HCM, ngày 11/6/2017
I. Danh sách các hội đoàn
1- Diễn đàn Xã hội Dân sự – do TS Nguyễn Quang A đại diện
2- CLB Lê Hiếu Đằng – do ông Lê Thân, Chủ nhiệm CLB, đại diện
3- CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt – do TS Hà Sĩ Phu đại diện
II. Danh sách các cá nhân
1- Nguyễn Đăng Hưng – Giáo sư danh dự Đại học Liège, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Bỉ
2- Nguyễn Khắc Mai – Nhà giáo – Hà Nội
3- Hoàng Hưng – Nhà thơ, dịch giả – Sài Gòn
4- Võ Văn Thôn – nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. HCM, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
5- Lê Phú Khải – Nhà báo, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
6- Kha Lương Ngãi – nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn giải phóng, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
7- Phạm Nguyên Trường – Dịch giả – Vũng Tàu
8- Nguyễn Xuân Diện – TS, Viện Hán Nôm – Hà Nội
9- Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh) – Nhà báo Tự do, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn.
10- Lại Thị Ánh Hồng – Nghệ sĩ, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
11- Nguyễn Thị Khánh Trâm – hưu trí – Sài Gòn
12- Phan Đắc Lữ – Nhà thơ, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
13- Võ Văn Tạo – Nhà báo – Nha Trang
14- Trần Minh Thảo – Viết văn – Bảo Lộc, Lâm Đồng (CLB Phan Tây Hồ)
15- Phạm Đình Trọng – Nhà văn, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
16- Tiêu Dao Bảo Cự – Nhà văn tự do – Đà Lạt
17- Huỳnh Sơn Phước – Nhà báo – Hội An
18- Nguyễn Quy Cáp – nguyên Giám đốc Công ty quảng cáo Trẻ – Sài Gòn
19- Nguyễn Đăng Quang – nguyên cán bộ Bộ Công an – Hà Nội
20- Phan Hoàng Oanh – Nhà giáo – Sài Gòn
21- Vũ Thư Hiên – Nhà văn – Pháp
22- Tống Văn Công – nguyên Tổng biên tập báo Lao Động – Sài Gòn
23- Trần Ngọc Sơn – Kỹ sư – Pháp
24- Nguyễn Thanh Hằng – Dược sĩ – Pháp
25- Trần Quang Thành – Nhà báo – Slovakia
26- Hoàng Dũng – PGS TS – Sài Gòn
27- Huỳnh Kim Báu – nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước TP.HCM, Chủ nhiệm danh dự CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
28- Hồ Ngọc Nhuận – Nhà báo, dân biểu đối lập thời Việt Nam Cộng hòa, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM, ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Sài Gòn
29- Tô Lê Sơn – Kỹ sư, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
30- Trần Tiến Đức – Nhà báo độc lập, đạo diễn truyền hình và phim tài liệu – Hà Nội
31- Mai Thái Lĩnh – Nhà nghiên cứu, thành viên CLB Phan Tây Hồ – Đà Lạt
32- Nguyễn Huệ Chi – Giáo sư – Hà Nội
33- Đặng Thị Hảo – Tiến sĩ – Hà Nội
34- Nguyễn Đình Ấm – Nhà báo – Hà Nội
35- Huỳnh Nhật Hải – hưu trí – Đà Lạt
36- Huỳnh Nhật Tấn – hưu trí – Đà Lạt
37- Dương Sanh – cựu giáo chức – Vạn Ninh, Khánh Hòa
38- Nguyễn Trần Hải – cựu sĩ quan Hải quân Nhân dân Việt Nam – Hải Phòng
39- Nguyễn Kim Chi – Nghệ sĩ ưu tú, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
40- Trần Bang – Kỹ sư – Sài Gòn
41- Bùi Minh Quốc – Nhà báo – Đà Lạt
42- Huỳnh Ngọc Chênh – Nhà báo, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
43- Nguyễn Nguyên Bình – Nhà văn – Hà Nội
44- Đinh Đức Long – TS Bác sĩ – Sài Gòn
Đợt 2:
45- Nguyễn Thu Giang – Nguyên phó giám đốc sở tư pháp TP. HCM – Sài Gòn
46- Nguyên Ngọc – Nhà văn – Hội An
47- Vũ Trọng Khải – Chuyên gia độc lập về kinh tế Nông Nghiệp - Sài Gòn
48- Trần Đình Sử - Giáo sư Tiến sĩ – Hà Nội
49- Trần Thế Việt – Nguyên Bí thư Thành ủy Đà Lạt – Đà Lạt
50- Phan Văn Lợi – Linh mục – Thừa Thiên Huế
51- Khổng Hy Thêm – Kỹ sư điện – Khánh Hòa
52- Nguyễn Phương Chi - Biên tập viên chính, hưu trí – Hà Nội
53- Trần Đức Quế - Chuyên viên bộ GTVT, hưu trí – Hà Nội
54- Phạm Khiêm Ích – Nghiên cứu khoa học – Hà Nội
55- Hoàng Văn Khởi - Kỹ sư – Hà Nội
56- Nguyễn Thị Trung Hoa – Đại biểu kiều bào vùng tây CH LB Đức
57- Nguyễn Kế Quang – Kỹ sư XD – Quy Nhơn, Bình Định
58- Phạm Thành – Nhà báo, nhà văn – Hà Nội
59- Phan Quốc Tuyên – Kỹ sư tin học - Gienève, Thụy Sĩ
60- Vũ Phương Chiến – Định cư tại Đức
61- Lê Bá Diễm Chi (Song Chi) – Nhà báo độc lập – Oslo, Na Uy
62- Nguyễn Trọng Hoàng – Bác sĩ – Paris, Pháp
63- Trần Anh Tuyết – Công dân Sài Gòn – Sài Gòn
64- Nguyễn Xuân Hoài – CB hưu trí TP. HCM
65- Ngô Thái Văn – Hoa Kỳ
66- Nguyễn Lệ Uyên – Nhà văn – TP. HCM
67- Trần Khang Thụy – GĐ TT nghiên cứu và phát triển kinh tế (CESAIS) thuộc ĐH Kinh tế TP. HCM
68- Đặng Văn Lập – KTS , hưu trí – Hà Nội
69- Phạm Minh Hoàng – Nhà giáo – Sài Gòn
70- Lê Thị Kiều Oanh – Công dân VN – Sài Gòn
71- Hà Văn Thùy – Nhà văn – TP. HCM
72- Trần Minh Quốc – Nguyên giáo sư trung học thời VNCH – Sài Gòn
73- Chu Trọng Thu – Cựu giáo chức ĐH Sư Phạm – Sài Gòn
74- Trần Văn Bình – Kỹ sư, chuyên viên Tư vấn cao cấp ngành Năng Lượng, thành viên Hội Đồng Tái Tạo Năng Lượng Thế Giới (WCRE)- CHLB Đức
75- Thái Kế Toại – Đại tá, nguyên Giám đốc Điện ảnh Công An – Hà Nội
76- Nguyễn Văn Nghi – TS Sinh học – Hà Nội
77- Phạm Hồng Hà – CB hưu trí – Vinh, Nghệ An
78- Nguyễn Thiện – Tác giả “ Dân ta biết sử ta” – TP.HCM
79- Phan Hồng Giang – Nhà văn, dịch giả - Hà Nội
80- Lê Đình Thụ - Kỹ sư viễn thông
81- Nguyễn Hồng Khoái – Công dân VN – Hà Nội
82- Hoàng Giang Doanh – Công dân VN – Hải Phòng
83- Phùng Hoài Ngọc – Cựu giảng viên đại học – An Giang
84- Trần Hùng Thịnh – Kỹ sư, hưu trí – Hà Nội
85- Phạm Vương Ánh – Kỹ sư KT, cựu sĩ quan QĐNDVN – Vinh, Nghệ An
86- Mai An Nguyễn Anh Tuấn – Làm phim, viết văn – Hà Nội
87- Trần Thiện Kế - Dược sĩ – Hà Nội
88- Tô Oanh – Giáo viên, hưu trí – Bắc Giang
89- Hoàng Thị Như Hoa – Bộ đội xuất ngũ – Thanh Trì, Hà Nội
90- Nguyễn Văn Hùng – Nghề tự do – Hà Nội
91- Nguyễn Phúc Thành – Dịch giả - Sài Gòn
92- Vũ Ngọc Lân – Kỹ sư luyện Kim – Hà Nội
93- Lê Mai Đậu – Công dân VN - Cầu Giấy, Hà Nội
94- Nguyễn Khánh Việt – CB Hưu trí – Ba Đình, Hà Nội
95- Phan Văn Hiên – Cựu giáo chức – Hà Nội
96- Hà Thúc Huy – PGS TS Hóa học – Sài Gòn
97- Nguyễn Văn Lịch – Kỹ sư cơ khí – Hà Nội
98- Trương Chí Tâm – Cử nhân Y Khoa – Sài Gòn
99- Đào Minh Châu – Tư vấn hành chính công và Chính sách công – Hà Nội
100- Đào Văn Nghĩa – Giáo viên nghỉ hưu – Huế
101- Lý Đăng Thạnh – Người chép sử - Sài Gòn
102- Nguyễn Tiến Đức – Kỹ sư công trình – Sài Gòn
103- Mã Lam – Nhà thơ – Sài Gòn
104- Nguyễn Đào Trường – Hưu trí – Hải Dương
105- Đoàn Nhật Hồng – Cán bộ tiền khởi nghĩa, thành viên CLB Phan Tây Hồ - Đà Lạt
106- Trần Thị Thanh Thảo – Mục sư Hội Thánh Tin Lành – Sài Gòn
107- Phạm Minh Đức – Kỹ sư cơ khí – Hà Nội
108- Lưu Hồng Thắng – Công nhân – Mỹ
109- Hồ Sĩ Hải – Kỹ sư, cựu chiến binh – Hà Nội
110- Nguyễn Văn Đức – Nghề tự do – Sài Gòn
111- Phan Tịnh – Kỹ sư thiết kế - London, Anh Quốc

Ai Là Mẹ của Nông Đức Mạnh?

Khi Nông Đức Mạnh (NĐM) được chọn làm Tổng Bí Thư Ban Chấp hành Trung Ương Đảng CSVN, nhiều lời bàn tán nổi lên nhưng chỉ qui vào thân thế hơn là sự nghiệp của ông ta. Theo đài Á Châu Tự Do (RFA) thì tại một nước mà tự do báo chí không có để tìm kiếm sự thật thì những lời xì xầm đồn đại lan truyền trong dân chúng lâu dần sẽ đương nhiên trở thành được coi như có giá trị. Do đó khi viết về đại hội đại biểu toàn quốc 4/2001 báo chí ngoại quốc đều nhắc đến những lời đồn đãi rằng NĐM là con rơi của Hồ Chí Minh (HCM) cha đẻ của cuộc cách mạng vô sản ở VN. Đại Sứ Australia là bà Sue Boyd – người nổi tiếng là bộc trực- đã hỏi thẳng NĐM có phải là con của Hồ Chí Minh không? NĐM trả lời “Ở Việt Nam ai cũng đều là con của Bác”. Câu trả lời vô thưởng vô phạt này có chủ đích lập lờ để không phải xác nhận sự thật mà cũng không bị mang tiếng là chối bỏ một sự thật.
Sau đó cũng gần một năm trên tạp chí Time, ấn bản vùng Á Châu phát hành ngày 23-1-2002 tại Hồng Kông- qua cuộc phỏng vấn của ký giả Kay Johnson- Tổng Bí Thư (TBT) Đảng CSVN lại một lần nữa lên tiếng về thân thế mình, bác bỏ tin đồn trước đây cho rằng ông ta là con rơi của HCM và một phụ nữ sắc tộc là Nông Thị Xuân. Ngày được nâng lên giữ chức TBT, vì quá bất ngờ với câu hỏi của bà Sue Boyd nên câu trả lời của NĐM tuy khôn ngoan nhưng ai cũng hiểu đó là một sự tránh né. Có lẽ nhận thấy im lặng quá lâu là mặc nhiên xác nhận tin đồn không tốt cho sự nghiệp chính trị của mình, là “con Vua thì được làm Vua”, lần này vì có chuẩn bị trước nên NĐM đã bác bỏ tin đồn một cách mạnh mẽ “Tôi phải lập lại và xác nhận rằng điều đó không đúng sự thật. Tôi có thể nói tên của cha mẹ tôi nhưng họ đã chết” Và NDM cho biết cha mình là Nông Văn Lai và mẹ là Hoàng Thị Nhị. Tổng Bí Thư Dảng CSVN tiếp theo cười cười: “Nếu có ai nói tôi giống HCM, tôi nghĩ có nhiều người trông giống người ”
Người phỏng vấn hình như vẫn chưa hài lòng với câu trả lời nên lại hỏi : “Nên ông không liên hệ gì với HCM ?”
NĐM lập lại : “Tất cả mọi người VN là con của Bác Hồ. Tôi nghĩ toàn thể dân Việt xem HCM là cha tinh thần của họ và tôi cũng thế “.
Nghe đến đây phóng viên tờ Time nhấn mạnh một lần nữa : “Nhưng không phải là cha đẻ của ông?.”
NĐM quả quyết : “Chắc chắn là không “.
Viết về HCM thì không thể nào không nhắc đến những huyền thoại không những do đảng CSVN tô son điểm phấn cho ông mà ngay chính bản thân ông cũng tự hào về những dối trá đó. Hình như những suy tôn mà Đảng CS đã dành cho ông vẫn chưa đủ nên chính ông lại tự ca ngợi mình. Quả thật không ai ca ngợi HCM bằng chính ông ta. Trong các tài liệu về HCM cho biết “Bác” Hồ đã có tất cả vừa tên, vừa bí danh và bút danh từ A đến Z sơ khởi là 54 cái tên (VN Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ- trang 114- 122) nhưng lại bỏ sót mất 2 cái tên là Trần Dân Tiên và T. Lan là tác giả của 2 cuốn sách nâng HCM lên như một ông “Thánh sống” đến độ trơ trẽn vì từ trước đến nay có lẽ chỉ mình Bác là kẻ duy nhất tự viết sách để ca tụng mình qua vai trò Trần Dân Tiên và T.Lan, tự khen mình là khiêm tốn, không bao giờ nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến nhân dân, phong cho mình là “cha già dân tộc”, ngạo mạn với các bậc tiền bối, xưng hô là “Bác” với mọi ngườì kể cả các cụ già. Một con người mà có thể hạ bút viết lên những điều như thế thì tất cả những huyền thoại về HCM đều là do ý muốn của ông ta.
Trong những lần dạy dỗ cán bộ đảng viên, HCM thường nhắc đến hai chữ “hủ hoá”, nhưng kỳ thực ông ta lại là người lăng nhăng tình cảm với nhiều phụ nữ hơn ai hết. Những tham khảo của các sử gia ngoại quốc cũng như tài liệu từ các quốc gia Pháp Nga cho thấy rõ điều này. Bùi Tín (BT) cho rằng “HCM cũng rất “người” ở chỗ không thể nào sống như một ông Thánh.” ( Hoa Xuyên Tuyết trang 112) Với Bùi Tín thì những chuyện “lăng nhăng” với phụ nữ “là chuyện riêng tư của cá nhân, không mấy quan trọng mà nó còn thấy HCM cũng là con người như mọi người”.
Đồng ý, con người sinh ra đều có tình cảm: yêu thương, giận hờn, ghen ghét trong đó tình yêu vợ chồng là tình cảm thiêng liêng không thể thiếu được. Thế nhưng HCM đã dấu hết tình cảm đó, cho mình là một “ông Thánh” hy sinh cả cuộc đời , sống cô độc lo cho dân cho nước. Thậm chí ăn ở với người ta có con, rồi ra lệnh giết người mẹ chỉ vì không muốn nhìn nhận vợ con. Nếu không có lệnh của HCM thì ai dám nhúng tay vào tội ác?. Thế mà HCM lúc nào cũng hãnh diện nhắc nhở cho thanh thiếu niên là “Học gì thì học chứ đừng học tánh hút thuốc và không lấy vợ của Bác nhé!”. Do đó nói lên sự thật không có nghĩa là moi móc đời tư mà là đánh đổ huyền thoại của một con người hai mặt nói thì tốt nhưng hành động thì xấu xa. Mồm thì hô hào là “đầy tớ ” của nhân dân nhưng lại mơ thấy mình làm vua là “cha” của thiên hạ:
Trong tù khoan khoái giấc ban trưa
Một giấc miên man liền mấy giờ
Mơ thấy cưỡi rồng trên thượng giới
Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ
 (Nhật Ký Trong Tù-1943)
Danh sách những phụ nữ có dính dáng đến cuộc đời của HCM thì nhiều, Pháp Nga Tàu Việt không thiếu. Quả thật “Bác là con người của nhân loại” ” trong lãnh vực “giao du tình cảm” cũng như trong lãnh vực “thuổng văn” mà Chế Lan Viên đã hết lòng biện hộ cho “Bác” về chuyện sao y câu của bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ.
Nhân ngày sinh nhật thứ 114 của HCM chúng ta hãy hỏi tội “hủ hoá” của “Bác” với câu hỏi đặt ra là: – AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH ?
Tiếng Việt của chúng ta thật là phong phú, đa dạng. Khi viết “Mẹ của NĐM là ai?” thì câu hỏi này không có gì đặc biệt – và câu trả lời là mẹ ông ta có thể là bà A, bà B, bà Mít , bà Xoài v. v… Nhưng khi chúng ta đặt chữ Ai ở đầu câu Ai là Mẹ của NĐM ? thì câu hỏi xem ra có phần mạnh mẽ hơn, hậu ý như là giữa những bà có tên là Marie Biere (Pháp), Tăng Tuyết Minh (Tàu), Vera Vasiliéva (Nga), Nguyễn Thị Minh Khai, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân . . ai trong số đó là Mẹ của NĐM?
Dư luận cho rằng người đó là Nông Thị Xuân có lẽ vì bà Xuân cùng là họ Nông và lại cũng sinh cho HCM một đứa con trai. Tuy nhiên nếu xét về thời gian thì giả thuyết này không chấp nhận được. Câu chuyện Nông Thị Xuân đã được ông Nguyễn Minh Cần – đảng viên CS ly khai viết rất rõ ràng. Sau hiệp định Geneve 1954 HCM về Hà Nội làm Chủ Tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1955 Nông Thị Xuân 22 tuổi người Cao Bằng được đưa về Hà Nội để “phục vụ” HCM. Lúc đó “Bác” đã 65 tuổi rồi. Một năm sau, hạ sanh một con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung, cô Xuân ngỏ ý với “Bác” xin được hợp thức hoá hôn nhân để dọn về ở chung. “Bác” gật gù khen “ý kiến hợp tình hợp lý nhưng phải bàn với Bộ Chính Trị” đã. Sau đó cô Xuân bị giết, cả hai người em là cô Vàng và cô Nguyệt đến ở chung để trông cháu cho cô Xuân rảnh rang đi “phục vụ” “Bác”, cùng với bạn của cô Vàng là những người biết chuyện, đều lần lượt bị giết lây. Có tin sau khi câu chuyện này được tung ra hải ngoại thì mộ cô Xuân đã bị san bằng không còn dấu tích.
Nông Đức Mạnh, theo tài liệu của Đảng, thì sinh năm 1940, còn Nguyễn Tất Trung, con cô Nông Thị Xuân thì sinh năm 1956, sự sai biệt quá cao dù rằng tên tuổi của người CS đôi khi không mấy đúng với lý lịch thật. Do đó nếu Nông Đức Mạnh là con HCM thì mẹ ông ta phải là người liên hệ với HCM vào khoảng thời gian HCM về nước ở Cao Bằng.
Theo tài liệu CS, thì HCM về nước vào ngày 8-2-1941 qua cột mốc 108 biên giới Việt Trung, đến ở tại hang Pắc Bó tỉnh Cao Bằng. Chung quanh hang có một con suối và một ngọn núi. Vừa đặt chân đến nơi HCM nghĩ ngay đến việc đặt tên là núi Karl Marx và suối Lenin. Trong hang, kế vách là một tháp đá thiên nhiên cao hơn đầu người đã được HCM vài ngày sau đó tạc thành tượng Karl Marx. Cũng tại nơi đây HCM đã dịch “Lịch Sử Đảng CS Liên Sô” ra tiếng Việt. Coi các lãnh tụ Liên sô là trên hết, HCM đã khóc lóc thảm thiết khi nghe tin Stalin chết. Cho nên bảo rằng HCM bị Stalin áp dụng kỷ luật vì “không biểu lộ tinh thần giai cấp và đặc tính thích đáng của tầng lớp vô sản quốc tế ” mà Bùi Tín đã trích dẫn từ tài liệu của Mạc Tư Khoa qua bài viết đăng trên tờ Time cuối tháng 8-1999 (Hà Nhân VN Nhật Báo 28-8-1999) thì quả thật là oan cho “Bác” quá đi mất thôi!
Địa thế hang Pắc Bó lại thông ra một con đường kín đáo dẫn sang bên kia biên giới… Cũng tại nơi đây HCM lại có một mối tình mà ít ai để ý đến và ngay những taì liệu trước đây cũng không hề nhắc đến. Nhân chuyện CSVN dâng đất nhường biển cho Trung cộng, các anh chị em trong nhóm “Câu Lạc Bộ Sinh Viên Việt Nam” ngày 24-2-2002 đã viết một bài có tựa đề “Cột Mốc 108 và Một Câu Chuyện Tình” (Trong Bạch Thư tố cáo Việt cộng hiến đất dâng biển cho Trung Cộng trang 348,349). Mục đích của bài viết muốn nhấn mạnh cột mốc 108 biên giới Việt Trung để chúng ta có dịp do sánh địa điểm này giữa hai thời điểm 1941 và 1999. Thế nhưng, Cột mốc biên giới đánh số 108 này cũng đã ghi lại dấu vết đầu tiên của HCM khi trở về nước và đã có một cuộc tình với cô gái Nùng họ Nông .
“Vào năm 1941 Nông Thị Ngát – còn có biệt danh là Nông Thị Trưng (tên do “Bác” Hồ đặt cho) là một cô gái tuổi đôi mươi người Tày rất đẹp có duyên nhưng lại mù chữ. Vốn trực thuộc cơ quan chi bộ phái của Trung Hoa Cộng sản Đảng tuyển chọn và huấn luyện để làm giao liên cho HCM, Nông Thị Trưng liên tục được HCM huấn luyện, bồi dưỡng, xoá dần mù chữ và một chuyện tình có thể xảy ra vào những năm tháng này”
Trên tờ Xuân Phụ Nữ năm Đinh Sửu 1997 xuất bản trong nước một bài viết có tựa đề “Cô Học Trò Nhỏ Của Bác Hồ” được tác giả Thiên Lý viết theo lời kể của chính đương sự Nông Thị Trưng đã cho thấy có sự gắn bó rất thắm thiết giữa người con gái Nùng tuổi đôi mươi với người đàn ông 51 tuổi trong cái hang Pác Bó gần cột mốc 108 này.
Sau đây là nguyên văn bài viết:
“Tháng 7 năm 1941, được tin Châu Hà Quảng đưa lính cơ tới bắt, ngay đêm ấy tôi trốn ra rừng, rồi được Châu Ủy đem qua Bình Mãng (Trung Quốc) lánh nạn tại nhà một đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc. Một hôm đồng chí Lê Quảng Ba và Vũ Anh đến đón tôi từ Trung Quốc về Pắc Bó gặp Bác.. Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm người giữ trạm đầu nguồn đưa ngay chúng tôi đi gặp “ông Ké”.
    Lội ngược suối càng đi nước càng sâu, khi đến thác thứ ba, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Trèo thang lên, thấy một cái lán dựng ngay trên bờ suối. Trong lán có ông cụ ngồi đọc sách. Tôi chắp tay “Cháu chào cụ ạ” ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: “Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện.” Tôi nhìn xuống sàn, thấy toàn cây to bằng bắp chân. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên tôi: “Từ nay cháu đã có một gia đình lớn là gia đình cách mạng, đừng luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu cặm cụi làm ăn cũng không đủ để nộp sưu thuế đâu. Mình lấy lại được nước rồi từng gia đình sẽ được đàng hoàng. Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng”. Bác đặt tên ấy là muốn tôi noi theo gương bà Trưng.
    Từ đấy tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ để học tập. Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản chủ nghĩa đến cả những cách ứng xử thường ngày như “Đừng làm một việc gì có thể khiến dân mất lòng tin. Mượn một cái kim, một con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, hỏi xem chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi”. Tám tháng được Bác chỉ dạy tôi học được hơn cả mấy chục năm học lý luận tập trung sau này. Bà Nông Thị Trưng ngừng kể để uống nước. Tôi để ý thấy ngôi nhà yên vắng lạ, không có dấu hiệu một người thứ hai ngoài chủ nhân sống ở đây. Đồ vật trong nhà chỉ có chiếc giường, bộ bàn ghế gỗ thường, chiếc xe đạp nam và cái ti vi đen trắng cũ kỹ.
Nhân đang vui chuyện, tôi hỏi về gia đình bà, chồng bà là một cán bộ Việt Minh cùng hoạt động những năm ba mươi, đã mất năm 1986. Được bốn con trai một gái, nay đều ở riêng. Bà sống đơn chiếc, tự “phục vụ” hoàn toàn . Người phụ nữ giàu nghị lực ấy đã trải qua nhiều thời kỳ gian khổ trong kháng chiến, vừa hoạt động, vừa nuôi con. Thậm chí, có lúc quá khó khăn đã phải ngưng công tác. Và cũng chính bác Hồ đưa người nữ cán bộ miền núi ấy trở lại với công tác.
    Trong dịp Quốc Hội đầu tiên, sau hoà bình, Bác mời các đại biểu Cao Bằng tới ăn cơm, thăm hỏi mọi cán bộ cơ sở cũ, và không quên cô học trò nhỏ ở Pắc Bó. “Trưng bây giờ làm gì ở đâu?”. Khi nghe trả lời: “Thưa Bác, chị Trưng nghỉ ở nhà”, Bác đổi sắc mặt, trách “Tại sao trước cách mạng khó khăn thế, nó vẫn hoạt động mà bây giờ lại nghỉ, các chú phải tìm hiểu rõ chứ”. Về sau, mỗi khi có dịp, Bác đều cử người gặp trực tiếp bà Trưng hỏi xem bà có gặp khó khăn gì để giúp đỡ.
    Bác còn có cả một bài thơ tặng người học trò nhỏ của mình. Bà Trưng kể: “Hồi ấy giữa năm 1943 Bác mới ra khỏi nhà tù Trưởng Giới Thạch, trở về Lũng Cát ở trong một cái lán dưới chân núi. Một hôm Bác cho gọi tôi đến đưa cho một quyển vở và bảo rằng “Bác vừa dịch xong quyển Binh Pháp Tôn Tử, Bác cho cháu”. Tôi giở ra, thấy ở bìa trong có bốn câu thơ viết bằng mực tàu:
“Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu ra công mà học tập
Mai sau cháu giúp nước non nhà.”
    Tiếc thay , trong những năm kháng chiến, không có điều kiện bảo quản, quyển vở quí ấy đã bị mối xông mất .”
Bài viết chấm dứt nơi đây.
    Vừa gặp nhau lần đầu, người con gái Nùng chấp tay “Cháu chào cụ ạ”. Có lẽ tiếng “cụ” nghe không “êm ái” nên HCM dặn dò “Từ nay ai hỏi, thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng”. Và bí danh “Già Thu” và “Nông Thị Trưng ” được khai sinh ra từ đó. Từ trước đến nay ông Hồ vẫn xưng mình là Bác với tất cả mọi người, riêng đặc biệt chỉ có mỗi một mình Nông thị Ngát là được làm “cháu” của “Chú Thu” mà thôi
Qua lời kể trên đây thì tình cảm của “Chú Thu” dành cho “cháu Trưng” rất đậm đà thắm thiết “Mỗi ngày một giờ liên tục như thế gần một năm trời từ tháng 9-1941 cho đến 13-8-1942 thì lớp dạy kèm chấm dứt, “Chú Thu” qua Trung Quốc, bị bắt , ra tù trở về lại Cao Bằng, tìm lại cô học trò xưa tặng nàng một bài thơ viết vài giòng trên quyển “binh thư” và kể từ đó tuy xa nhau nhưng “Chú Thu” vẫn theo dõi tận tình giúp đỡ cho “cô học trò nhỏ” của mình.
Tin từ nhóm “Câu Lạc Bộ Sinh Viên” cho biết thì “Kể từ đó Nông Thị Ngát đã vắng mặt khá lâu tại vùng biên giới này, mười năm sau Nông Thị Ngát bỗng nhiên được ưu đãi đặc biệt trở thành chánh án toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Người ta đặt câu hỏi việc gì đã xảy ra trong những năm tháng đó, Nông đã đóng góp gì mà chỉ sau mười năm trở thành tỉnh uỷ viên, uỷ viên ban chấp hành trung ương và là người đứng đầu ngành tư pháp tại một tỉnh xung yếu phía Bắc?
Như đã biết, tại Viêt Nam không có tự do báo chí, tất cả nằm trong tay Đảng. Nhà báo Kim Hạnh tổng biên tập của báo Tuổi Trẻ đã bị mất chức chỉ vì đăng tin HCM khi còn trẻ đã có một người vợ kèm theo đăng lá thư HCM gửi cho người vợ này. Vì sự thật đã không được phơi bày cho nên người dân chỉ còn biết đặt nghi vấn, tại sao Nông Thị Trưng lại được ưu đãi như thế? Tại sao tiểu sử Nông Đức Mạnh chỉ ghi: “Con một nhà cách mạng lão thành?” còn cô học trò nhỏ của ”Bác” thì chỉ hé mở chồng mình là “một cán bộ Việt minh cùng hoạt động những năm ba mươi”?. Tại sao lại phải dấu tên tuổi như vậy?.
Gần đây hơn, đáng tin cậy nhất là William Duiker đã tường thuật lại, trong cuốn sách viết về Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ hai) chuyện Nông Đức Mạnh đã tiết lộ với tác giả rằng ” MẸ TÔI, THÀNH VIÊN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ, ĐÃ PHỤC DỊCH CHO ÔNG HỒ VÀO NHỮNG NĂM ĐẦU TIÊN CỦA THẬP NIÊN 40…”
Một con người vốn bản tính lăng nhăng, thời gian ở ngoại quốc đã có tiếng là “anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu, rất diện, xức cả nước hoa cực thơm..”(Hồ Chí Minh có mấy vợ- Trần Gia Phụng) mà nay lại đứng trước cảnh tượng “nửa đêm, giờ tý, canh ba” trong một nhà sàn thanh vắng ông “ké” nhìn lên, hai mắt sáng, ân cần bảo: “Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện” thì liệu “ông Ké” có làm ngơ được không nhất là khi nhan sắc của “cháu” Nông Thị Ngát lại mặn mà duyên dáng dễ làm say đắm lòng người !
Xem như thế thì câu chuyện Nông Thị Ngát là một nghi vấn có nhiều khả năng xác thật để trả lời cho câu hỏi : AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH vậy.
Bí mật chuyện thâm cung bí sử triều đình đỏ Hà Nội.
  Tác giả: Nhàn SF

Những Người Đàn Bà của Hồ Chí Minh và Mẹ của Nông Đức Mạnh là ai?

Sau ngày cộng sản Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, nhiều tài liệu và tin tức được phổ biến về sự thật con người Hồ Chí Minh(HCM), cũng như về cuộc đời riêng tư của người lãnh tụ Đảng Cộng Sản Việt Nam.Mối tình với cô gái người Nùng tên Nông Thị Xuân được bạch hoá rõ ràng nhất qua nhiều nhân chứng còn sống viết và kể lại. Tại Hà Nội, cô Xuân được lệnh ở nhà riêng số 66 Hàng Bông Nhuộm, nhưng vẫn phải đến “gặp” bác Hồ. Năm 1956, Nông Thị Xuân sinh cho HCM một người con trai đặt tên Nguyễn Tất Trung. Sau đó Xuân có ý muốn chính thức hoá cuộc hôn nhân với “Hồ Chủ Tịch”. Ngày 11 tháng 2, 1957, vào khoảng 7 giờ tối, Xuân được ô tô đón sang gặp HCM. Sáng hôm sau, ngày 12 tháng 2, 1957, công an báo tin cho cô Vàng (em cô Xuân) là Xuân đã chết vì tai nạn ô tô. Liền sau đó cô Vàng đến thăm xác chị ở nhà thương Phủ Doãn và chứng kiến biên bản khám nghiệm tử thi của bác sĩ. Bác sĩ cho biết nạn nhân không chết vì tai nạn ô tô, vì khám toàn cơ thể không có dấu hiệu gì cả ngoại trừ vết nứt trên sọ đầu, và bác sĩ đã tuyên bố, có thể nạn nhân bị trùm chăn trên đầu rồi bị đập bằng búa.
Cô Vàng vội chạy về báo tin ngay cho người chồng sắp cưới là một bộ đội đang bị thương tật sống ở tỉnh Cao Bằng. Vàng biết chắc rằng cô cũng sẽ bị thủ tiêu vì cô chứng kiến sự thật chị của cô do HCM âm mưu sát hại.Thật vậy, ngày 2 tháng 11, 1957, cô Vàng bị giết chết và xác được tìm thấy trên sông Bằng Giang, đến ngày 5 tháng 11 xác mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ.
Tin này được phổ biến rộng rãi hơn nhờ lá thư của anh bộ đội này đệ lên Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch Quốc Hội CHXHCN VN, vào ngày 29 tháng 7, 1983, trước khi anh qua đời sau cơn bạo bệnh. Trong lá thư anh bộ đội đã kể đầy đủ chi tiết những gì cô Vàng đã kể cho anh nghe, cả việc bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn được HCM giao phó trông coi cô Xuân. Trong thư kể lại hình ảnh Trần Quốc Hoàn đã hãm hiếp cô Xuân rất tàn nhẫn trước đó một tuần khi được lệnh giết cô Xuân. Hơn nữa, anh bộ đội còn cho rằng Nguyễn Tất Trung có thể bị thủ tiêu nếu bị tiết lộ tông tích. Do đó đến ngày hôm nay người ta chưa biết Nguyễn Tất Trung làm gì và ở đâu. Tuy nhiên, năm 2007, nhà văn đấu tranh trong nước, bà Trần Khải Thanh Thủy, đã tìm hiểu về tông tích của Trung và chính bà đã tìm gặp anh ta. Qua việc kể lại của Trần Khải Thanh Thủy người ta không ngần ngại gì nữa khi cho rằng Nguyễn Tất Trung chính là con của HCM. Được biết anh ta hiện đang được Đảng “nuôi” đàng hòang trong khu nhà khá sang trọng tại Hà Nội.
Toàn bộ lá thư của anh bộ đội được đăng trong cuốn “Công Lý Đòi Hỏi” của cựu đảng viên Nguyễn Minh Cần, xuất bản 1997. Ông hiện tỵ nạn chính trị tại Nga. Ngoài ra, câu chuyện cô Xuân này cũng được nhắc tới trong cuốn “Đêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên, cũng một cựu đảng viên.
Nói chung về những người đàn bà trong đời HCM thì nhiều lắm. Người ta đã khám phá qua những tài liệu trong các văn khố bên Nga, bên Pháp, và các nơi. Sau hơn 20 năm sưu tầm nghiên cứu về con người HCM, ông William Duiker, mặc dù hâm mộ họ Hồ vì nghĩ rằng ông ta có lòng yêu nước (ông đã đọc những sách tuyên truyền của cộng sản?) cũng đã khám phá ra cái bản chất mưu mô của người cộng sản này, đồng thời tác giả còn đề cập đến những người phụ nữ đã đi qua trong đời Hồ.
Một cách vắn tắt, trước tiên phải nói đến Tăng Tuyết Minh, người vợ Hồ cưới đầu tiên tại Canton,Trung quốc. Hai người có đám cưới hẳn hoi. Không nắm rõ hai người làm đám cưới ngày tháng nào, nhưng vào tháng 4, 1927, Hồ bỏ Tuyết Minh đi hoạt động ở các khu vực khác theo chỉ thị của quốc tế cộng sản. Hơn nữa trong lúc này phe Tưởng Giới Thạch đang ruồng bắt các tổ chức cộng sản nên Hồ tìm đường tẩu thóat cũng là lý do đáng kể.
Sau đó thì phải nói tới mối tình được nhiều người bàn tán là giữa HCM và Nguyễn Thị Minh Khai vào đầu Xuân 1931. Theo Bùi Tín, một cựu đảng viên, lý lịch của Minh Khai được ghi trong tài liệu quốc tế cộng sản . Minh Khai ghi rõ ràng chồng là Lin (bí danh Nguyễn Ái Quốc tức HCM). Đã có lần ông Hồ đệ đơn lên cưới Minh Khai nhưng bị cấp trên Đảng Cộng Sản Quốc Tế bên Nga chưa cho phép. Minh Khai còn có bí danh là Trần Thai Lan, Phan Lan, nên sau khi HCM lấy bút hiệu T. Lan viết sách “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyên…” tự ca ngợi mình thì người ta cho rằng có thể Hồ lấy bút hiệu đó để tưởng nhớ đến Minh Khai, người nữ cán bộ cộng sản trẻ tuổi đã bị Pháp xử tử.
Trong “Ho Chi Minh” tác giả William Duiker có ghi một phụ nữ trẻ khác tên Lý Ưng Thuận (Lý Sâm), lúc đó là vợ của Hồ Tùng Mậu, đồng chí của HCM. Lý Sâm và HCM đã bị cảnh sát Hongkong bắt tại một phòng hotel khi hai người đang trong phòng ngủ, lúc 2 giờ sáng ngày 6, tháng 6, 1931. 
Sau khi bị tù tại Hongkong, Hồ có tên mới là Tống Văn Sơ. Sau khi rời khỏi HongKong, HCM đổi nhiều tên họ khác nhau để tiếp tục hoạt động. Có những nguồn tin cho biết khi ông trở về lại Nga, đàn anh cũng đã tìm cho Hồ một người phụ nữ Nga để làm vợ…Trong cuốn “Con Rồng Việt Nam” tác giả cựu hòang Bảo Đại ghi “Hồ Chí Minh có một người vợ Nga và có chung một người con gái, nhưng ông ta không bao giờ nhắc đến” ( trang 205). Sở dĩ cựu hoàng Bảo Đại biết chuyện này nhờ những dịp đi “công tác” với Võ Nguyên Giáp vào 1945. Sau khi cựu hoàng Bảo Đại biết rõ HCM là tên quốc tế cộng sản nên tìm đường lưu vong.
Một trong những người phụ nữ Tây Phương có cô Marie Bière. Thành Tín tức Bùi Tín ghi trong “Về Ba Ông Thánh”, xuất bản 5/1995, (trang 149): “ Theo tài liệu Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Biere nào đó..” Cũng theo Bùi Tín nói về tài liệu tham khảo của Sophie Judge, một nữ sử học gia Hoa Kỳ rành tiếng Việt đã bỏ nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm tài liệu về ông Hồ, nhất là 2 năm tại Moscow. Ông Hồ có người tình tên Vera Vasilieva. Vera có con gái riêng, và cô này kể cho bà Sophie nghe. “Về Ba Ông Thánh”, (trang 151): “Vào dịp đại hội 7 của quốc tế cộng sản, cô ta mới 10 tuổi, nhưng còn nhớ ông Hồ thường ghé chơi nhà mẹ cô ta và một số lần ngủ lại trên ghế dài vào năm 1934…
Theo tài liệu của bà Sophie Judge, Bùi Tín, cùng sách trên (trang 153): “Anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt , luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm. Ông còn để lại khi về nước một va-ly áo quần ông sắm cho vợ ông tòan là lọai sang, cô bé Nga này lấy ra dùng bao nhiêu năm mới hết!” HCM còn “yêu” cả vợ của Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu.
Ông Hồ cặp tay đi dạo với một cô gái Tây phương trong một hình được phổ biến rộng rãi ngoài đời và internet cũng không lấy làm lạ.(hình từ nguồn của Sở Mật Thám của Pháp). Lúc này ông Hồ đã khá già, có lẽ trên 70.
Đàn ông hay đàn bà thay chồng đổi vợ cũng là lẽ thường. Cái đám cưới chính thức với Tăng Tuyết Minh đã có nhiều tài liệu để lại, nhưng HCM và Đảng chưa bao giờ tuyên bố Hồ có vợ con, đừng nói chi bao mối tình khác diễn ra sau đó. Đàn ông độc thân dẫn bạn gái đi dạo là chuyện rất thường, hoặc nhiều vợ nhiều con có khi cũng được thế gian thông cảm. Nhưng khác thường là HCM đã tự tạo cho mình thành một huyền thoại khi vào năm 1948, chính HCM lấy bút hiệu Trần Dân Tiên viết “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch” tự ca ngợi mình, cho mình còn độc thân, cả đời chỉ biết lo cho dân cho nước.
Ghi nhận quan trọng là sau khi trở lại Việt Nam vào đầu thập niên 40, HCM hoạt động trong hang Pac Bo để mưu toan cướp chính quyền vua Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim, Hồ đã có những cuộc tình nghĩ rằng không ai khám phá nhưng dưới ánh sáng mặt trời mọi chuyện cũng đều bị vỡ tung. Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện khi nhắc tới những cuộc tình của HCM cũng có đề cập một người phụ nữ tên Đỗ Thị Lạc ngoài những người tình nổi tiếng khác của Hồ. Bà này đã sinh cho HCM một người con gái, nhưng sau đó thì hai mẹ con đều mất tích.
Thêm nữa, trong sách “Năng Động Hồ Chí Minh,” tác giả Thép Mới (cộng sản) cũng đã ghi (trang 143): “Bác giới thiệu với bản làng người nữ cán bộ hôm qua cùng về với Bác: -Đây đồng chí Lạc thay cháu Nông Thị Trưng về đây ở với đồng bào…”
Nông Thị Trưng là ai?
Đặc biệt hơn hết là môt phụ nữ cũng người sắc tộc thiểu số, Tầy, khá xinh đẹp tên Nông Thị Ngác (không ngạc nhiên vì vùng rừng núi Cao Bằng làm sao có gái Việt Nam chính thống). Lý do câu chuyện tình đặc sắc này được nổi bật những năm sau này là do cuộc phỏng vấn của tờ báo Xuân trong nước vào khoảng năm 1997. Nhà báo có phỏng vấn bà Nông Thị Ngác, một chứng nhân sống nói về “Bác Hồ”. Bà Ngác đã không dấu diếm chi cả những gì đã xảy ra trong thời gian HCM tại hang Pac Bo vào đầu thập niên 40. Bà kể hằng ngày Ngác đến “học tập” với HCM ròng rã cả năm. Hồ căn dặn Ngác không nên gọi Hồ bằng “Bác” mà hãy gọi là “Chú Thu” và xưng “Cháu”. Thế thì sau đó chú cháu tiê’p tục học tập…
Được biết sau thời gian rời Pac Bo, HCM cướp chính quyền thành công, trở thành người lãnh tụ chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, người nữ cán bộ gương mẫu mà Hồ yêu quý, tức Nông Thị Ngác, lại được cất chức làm Chánh Án Toà Án Nhân Dân tỉnh Cao Bằng…Ông Hồ yêu quý Ngác đến độ đặt cho người nữ cán bộ này một tên nữa là Nông Thị Trưng, ý giống như Trưng Trắc, Trưng Nhị vậy. Tin Nông Thị Ngác là ai cũng đã được người dân trong nước bàn tán. “Chú Thu” và “Cháu Trưng” cũng đã được nhắc tới trong các sách tuyên truyền của cộng sản, nhất là các tác giả Trần Khuê, Thép Mới…
Thép Mới kể lại trong “Năng Động Hồ Chí Minh” (trang 48) rằng sau 20 năm ngày rời Pac Bo, ông HCM trở lại, 1961, lúc này coi như sự nghiệp khá thành công, ông có thời giờ về thăm lại người cũ, cảnh xưa. Khi vào nhà thăm gia đình bà Ngác, HCM tiếp xúc với ông Dương Đại Lâm, người mà trước đây HCM đã gởi gắm Ngác vào gia đình (không nhắc Ngác đang ở đâu), các cháu vây quanh HCM thân mật. Tác giả còn nhấn mạnh một trong các cháu đã trở thành “thanh niên tuấn tú” góp phần xây dựng đất nước.
Cùng sách trên, Thép Mới ghi (trang 43): “Bác trực tiếp hỏi chuyện, nghe kể về hoàn cảnh gia đình và bản làng đau khổ, rất thương, nhận làm cháu nuôi, đặt cho bí danh là Trưng, Nông Thị Trưng. Trưng ở với vợ chồng Đại Lâm, tên tục là Sù, hàng ngày được đến lán Bác một giờ để Bác chỉ bảo.”…Như vậy rất rõ, Nông Thị Ngác có bí danh là Nông Thị Trưng.
Vào tháng 4, 2001, Nông Đức Mạnh từ một người chưa thâm niên về chính trị lại được đưa lên làm Tổng Bí Thư Đảng. Tin cho rằng Nông Đức Mạnh là con của HCM lan rộng khắp nơi, từ trong nước ra đến hải ngoại. Khi có lời đồn này dĩ nhiên phải có sự bắt nguồn nào đó đi ra. Được tin này báo ngoại quốc Time đã làm cuộc phỏng vấn hỏi Nông Đức Mạnh có phải là con của HCM? Ông Mạnh không trả lời xác quyết là phải hay không, nhưng nói là tại Việt Nam ai cũng là con cháu của Bác Hồ. Câu trả lời sau chót “chắc chắn ông ta không phải cha ruột của tôi” cũng không đủ tin Nông Đức Mạnh nói bằng sự thât.
Từ câu trả lời trên và thái độ dấu diếm thân thế gia đình, cùng với vai trò lãnh đạo tối cao một cách đi ngang, quần chúng dường như ai nấy đều ngầm nghi vấn Mạnh có phải là con của HCM? Vậy thì làm sao biết Mẹ của Nông Đức Mạnh là bà nào? May mắn thay cho những ai muốn tìm hiểu Nông Đức Mạnh là ai, vì chưa bao giờ Đảng Cộng Sản Việt Nam hay Nông Đức Mạnh tiết lộ với báo chí hay bất cứ ai biết về tên họ cha mẹ của Mạnh một cách rõ ràng, qua tài liệu sau đây.
Trong “Ho Chi Minh”, tác giả William Duiker, trang 575, viết: “In April 2001, the ralatively unknown government official Nong Duc Manh, widely rumored to be the illegitimate son of Ho Chi Minh, was elected general secretary of the VCP (Vietnamese Communist Party)- 14”
Số 14 để người đọc lật ra sau cuốn sách đọc tiếp footnote 14: “Nong Duc Manh has denied these rumors, but he concedes that his mother, a member of the Tay ethnic minority, served as Ho’s servant after the latter’s return to Vietnam during the early 1940s…”
Dịch: Vào tháng 4, 2001, người vô danh tên Nông Đức Mạnh chính thức nhậm chức trong cơ quan chính quyền, dư luận xôn xao bàn tán rộng rãi cho rằng Mạnh là con trai rơi của Hồ Chí Minh, và ông ta đã được chọn làm Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Nông Đức Mạnh phủ nhận những tin đồn này, nhưng ông ta lại công nhận rằng mẹ ông, một thành viên của dân tộc thiểu số Tầy, bà là người phục vụ ông Hồ sau khi ông Hồ trở về Việt Nam vào đầu thập niên 1940.
Nông Đức Mạnh sinh vào đầu thập niên 40. Báo Time phỏng vấn Mạnh vào 2002 và ghi ông ta được 61 tuổi. Như vậy thì ông Mạnh phải ra đời vào cuối 1941 hoặc 1942 . Sau ngày sách của Duiker xuất bản, 2000, và cuộc phỏng vấn của báo Time, trang web “Đảng CSVN” sửa tiểu sử Nông Đức Mạnh lung tung…Vào 2001, chính người viết có lần vào trang này thấy ghi rõ Nông Đức Mạnh con của “nhà cách mạng Nông Văn Lai và bà Hoàng Thị Nhị”, nhưng sau đó thì trống trơn không ghi gì cả . Biết đâu nhân vật Nông Văn Lai và Hoàng Thị Nhị này cũng giống như Lê Văn Tám mà Trần Huy Liệu đã nặn ra để lừa gạt mọi người trong nhiều thập niên qua? Hay Tạ Thị Kiều, một đặc công gái tưởng tượng, mà Xuân Vũ cũng một thời ca ngợi khi ông còn ở miền Bắc?
Rõ ràng câu trả lời của Nông Đức Mạnh trong sách của giáo sư Duiker và báo Time đã phần nào cho người đọc một kết luận về thân thế của ông ta. Mạnh đã trả lời mẹ là người Tầy, dân tộc thiểu số, phục vụ cho HCM trong thời gian Hồ trở về VN vào đầu thập niên 40.
Dư luận so sánh những câu chuyện kể của “Cháu Trưng” và “Chú Thu” khi Hồ ở hang Pac Bo cùng những tài liệu vừa trình bày trên để có những kết luận về cuộc đời tình ái của HCM và kẻ nối gót chính trị là ông Nông Đức Manh. HCM đã từng bị dân gian nêu danh là “bán nước hại dận”. Nay kẻ thừa kế tiếp tục con đường Hồ đã đi qua, tiếp tục làm tay sai cho đàn anh Tàu cộng, bán rẻ linh hồn cho quỷ đỏ, dâng đất nhượng biển, rước hàng chục ngàn dân Tàu cộng vào chiếm cứ miền Bắc và Trung hiện nay…
Bút Sử
Mùa Quốc Hận 30/4/2009
34 năm CS cưỡng chiếm miền Nam

Các “Cháu” của Hồ Chí Minh

Trong suốt quãng đời hoạt động của Hồ Chí Minh (HCM), ông có rất nhiều “cháu gái”, và ông cũng được  thế giới biết đến qua những “cơn hôn” từ trong nước ra đến hải ngoại. Báo Life (Aug 5, 1957) đăng tin HCM tại Poland và tặng danh là người cộng sản hôn nhiều nhất (the kissingest communist). Quanh ông thường có những “cháu gái” và phụ nữ trẻ mà Đảng Cộng Sản Việt Nam hãnh diện trưng bày những hiện tượng này.
Trên trang Congannghean.vn vào 2010 có đăng bài “Hồ Chí Minh và Sự Nghiệp Giải Phóng Phụ Nữ” của tác giả Nguyễn Minh Châu. Trong đó có nhắc tới việc HCM hỏi thăm các “cháu gái” nhân lúc các “cháu” từ Nam ra Bắc thăm “Bác.”
 Khi đoàn phụ nữ miền Nam vượt Trường Sơn ra thăm Bác, các chị được Bác đón tiếp thân tình. Thấy các chị gầy, xanh, hốc hác, Bác hỏi: “Các cháu kinh nguyệt có đều không?”.
Các chị xúc động đến ứa nước mắt. Một chị nhẹ nhàng thưa với Bác như đứa con nói riêng với mẹ: “Thưa Bác! do điều kiện ăn uống, vệ sinh kham khổ, thiếu thốn nên chúng cháu… rất thất thường”. (Congannghean.vn)
Vào giai đoạn HCM với bí danh Nguyễn Ái Quốc (NAQ) hoạt động cho quốc tế cộng sản, và được lệnh công tác bí mật tại Hongkong với tên người Tàu Tống Văn Sơ vào 1931. Lúc này có 8 cán bộ nữ làm việc với ông tại căn phố làm trụ sở thuộc thành phố Kowloon.
Trong số đó Nguyễn Ái Quốc vui mừng nhận ra một vài “cháu” của Người thuộc lớp đầu tiên ở Quảng Châu (Đồng Chí Hồ Chí Minh, E. Cô-bê-lép, trang 164)
Tác giả E Cô-bê-lép (một quốc tế cộng sản người Nga) đóng ngoặc kép chữ “cháu”. Trong một vài cháu này có “cháu” Lý Tam (sách William Duiker là Lý Sâm).
At 2 am on June 6, British police arrived at Quoc’s apartment in the crowded residental quarter of Kowloon. There they found a man in a second-floor flat in company with a young Vietnamese woman. The man claimed to be a Chinese by the name T.V.Wong while the woman identified herself as his niece Ly Sam (HCM, William Duiker, page 200) – Vào 2 giờ sáng ngày 6/6, cảnh sát Anh đến căn phố của Quốc tại một khu đông dân cư ở Kowloon. Tại đó họ khám phá ra một người đàn ông trong căn phòng lầu 2 cùng với một phụ nữ trẻ người Việt Nam. Người đàn ông nhận mình là người Tàu tên T.V. Wong đồng thời người phụ nữ tự khai là cháu của ông Wong tên là Lý Sâm
Tên chỉ huy chỉa súng lục vào vào những người Việt Nam ở trong phòng, hô lớn: Giơ tay lên, đứng im tại chỗ! Cũng may,  lúc này chỉ có hai người ở nhà. Đó là Nguyễn Ái Quốc và Lý Tam – một cô gái 17 tuổi. (Đồng Chí Hồ Chí Minh, E Cô-bê-lép, trang 167)
Có lẽ tác giả Cô-bê-lép dùng hai chữ “cũng xui” cho NAQ thì đúng hơn. Có thể cho rằng giai đoạn này NAQ có chỉ dấu phiêu lưu rõ rệt về mặt tình cảm với phụ nữ. Trước đó vài tháng, vừa dứt khoát với người vợ Tàu có làm đám cưới hẳn hoi là Tăng Tuyết Minh, ông ta quay qua luyến ái  với Nguyễn Thị Minh Khai, người phụ nữ trẻ được gửi qua Hongkong làm phụ tá cho NAQ vào 1930.
160px-Nguyen_Thi_Minh_KhaiNguyễn Thị Minh Khai
Tác giả cuốn “Ho Chi Minh A Life,” giáo sư William Duiker quả quyết rằng Hồ và Minh Khai có sự liên hệ tình dục, dựa vào những tài liệu ông thu thập. (C-SPAN interview, William Duiker, 2001, time: 1:08)4/1931, NAQ viết thư lên văn phòng cấp trên FEB (Far Eastern Bureau) để xin phép cưới Nguyễn Thị Minh Khai, nhưng bị từ chối vì thời gian tính. Lúc này NAQ 41 tuổi, Minh Khai 21 tuổi.
In a letter to Quoc in April, Nolens replied that he needed to know the date of the marriage two months in advance (HCM, William Duker, page199) – Trong lá thư viết cho Quốc vào tháng 4, ông Noulens (FEB) trả lời rằng ông ta cần biết ngày cưới trước 2 tháng.
Vào 1935, tại Moscow, nhân đại hội đảng cộng sản quốc tế lần 7, Minh Khai cũng có tên trong thành phần tham dự và ghi danh là vợ của Lin (bí danh của NAQ lúc đó). Sau đó, cũng tại Moscow,  Minh Khai làm đám cưới với Lê Hồng Phong.
Một cháu nổi bật vào giai đoạn NAQ trở về Việt Nam. Đó là Nông Thị Ngác. Theo tài liệu của Wikipedia:
Tờ báo Xuân Phụ Nữ năm Đinh Sửu 1997 xuất bản trong nước một bài viết có tựa đề “Cô Học Trò Nhỏ của Bác Hồ” được tác giả Thiên Lý viết theo lời kể của chính Nông Thị Trưng có đoạn: “Tháng 7 năm 1941, được tin (chính quyền) châu Hà Quảng đưa lính cơ tới bắt, ngay đêm ấy tôi trốn ra rừng, rồi được Châu uỷ đem qua Bình Mãng (Trung Quốc) lánh nạn tại nhà một đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Một hôm đồng chí Lê Quảng Ba và Vũ Anh đến đón tôi từ Trung Quốc về Pác Bó gặp Bác.
Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm người giữ trạm đầu nguồn đưa ngay chúng tôi đi gặp “ông Ké”. Lội ngược suối càng đi nước càng sâu, khi đến thác thứ ba, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Trèo thang lên, thấy một cái lán dựng ngay trên bờ suốị. Trong lán có ông cụ ngồi đọc sách. Tôi chắp tay “Cháu chào cụ ạ”. Ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: “Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện. ” Tôi nhìn xuống sàn, thấy toàn cây to bằng bắp chân. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên tôi: “Từ nay cháu đã có một gia đình lớn là gia đình cách mạng, đừng luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu cặm cụi làm ăn cũng không đủ để nộp sưu thuế đâu. Mình lấy lại được nước rồi từng gia đình sẽ được đàng hoàng. Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng”. Bác đặt tên ấy là muốn tôi noi theo gương bà Trưng.”
 Vở này ta tặng cháu yêu taTỏ chút lòng yêu cháu gọi làMong cháu ra công mà học tậpMai sau cháu giúp nước non nhà
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nguyên  thì bài thơ được viết năm 1944 và có tên “Tặng cháu Nông Thị Trưng“.
(trích từ Wikipedia)
b4a3f-cohoctronhocuabachoNông Thị Trưng
Người ta gọi ông Ké, Già Thu, nhưng với Nông Thị Trưng thì phải gọi là “chú Thu” xưng “cháu.” Cuộc tình lăm ly này có kết quả là Nông Đức Mạnh mà bằng chứng rõ nhất qua lời thú nhận gián tiếp của Mạnh trong sách của Duiker, tái bản lần nhì 2001 với ghi “note” chính xác hơn lần xuất bản đầu tiên năm 2000.
Nong Duc Manh has denied these rumors, but he concedes that his mother, a member of the Tay ethnic minority, served as Ho’s servant after the latter’s return to Vietnam during the early 1940s…(Ho Chi Minh A Life, William Duiker, 2001, notes 14, page 670) – Nông Đức Mạnh từ chối những tin đồn này, nhưng ông ta thừa nhận là mẹ của ông, một thành viên của cộng đồng thiểu số người Tầy, đã phục vụ như là một người chăm sóc cho ông Hồ sau khi ông ta trở về Việt Nam trong giai đoạn đầu thập niên 1940.
“Cháu” Trưng này rất được Hồ yêu chuộng và cũng là một cán bộ năng nổ. Giai đoạn HCM có quyền thế, bà cũng được cử làm chánh án tỉnh Cao Bằng.
Nhưng rồi có một “cháu” vô cùng bất hạnh khi HCM trong giai đoạn trở thành lãnh tụ uy quyền. Đó là nàng Nông Thị Xuân. Theo một số nhận xét trong vụ Xuân bị thủ tiêu bởi vì nàng này “dám” đòi làm vợ của Hồ Chủ Tịch sau khi hai người có một con trai, sinh năm 1956, sau này tên là Nguyễn Tất Trung, khi mà được tuyên truyền trong dân gian rằng cả đời Hồ chỉ biết lo cho dân cho nước không nghĩ tới chuyện vợ con.
download (theo tài liệu trong video Sự Thật về HCM)
Xuân bị tay sai của HCM là Trần Quốc Hoàn đập đầu chết rồi tạo ra tai nạn xe đụng. Những vụ giết người bịt miệng nhan nhản xảy ra trong chế độ cộng sản nói chung. Bản chất của người cộng sản HCM rất tiêu biểu, bởi không ác độc thì không phải là cộng sản, và chính họ cũng chủ trương rằng cứu cánh biện minh cho phương tiện cho dù phương tiện đó có tàn ác đến đâu cũng được.
Các “cháu” còn quàng khăn đỏ đang còn mờ mịt chưa biết đâu là sự thật. Các “cháu” đã qua thời khăn đỏ đang thấy ra một số sự thật về một người mà tất cả đều bị bắt buộc gọi là Bác. Hãy mạnh dạn từ bỏ sự liên hệ ô nhục. HCM là một người Việt Nam tồi tệ, một kẻ vong bản, bán nước cầu vinh, kẻ đã tạo ra Đảng Cộng Sản Việt Nam với chủ trương lừa dối, và Đảng  đã và đang đưa đất nước qua nhiều hệ lụy.
Bút Sử
08/2015
Sources: Ho Chi Minh, A Life, William Duiker, 2001; Đồng Chí Hồ Chí Minh, E Cô-bê-lép, 1985; Congannghean.vn; Công Lý Đòi Hỏi, Nguyễn Minh Cần, 1997; Wikipedia; Video Sự Thật về Hồ Chí Minh, 2009; Youtube.com; pictures from Internet.
Tổ ấm xa hoa của Nông Đức Mạnh và vợ trẻ
https://www.youtube.com/watch?v=09sH5IFl8r0

No comments:

Post a Comment