Friday, June 16, 2017

Bài viết hay(5060)

Mỗi khi trời nóng, tui ưa nấu món canh bầu với tôm khô cho dù lúc nào tui cũng khoái nhất là canh chua cá. Từ khi biết được tôm khô Louisiana, tui không còn mua tôm khô VN nữa. Ngay cả nhiều loại cá khô, khô mực từ VN cũng bị tui loại ; không phải vì lý do chính trị mà chỉ vì an toàn thực phẩm. Già rồi, ai hổng sợ bệnh và chết? Dù sao FDA và Health Dept ở Mỹ cũng làm cho tui an tâm hơn. Ngày xưa khi mẹ tui còn sống, tui thường được mẹ cho ăn canh chua cá bông lau, thịt kho với trứng, cá kho tộ, canh khoai mỡ với tôm và dưa mắm... Bây giờ mẹ không còn, tui phải online để học nấu ăn cho cha con tui bởi vì tui hổng thích con tui chỉ biết hamburger, pizza, hot dog mà quên đi cội nguồn của nó. Cho dù sinh ra ở Mỹ, nó vẫn là người Việt Nam kia mà. Bởi vậy ở nhà phải nói tiếng Việt, ăn món Việt.

Nếu tôi là Chủ tịch thành phố Hà Nội

Việc công an Hà Nội khởi tố bà con Đồng Tâm làm nổi lên 2 luồng dư luận:
1- Cho rằng đây là âm mưu, thủ đoạn của ông Chung vì ông là người cầm đầu chính quyền. Việc này ông tự chủ trương rồi lệnh cho CA thi hành hoặc ông được biết rõ và đồng ý để CA thực hiện.
2- Cho rằng đây là việc của bên Tư pháp, mà ông Chung là bên Hành pháp, hai bên độc lập với nhau. Việc ông Chung ký với bà con Đồng Tâm cam kết không truy cứu là không đúng chức năng và bây giờ CA khởi tố không liên quan gì đến ông.
Tôi xin đặt mình vào vị trí của ông Chủ tịch thành phố để xem nên như thế nào.
Sau khi đối thoại với bà con ở Đồng Tâm về, tôi xin phô tô bản cam kết để trình lên Thành ủy và ông bí thư Hoàng Trung Hải để xin được ủng hộ và tìm biện pháp thi hành. Đồng thời làm báo cáo lên Bộ Chính trị để nhận được chỉ đạo. Nếu ông Hải và Bộ chính trị buộc không được thi hành cam kết, buộc phải khởi tố thì tôi sẽ công khai thông báo lại cho bà con và công luận biết, tôi sẽ về lại Đồng Tâm, gặp lại bà con để cùng nhau tìm biện pháp khác. Tôi sẽ không im lặng tìm thủ đoạn đối phó. Bây giờ sự việc đã ra thế này, biết làm sao.

Trường hợp (1), khi việc khởi tố là do tôi chỉ đạo hoặc đồng ý thì tôi đã làm một việc quá ngu dại, quá đểu cáng, đã tự bóc trần mặt nạ, đã làm mất hết danh dự. Một người như vậy, nếu còn chút lương tri, còn biết trọng danh dự thì làm sao còn dám chường mặt ra để thiên hạ nhìn thấy. Có thể là vì áp lực của Đảng mà tôi phải làm như thế. Vậy thì trước khi giấu mặt đi phải nói ra cho nhân dân biết để cầu xin một sự thông cảm và tha thứ. Có thể việc làm như vậy sẽ dẫn đến hậu quả bị thi hành kỷ luật đảng. Đã ngu dại rồi có bị kỷ luật tôi cũng cố chịu để vớt vát một chút liêm sĩ đã đổ đi.
Trường hợp (2), nếu bên CA, lấy quyền độc lập về tư pháp để khởi tố mà không báo cho tôi biết thì khác gì chúng nó nhổ vào mặt tôi. Thế mà tôi chịu được à! Tôi sẽ lên tiếng. Trước hết tôi báo cho ông Hoàng Trung Hải, Bí thư Thành ủy. Đảng lãnh đạo toàn diện mà. Chuyện này có thể tôi không được biết trước, nhưng ông Hải thì chắc phải được biết chứ. Tôi sẽ báo và khiếu nại lên Bộ Chính trị, Thủ tướng chính phủ và Quốc hội vì bị bọn CA, không biết được ai chống lưng đã trát cứt lên mặt Chủ tịch thành phố. Khi mà tôi không được ông Hải, Bộ Chính trị, Chính phủ và Quốc hội đồng tình, họ cho tôi phạm sai lầm trong việc cam kết với bà con thì tôi sẽ ngay lập tức xin từ chức và về Đồng Tâm xin bà con tha tội. Đối với tôi làm một người trung thực, biết trọng danh dự quan trọng hơn chức Chủ tịch thành phố. Làm Chủ tịch là để lo cho dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân chứ không phải để lừa dối dân.
*
Vài lời với ông Hoàng Trung Hải và ông Nguyễn Phú Trọng.
Sự việc Đồng Tâm vừa qua và gần đây các ông biết cả chứ. Quan điểm của các ông thế nào khi việc này trực tiếp ảnh hưởng đến uy tín của Đảng? Phải chăng các ông làm ngơ, kệ cho ông Chung và CA Hà Nội làm gì thì làm? Không được. Các ông chủ trương Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối. Trong việc này tôi thấy lờ mờ bóng của các ông đàng sau lưng CA. Có thế nào các ông nên có ý kiến công khai để dân còn biết đường xoay xở.Nguyễn Đình Cống

Tham khảo một số mô hình nghị viện của các nước

Nghị viện của Việt Nam và Nghị viện của các nước khác đều có một số chức năng chủ yếu:
- Lập hiến, lập pháp,
- Quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia,
- Giám sát hoạt động của Chính phủ.
Các văn bản luật do Nghị viện thông qua đều có tác động lan rộng và lâu dài đến các quan hệ xã hội, nhưng ở nước ta, các văn bản đó có đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống xã hội hay không lại còn là một khoảng cách giữa văn bản và trên thực tế. Về chức năng giám sát cũng vậy. Khoảng cách đó lớn hay nhỏ tùy thuộc rất lớn vào cách bầu cử và tổ chức Nghị viện, cách thức và quy trình thông qua dự luật của Nghị viện.

Hiện nay, ở các nước, việc lựa chọn mô hình Nghị viện tùy thuộc nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố có tính quyết định là yếu tố cấu trúc nhà nước và quan điểm của các nhà chính trị. Chẳng hạn: Thể chế đại nghị và thể chế bán-tổng thống (hoặc thể chế tổng thống lưỡng tính) được xem là có nhiều ưu điểm nhưng cả 2 thể chế này chỉ hoạt động hiệu quả ở trường hợp có một Nghị viện mạnh. Xem như vậy, việc lựa chọn thể chế là quan trọng nhưng việc lựa chọn mô hình Nghị viện cũng không kém phần quan trọng. Có một Nghị viện mạnh thực sự đại diện cho lợi ích của nhân dân là sự cần thiết của mọi quốc gia.
Vì vậy, xin giới thiệu với bạn đọc một số mô hình Nghị viện của các nước khác, những ưu điểm và những hạn chế của chúng, để tham khảo, cùng nhau góp phần xây dựng Nghị viện nước ta trở thành một Nghị viện mạnh, thực sự đại biểu cho lợi ích của nhân dân, để làm đầy đủ trách nhiệm của người dân đối với Tổ Quốc và với chính mình và để không còn phải nghe những lời chỉ trích như một vị chủ tịch Quốc hội đã từng buộc tội chúng ta: “Quốc hội là của dân. Dân quyết sai thì dân chịu chứ ai chịu!”.
Nội dung bài này gồm:
A- Một số cách tổ chức Nghị viện của các nước trên thế giới.
B- Sơ lược về Nghị viện Hoa Kỳ
C- Sơ lược về Nghị viện Pháp và quyền lực của Tổng thống Pháp.
D- Nét đặc trưng của Nghị viện CHXHCN Việt Nam.
____________________
A- MỘT SỐ CÁCH TỔ CHỨC NGHỊ VIỆN CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THÉ GIỚI
Trước hết về tên gọi: Trong trường hợp Nghị viện chỉ có một viện thì Viện đó thường được gọi là Quốc hội (tiếng Pháp là Assemblée nationale). Nếu có 2 viện thì trong đó, một viện gọi là Hạ Viện (hoặc gọi là Viện Dân biểu, tiếng Anh là House of Representatives), Viện kia gọi là Thượng Viện (tiếng Anh là Senate, dịch là Viện Nguyên Lão, tiếng Pháp là Sénat), còn tên chung của cả 2 là Nghị viện. Ngoài ra còn có một số tên gọi khác, chẳng hạn Đức gọi Thượng Viện là Hội đồng liên bang. Nga gọi Hạ Viện là Viện Duma.
Hiện nay, các nước trên thế giới thường tổ chức Nghị viện gồm 1 viện hoặc 2 viện.
Tính đến năm 2014, trong số 245 quốc gia trên thế giới có 163 quốc gia có Nghị viện 1 viện, 82 quốc gia có Nghị viện 2 viện.
Nhìn chung, các nhà nước liên bang thường có Nghị viện 2 viện, trong đó có Liên bang Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Liên bang Đức, Canada, Brasil, Mehico, Malaysia… Các nhà nước đơn nhất thường có Nghị viện 1 viện, chẳng hạn Phần Lan, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp, Bungary, Hungary, Indonesia, Hàn Quốc, Trung Quốc, Iraq, Angola, Sudan…
3 yêu cầu căn bản của chế độ dân chủ đại diện mà Nghị viện phải đáp ứng
1- Nghị viện phải là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân, tức là đại diện cho lợi ích của các giai cấp, của các tầng lớp, lợi ích của các địa phương, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế giữa các bộ phận dân trong xã hội.
Để thực hiện yêu cầu này, tuyệt đại đa số các Nghị viện 1 viện và Hạ Viện của Nghị viện 2 viện (tức là Viện dân biểu) đều do nhân dân bầu ra thông qua cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu và trực tiếp (trừ Trung Quốc, Ấn Độ, Yemen, Indonesia kết hợp bầu với bổ nhiệm người vào Nghị viện).
2- Hoạt động lập pháp của Nghị viện phải đáp ứng yêu cầu của cuộc sống xã hội, phục vụ cho lợi ích của xã hội.
3- Phải thiết lập cơ chế giám sát hoạt động của chính Nghị viện, bảo đảm ngăn ngừa hành vi lạm dụng quyền lập pháp của chính Nghị viện.
Kinh nghiệm của một số quốc gia: Khi Hoa Kỳ mới giành được độc lập vào năm 1776, “học thuyết quyền tối cao của Nghị viện” của nước Anh đã có ảnh hưởng tới mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của Hoa Kỳ vì Hoa Kỳ áp dụng mô hình chế độ Nghị viện của Anh, dẫn đến hoạt động của Nghị viện Hoa Kỳ lấn áp nhánh hành pháp và nhánh tư pháp. Từ đó các nhà lập hiến Hoa Kỳ nhận ra rằng cùng với cơ chế kiềm chế đối trọng giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn cần phải lập cơ chế kiềm chế thẩm quyền rất lớn của chính Nghị viện. Mô hình Nghị viện 2 viện của Hoa Kỳ ra đời từ đó. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ đã được nhiều nước theo thể chế Tổng thống và nhiều nước khác tham khảo, vận dụng trong khi thiết lập Nghị viện.
Sự ra đời chế độ Nghị viện 2 viện ở các quốc gia Phương Tây
Lịch sử hình thành chế độ Nghị viện 2 viện (còn gọi là Lưỡng viện) bắt đầu từ nước Anh quân chủ lập hiến, vào thế kỷ thứ 14. Ở đa số các quốc gia Phương Tây, Nghị viện 2 viện được thiết lập theo học thuyết tam quyền phân lập của nhà triết học Pháp là Charles Louis Montesquieu (1689-1755) vào thời kỳ khai sáng. Khi đó Montesquieu sống trong xã hội quân chủ, có vua chúa, quý tộc và bình dân. Quan điểm của Montesquieu là cả 2 tầng lớp quý tộc và bình dân đều được tham gia thực hiện quyền lập pháp. Quyền lập pháp được giao cho 2 cơ cấu: một bên là đại biểu của quý tộc, một bên là đại biểu của dân chúng (là bình dân). Từ đó hình thành Nghị viện có 2 viện. Mỗi bên đều có Nghị viện để thảo luận riêng theo quan điểm và lợi ích của mình. Mặt khác, việc thành lập Nghị viện 2 viện còn để tạo ra sự cân bằng từ bên trong, để 2 bên đối trọng nhau trong quá trình lập pháp, loại trừ khả năng Nghị viện lạm dụng quyền lực lập pháp của chính mình. Thượng Viện là sự bổ sung cho Hạ Viện. Điều này đặc biệt cần thiết trong các nền Cộng hòa, ở đó Nghị viện luôn luôn có vị trí chủ đạo, có thể lấn át nhánh hành pháp và nhánh tư pháp.
Sau này, các nhà lập pháp ở Châu Âu chia xã hội thành 2 tầng lớp: lớp bình dân và lớp ưu tú (élite - là lớp có tài sản và có học). Hạ Viện là viện của lớp bình dân, Thượng Viện là viện của lớp ưu tú. Các dự luật đều phải thông qua 2 viện.
Việc thiết lập Nghị viện ở các nhà nước Liên bang còn có một lý do riêng. Khi bầu theo tỉ lệ số dân, bang lớn có số dân đông hơn sẽ có nhiều đại diện hơn bang nhỏ có số dân ít hơn. Điều này dẫn đến không bình đẳng về tiếng nói giữa các chủ thể trong Nghị viện. Thiết lập Nghị viên 2 viện là giải pháp để bảo vệ sự bình đẳng về tiếng nói của các bang trong Nghị viện, không phân biệt bang lớn hay bang nhỏ.
Có nhiều cách thành lập Thượng Viện: Hoặc bầu cử trực tiếp (như ở Hoa Kỳ, Ba Lan, Achentina, Italia, Mehico, Thụy Sĩ…), hoặc bầu cử gián tiếp (như ở Pháp, Nhật Bản…), hoặc bổ nhiệm (như ở Gioocdani do Vua bổ nhiệm). Ngoài ra còn có vài hình thức khác, như kết hợp giữa bầu và bổ nhiệm.
Nhiệm kỳ của Hạ Viện thường là 2 năm. Nhiệm kỳ của Thượng Viện có thể là 6 năm, hoặc 9 năm (ở Pháp).
B- SƠ LƯỢC VỀ NGHỊ VIỆN HOA KỲ
Hoa Kỳ là nhà nước liên bang, theo thể chế tổng thống, đa đảng.
Nghị viện Hoa Kỳ có dạng Nghị viện 2 viện. Hạ Viện (House of Representative, còn gọi là Viện Dân biểu) và Thượng Viện (Senate – Viện Nguyên lão). Cả 2 Viện này đều có quyền lực trong quy trình thông qua các dự luật. Thành viên của Hạ Viện gọi là Dân biểu được ấn định theo tỷ lệ dân số. Mỗi Dân biểu đại diện cho một hạt bầu cử, có nhiệm kỳ 2 năm. Thành viên của Thượng Viện gọi là Thượng nghị sĩ. Mỗi bang có 2 Thượng nghị sĩ, không ấn định theo tỷ lệ dân số, nhiệm kỳ 6 năm. Thành viên của 2 Viện đều được dân bầu trực tiếp.
Trong quy trình thông qua các dự luật, 2 viện có quyền ngang nhau.
Quyền hạn và giới hạn quyền hạn của Nghị viện Hoa Kỳ
- Quyền hạn của Nghị viện Hoa Kỳ được quy định ở Khoản 8 điều 1 Hiến pháp Hoa Kỳ, trong đó có những quyền hạn quan trọng nhất là:
Đánh thuế và thu thuế, vay mượn, quy định về thương mại giữa các bang và với nước ngoài, đúc tiền và in tiền, thiết lập các Tòa án trực thuộc Tối cao Pháp viện, phát triển và duy trì quân lực, tuyên chiến.
- Khoản 9 điều 1 Hiến pháp Hoa Kỳ quy định giới hạn thẩm quyền của Nghị viện, như không được đình hoãn quyền công dân khiếu nại trong thời gian bị bắt giữ (trừ trường hợp tham gia phiến loạn), không được thông qua luật cho phép bắt giữ mà không xét xử, không cho phép thông qua luật có tính hồi tố.
- Hiến pháp Hoa Kỳ xác lập nguyên tắc phân quyền với quyền lực được phân bố cho 3 nhánh là hành pháp, lập pháp và tư pháp. Nhánh lập pháp được quy định theo mô hình Nghị viện 2 viện, để bảo đảm nguyên tắc kiểm soát lẫn nhau và cân bằng quyền lực trong bản thân nhánh lập pháp.
- Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Viện Dân biểu (tức Hạ Viện) bầu Chủ tịch Viện Dân biểu. Chủ tịch Viện Dân biểu thường là lãnh tụ của đảng đa số. Chủ tịch Thượng Viện đương nhiên là Phó Tổng thống.
Các nhóm vận động hành lang
- Ở Hoa Kỳ, các Nghị sĩ thường đệ trình các dự luật theo yêu cầu của những nhóm vận động hành lang (lobbyist). Các nhóm vận động hành lang vận động nghị sĩ để thông qua hoặc bác bỏ những dự luật có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Các nhóm này có thể làm việc cho các công ty, các tổ chức chính trị, chính quyền liên bang hoặc chính quyền nước ngoài. Năm 2005, ở Hoa Kỳ đã có 35.000 người (ba mươi lăm ngàn) đăng ký làm vận động hành lang.
Trình tự lập pháp ở Nghị viện Hoa Kỳ
- Ở Hoa Kỳ, các dự luật trước tiên phải được xem xét bởi các Ủy ban thường trực của Nghị viện. Mỗi ủy ban có thẩm quyền về một lĩnh vực (ví dụ ủy ban ngân sách, ủy ban nông nghiệp…). Viện Dân biểu có 20 ủy ban. Thượng Viện có 16 ủy ban.
Mỗi dự luật phải trải qua một số giai đoạn xem xét ở mỗi Viện. Khi dự luật được xem xét ở một ủy ban, ủy ban này có thể tổ chức các cuộc điều trần, thu thập chứng cứ để xem xét dự luật. Các ủy ban cũng có thể sửa đổi dự luật nhưng chỉ có toàn thể Thượng Viện hoặc toàn thể Viện Dân biểu mới có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ dự luật. Khi ủy ban đệ trình lên, dự luật sẽ được toàn Viện xem xét. Tại đây, dự luật có thể được sửa đổi rồi biểu quyết bằng cách bỏ phiếu chấp nhận hay bác bỏ. Sau khi dự luật được 1 Viện thông qua, nó được gửi đến Viện kia xem xét. Để 1 dự luật trở thành luật, văn bản của dự luật phải được cả 2 Viện đồng thuận.
Quyền lực của Tổng thống Hoa Kỳ
Sau khi được cả 2 Viện thông qua, dự luật sẽ được trình lên Tổng thống. Tổng thống có thể ký ban hành để trở thành luật, hoặc phủ quyết, gửi trả lại Nghị viện kèm theo lời phản kháng. Tổng thống cũng có thể không ký ban hành, cũng không phủ quyết. Ở trường hợp bị Tổng thống phủ quyết, dự luật chỉ có thể trở thành luật khi cả 2 Viện biểu quyết với 2/3 (hai phần ba) số phiếu để vô hiệu hóa sự phủ quyết của Tổng thống. Ở trường hợp Tổng thống không phủ quyết, cũng không ký thì Hiến pháp Hoa Kỳ đã qui định sau 10 ngày, dự luật sẽ tự động trở thành luật. Nhưng nếu Nghị viện chấm dứt kỳ họp trong khoảng 10 ngày này thì dự luật không trở thành luật. Đây gọi là trường hợp pocket veto.
Tạo thế cân bằng trong chính phủ
- Ngoài chức năng lập pháp, một trong những chức trách khác của Nghị viện Hoa Kỳ là điều tra, giám sát nhánh hành pháp. Nghị viện có thể mở các cuộc điều tra, thu thập thông tin, phục vụ cho công việc lập pháp, kiểm tra tính hiệu quả của các đạo luật đã được ban hành và để tra vấn phẩm chất, thành tích của các thành viên và các viên chức của nhánh hành pháp, nhánh tư pháp trong hệ thống tam quyền phân lập của chính phủ.
- Hiến pháp Hoa Kỳ trao quyền cho Viện Dân biểu (tức Hạ Viện) luận tội các viên chức liên bang, kể cả hành pháp và lập pháp, về các tội hối lộ, nhận hối lộ, tội hình sự, hạnh kiểm xấu và tội phản quốc. Thượng Viện có quyền xét xử các vụ luận tội. Đã có 2 Tổng thống bị luận tội là Andrew Johnson (1868) và Bill Clinton (1999).
- Hiến pháp Hoa Kỳ dành riêng cho Thượng Viện một số quyền: Tổng thống không thể bổ nhiệm các viên chức chính phủ, thẩm phán, những viên chức cao cấp khác mà không có sự cố vấn và đồng ý của Thượng Viện. Tổng thống chỉ có quyền phê chuẩn các Hiệp ước khi có sự đồng thuận của 2/3 (hai phần ba) Thượng Viện.
C- SƠ LƯỢC VỀ NGHỊ VIỆN PHÁP VÀ QUYỀN LỰC CỦA TỔNG THỐNG PHÁP
Cộng hòa Pháp là nhà nước theo thể chế bán-tổng thống, đa đảng.
Nghị viện Pháp (tiếng Pháp là Parlement francais) có 2 viện, gồm Hạ Viện (gọi là Quốc hội, Assemblée nationale) và Thượng Viện (Sénat). Hiện nay (2017), Quốc hội có 577 Dân biểu, Thượng Viện có 348 Thượng nghị sĩ. Trong Quốc hội có 5 chính đảng.
Ở Pháp, từ "Nghị viện” đã xuất hiện rất sớm, từ cách mạng Pháp ở thế kỷ thứ 19, thời kỳ quân chủ lập hiến 1830-1848.
Chức năng và quyền hạn của Nghị viện Pháp
1- Thông qua luật do Chính phủ đệ trình hoặc do các Viện thuộc Nghị viện đệ trình.
2- Sửa đổi hoặc thu hồi luật.
3- Tuyên bố chiến tranh.
4- Đưa ra tình trạng giới nghiêm, sau khi bàn luận và thông qua Hội đồng bộ trưởng.
5- Giám sát công việc của chính phủ.
6- Chất vấn thành viên chính phủ.
7- Bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ tại Hạ Viện.
8- Phê duyệt chính sách chung của chính phủ tại Thượng Viện.
Thể thức bầu Nghị viện ở Pháp
- Dân biểu tức là đại biểu Hạ Viện được bầu theo phổ thông đầu phiếu trực tiếp và thông qua 2 vòng bầu cử. Mỗi khu vực bầu cử được chia thành nhiều quận với số dân trung bình khoảng 105.600 cử tri. Mỗi Dân biểu có thể giới thiệu người thay thế mình trong trường hợp có thể trở thành Bộ trưởng chính phủ.
- Thượng nghị sĩ được bầu theo cách phổ thông gián tiếp, thông qua các đại cử tri bầu. Ở Pháp, đại cử tri bao gồm các thành viên Hội đồng vùng, tỉnh, đại biểu Quốc hội. Nhiệm kỳ Thượng Viện Pháp là 6 năm, cứ 3 năm bầu lại 1/2 số Thượng nghị sĩ.
- Bầu cử Nghị viện Pháp năm 2017 vẫn thực hiện theo 2 vòng vào ngày 11/6 và ngày 18/6/2017 và theo cách bầu phổ thông đầu phiếu đơn danh đa số. Tại vòng 1, ứng cử viên nào đạt trên 50% tổng số phiếu bầu và tương đương 25% tổng số cử tri đăng ký tại đơn vị bầu cử đó thì trúng cử ngay. Nếu không có ứng cử viên nào trúng cử vòng 1 thì 2 ứng cử viên về đầu sẽ tự động được tham gia vòng 2. Nhưng bất cứ ứng cử viên nào thu được hơn 12,5% số phiếu, tính theo tổng số cử tri đăng ký tại đơn vị bầu cử đó cũng được vào vòng 2.
Ở vòng 2, ứng cử viên nào thu được nhiều phiếu nhất sẽ đắc cử Dân biểu Hạ Viện.
Thể thức bầu này có lợi cho những đảng lớn, bất lợi cho các đảng nhỏ là các đảng mà các ứng cử viên khó đạt 12,5% số phiếu ở vòng 1 vì vậy các đảng nhỏ vẫn đòi phải bầu Hạ Viện theo thể thức đại diện tỷ lệ (PR).
Theo đài Pháp RFI ngày 12/6/2017, tại vòng 1 ngày 11/6/2017, đảng cánh trung Cộng hòa tiến bước và các đồng minh của Tổng thống Emmanuel Macron là thành phần muốn đổi mới các hoạt động chính trị của nước Pháp đã thu được 32,22 % số phiếu là số phiếu cao nhất ở vòng 1, cao hơn tất cà các đảng phái tả và đảng phái hữu truyền thống.
Họp Nghị viện Pháp
- Ngoài những phiên họp thường lệ, Nghị viện có thể có kỳ họp bất thường theo một chương trình nghị sự cụ thể, do Thủ tướng đề nghị hoặc do đa số thành viên của Hạ Viện.
-Thủ tướng là người duy nhất có quyền yêu cầu triệu tập một kỳ họp mới của Nghị viện trong thời hạn 1 tháng, kể từ khi kỳ họp bất thường bế mạc. Ngoài các kỳ họp đương nhiên, các kỳ họp bất thường của Nghị viện phải được triệu tập, khai mạc và bế mạc theo quyết định của Tổng thống.
Bầu Tổng thống
Kể từ khi nền Cộng hòa thứ 5 được thành lập vào năm 1958, người dân Pháp không trực tiếp bầu Tổng thống mà bầu thông qua các đại cử tri. Sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1965, việc bầu cử Tổng thống được chính thức tổ chức theo hình thức phổ thông đầu phiếu.
Lương của Tổng thống Pháp hiện nay là 14.910 euros/ tháng (theo website http://elysee.fr).
Quyền lực của Tổng thống Pháp
- Quyền của Tồng thống Pháp được ghi trong Hiến pháp như sau:
* Công bố các đạo luật. Tổng thống có thể triệu tập một phiên họp Hội đồng lập hiến trước khi ký thông qua 1 đạo luật.
* Bổ nhiệm 1 số chức vụ quan trọng trong chính phủ (với sự phê chuẩn của Nội các).
* Bổ nhiệm 3 trong 9 thành viên của Hội đồng lập hiến, trong đó có Chủ tịch Hội đồng.
* Tiếp đón Đại sứ nước ngoài.
* Giảm nhẹ tội các tội phạm (không ân xá).
- Không giống với nhiều Tổng thống của các quốc gia Châu Âu khác, Tổng thống Pháp có nhiều thực quyền, nhất là về ngoại giao. Tuy Thủ tướng và Nghị viện điều hành việc lập pháp, Tổng thống có nhiều ảnh hưởng quan trọng, chính thức và theo thông lệ. Tổng thống là chức vụ cao nhất nước, cao hơn tất cả các chức vụ khác. Quyền quan trọng nhất của Tổng thống Pháp là chọn Thủ tướng. Nhưng ở Pháp, chỉ Nghị viện mới có quyền bãi nhiệm chính phủ của một Thủ tướng nên Tổng thống thường chọn một Thủ tướng được đa số thành viên Nghị viện tán thành.
- Tuy nhiên thực quyền của Tổng thống không phải là quyền ghi trong Hiến pháp mà phải dựa vào sự ủng hộ của Thủ tướng và Nghị viện. Khi phần đông Nghị viện không tán thành chính sách của Tổng thống thì dẫn đến tình trạng “Chính phủ đồng sinh” (cohabitation), quyền lực của Tổng thống lúc này bị giới hạn.
- Khi phần đông thành viên Nghị viện cùng quan điểm với Tổng thống thì Tổng thống đóng được vai trò tích cực hơn và Tổng thống điều khiển chính sách của chính phủ. Ở trường hợp này, nếu chính phủ không được dân tán thành thì Thủ tướng sẽ bị thay đổi.
D- NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA NGHỊ VIỆN CHXHCNVN
Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước đơn nhất, duy nhất 1 đảng, theo chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Quốc hội CHXHCNVN kế thừa Quốc hội VNDCCH nên lịch sử của Quốc hội CHXHCNV được tính từ khóa 1 là ngày 6/1/1946, đến nay đã trải qua 13 khóa và 8 đời Chủ tịch Quốc hội.
- Dạng thức Nghị viện: Nghị viện 1 viện, gọi là Quốc hội.
- Theo Hiến pháp 2013, Quốc hội CHXHCNVN có 3 chức năng chủ yếu: Lập hiến và lập pháp; Quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia; Giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.
- Quốc hội có 11 Ủy ban và Hội đồng, gồm: Ủy ban thường vụ, Hội đồng dân tộc, Ủy ban pháp luật, Ủy ban tư pháp, Ủy ban kinh tế, Ủy ban tài chính-Ngân sách, Ủy ban quốc phòng và an ninh, Ủy ban văn hóa-giáo dục-thanh niên-thiếu niên và nhi đồng, Ủy ban các vấn đề xã hội, Ủy ban khoa học-công nghệ và môi trường, Ủy ban đối ngoại.
Cơ cấu tổ chức nhân sự của Quốc hội
Căn cứ điều 4 Hiến pháp 2013, Chủ tịch Quốc hội được Ban chấp hành trung ương ĐCSVN đề cử. Trên 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên ĐCSVN. Các trưởng đoàn đại biểu Quốc hội của các tỉnh, của các thành phố trực thuộc trung ương thường là ủy viên trung ương đảng, kiêm bí thư tỉnh ủy hoặc bí thư thành ủy. Trong Chính phủ thuộc nhánh hành pháp, 100% thành viên là đảng viên ĐCSVN. Từ Thủ tướng đến Bộ trưởng thường là ủy viên trung ương hoặc ủy viên Bộ chính trị, kiêm đại biểu Quốc hội. Trong Tòa án tối cao thuộc nhánh tư pháp 100% thành viên là đảng viên ĐCSVN, chiếm giữ Hội đồng thẩm phán của Tòa án tối cao và Chánh án tòa án tối cao, cũng tham gia đại biểu Quốc hội. Quyền lực của ĐCSVN không những bao trùm Quốc hội thuộc nhánh lập pháp mà còn bao trùm toàn bộ 3 nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Lãnh đạo Quốc hội
Đảng cộng sản lãnh đạo Quốc hội thông qua Đảng đoàn Quốc hội, trong đó gồm các đảng viên cộng sản nắm các vai trò trọng yếu trong Quốc hội: Chủ tịch, Phó chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ban thường vụ Quốc hội.
Đảng đoàn Quốc hội chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Bộ chính trị, Ban bí thư của ĐCSVN.
Bộ chính trị ĐCSVN chỉ định các chức vụ Bí thư, Phó bí thư và các ủy viên Đảng đoàn của Quốc hội.
6 nhiệm vụ chủ yếu của Đảng đoàn Quốc hội
1- Lãnh đạo Quốc hội thực hiện đúng đường lối, chủ trương, nghị quyết của ĐCSVN.
2- Thực hiện các nghị quyết của ĐCSVN về tổ chức, cán bộ, quyết định những vấn đề về tổ chức, cán bộ theo phân công, phân cấp của Bộ chính trị.
3- Kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của ĐCSVN trong hoạt động của Quốc hội.
4- Được triệu tập đảng viên hoặc đại diện đảng viên ở các đoàn đại biểu Quốc hội, để bàn chủ trương, biện pháp thực hiện nghị quyết của ĐCSVN trong Quốc hội.
5- Báo cáo, kiến nghị với cấp ủy có thẩm quyền biện pháp xử lý đối với đảng viên là đại biểu Quốc hội vi phạm nguyên tắc kỷ luật Đảng trong hoạt động quốc hội.
6- Chịu trách nhiệm trước Bộ chính trị, Ban bí thư về những đề xuất và các quyết định của Đảng đoàn.
- Ngoài ra tùy những vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ chính trị hay thuộc Ban bí thư của ĐCSVN mà Đảng đoàn quốc hội phải trình lên xin ý kiến, chẳng hạn:
* Với những vấn đề mà Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có ý kiến khác với ý kiến Bộ chính trị trước khi Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội biểu quyết thông qua thì phải trình lên xin ý kiến của Bộ chính trị.
* Với những kiến nghị xử lý trách nhiệm cá nhân cán bộ thuộc diện Ban bí thư quản lý khi có vi phạm trong hoạt động Quốc hội thì phải trình lên xin ý kiến của Ban bí thư.
Nguồn tư liệu tham khảo:
- “Về mô hình nghị viện của các nước” của PGS TS Vũ Hồng Anh, Viện Lập pháp.
- “Nghị viện Hoa Kỳ, Pháp, Việt Nam”, Bách khoa toàn thư Wikipedia tháng 5 năm 2017.
Trịnh Kiên

Viện Phan Chu Trinh – Một tổ chức đáng nghi ngờ

Bài sau đây đáng lưu giữ làm tư liệu như một bằng chứng cho thấy “cảnh sát tư tưởng” có thể bịa chuyện và vu cáo trắng trợn như thế nào. Như nói IDS “bị giải thể do hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam” trong khi thực ra Viện không bị ai giải thể, mà là tuyên bố tự giải thể (và đến nay, thủ tục giải thể vẫn chưa xong), không phải vì vi phạm pháp luật, mà là vì phản đối quyết định số 97/2009/QĐ-TTg buộc các tổ chức nghiên cứu khoa học có phản biện ngược với chính sách của Chính phủ không được công bố. Như nói sau khi IDS giải thể, nhóm nhân sĩ trí thức của IDS mới thành lập Quỹ Phan Châu Trinh, trong khi Quỹ Phan Châu Trinh thực ra thành lập năm 2006 dưới tên Quỹ dịch thuật Phan Chu Trinh, đến năm 2008 được đổi tên thành Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh mà Chủ tịch là bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, một năm trước khi IDS tuyên bố tự giải thể. Như nói Quỹ Phan Châu Trinh được thành lập là “để kêu gọi tiền tài trợ, kêu gọi người dân xuống đường biểu tình chống Trung Quốc”, “hợp lý hóa ngân sách để nuôi một đội ngũ trí thức chống đối chính quyền”. Như nói trong số 61 thành viên của Ban Vận động thành lập Văn đoàn Độc lập Việt Nam, có những người “đã từng vào tù vô khám vì lý do làm gián điệp cho nước ngoài, tham nhũng”. Như nói Mai Thái Lĩnh, Hoàng Hưng bị khai trừ khỏi Đảng trong khi hai người chưa bao giờ là đảng viên. Vân vân và vân vân. 
Điều đáng nói không phải là một kẻ nói bậy, mà là lời nói bậy đó được đăng đàng hoàng trên báo chính thống mang danh tổ chức văn nghệ của TP.HCM (http://tuanbaovannghetphcm.vn/vien-phan-chu-trinh-mot-to-chuc-dang-nghi-ngo/). Nhan đề bài báo cho thấy tác giả của nó tập trung tấn công vào Viện Phan Châu Trinh – một tổ chức được thành lập hợp pháp do nhà văn Nguyên Ngọc làm Chủ tịch và bà Nguyễn Thị Bình là Chủ tịch danh dự. Qua đó, tác giả còn kết án Viện IDS, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, trang mạng Bauxite Việt Nam, Ban vận động Văn đoàn độc lập Việt Nam. Sau lời tuyên bố “không sợ đối thoại” của ông Võ Văn Thưởng, Trưởng ban Tuyên Giáo, bài này cho thấy thực sự người ta sợ đối thoại như thế nào và không ngần ngại dùng những thủ đoạn cũ rích để bịt mồm những ai có ý kiến riêng. Nếu “đối thoại” được hiểu là buộc tất cả phải nói theo đúng sự áp đặt của nhà cầm quyền, thì “đối thoại” chỉ là “đối thọi”. Có nên nhắc một bài học  kinh nghiệm chăng? Ngày xưa, trước khi xảy ra vụ án Nhân Văn – Giai phẩm, Đảng học tập ông anh Trung Quốc, phát động phong trào “bách hoa tề phóng” (trăm hoa đua nở), kết quả nói như cụ Phan Khôi, cái vườn tưởng có trăm hoa, chỉ nở ra tuyền một loại cúc vạn thọ! 
Văn Việt

Viện Phan Chu Trinh vừa được thành lập ngày 7/2/2017 thì ngay lập tức, Phạm Chí Dũng – quản trị của Hội nhà báo độc lập đã lên tiếng phê phán và được VOA đăng tải công khai ngày 22/2 với tiêu đề “Viện Phan Chu Trinh có hướng đến tinh thần Phan Chu Trinh”. Và cũng ngay lập tức, Bùi Minh Quốc – một “nhân sĩ trí thức” có nhiều bài đăng tải với ý vị chống Nhà nước trên các trang như Bauxite Việt Nam, Văn Việt… đã vội lên tiếng bênh vực “Viện Phan Chu Trinh, Nguyên Ngọc, tôi tin”. Thông qua cuộc tranh cãi này, ta có thể thấy không chỉ có phe dân chủ vô học đang đánh nhau mà cả dân chủ có học cũng đang thanh trừng nhau. Nhưng sự việc không chỉ dừng ở đây. Liên tục trên các mạng xã hội và những bài viết trên blog, các phát biểu trong các video clip, nhiều vấn đề của Viện Phan Chu Trinh do ông Nguyên Ngọc và Chu Hảo cầm đầu đã được dư luận phân tích, làm rõ sự nguy hiểm đối với trật tự xã hội của nó.
Buôn bán cổ nhân
Phan Chu Trinh là một chí sĩ yêu nước của Việt Nam vào hồi đầu thế kỷ XX, tuy nhiên cần phải nói rõ, việc buôn bán tư tưởng của nhà yêu nước Phan Chu Trinh cho những mục đích xấu xa không phải bây giờ mới có. Trước đây vài năm, lớn tiếng tuyên bố khai giảng khóa đầu của trường Đại học Phan Chu Trinh do ông Nguyên Ngọc làm hiệu trưởng, ông Chu Hảo làm hiệu phó như một mô hình đào tạo mới, tự do và dân chủ, hai ông đã tưởng đó sẽ là một nơi đào tạo cán bộ đấu tranh của hai ông. Ai ngờ, mô hình này thất bại thảm hại vì lượng sinh viên quá ít, chương trình học không thực tế và gặp nhiều vấn đề về tài chính dù đã bỏ không ít công sức đi ngửa tay xin tiền các bên trong và ngoài nước. Và ngay trong năm 2016, trường Đại học Phan Chu Trinh đóng cửa, mặt bằng bị thu hồi. Trường Đại học Phan Chu Trinh đã đóng cửa, thay vào đó hóa thân thành Viện Phan Chu Trinh để tiết kiệm tài chính và các nguồn lực nhân sự, lại vẫn được tiếng tốt là tổ chức học thuật. Quảng bá Viện Phan Chu Trinh chẳng qua chỉ để xóa đi cái sự kiện đau lòng đối với Nguyên Ngọc và Chu Hảo, đó là ngôi trường đã bị đóng cửa.
Cùng với trường Đại học Phan Chu Trinh, Quỹ Phan Chu Trinh cũng là một trò về buôn bán tên tuổi nhà yêu nước. Quỹ Phan Chu Trinh là một quỹ trao giải cho các sách hay được xuất bản hàng năm liên quan đến chủ đề nghiên cứu học thuật. Thế nhưng, quỹ này đa phần không trao hay khuyến khích các nghiên cứu học thuật có tính khoa học mà chỉ trao cho các nghiên cứu học thuật mang tính chính trị (có thể là bản thân công trình hoặc tác giả) mà toàn là các nhà chính trị “có vấn đề” với lịch sử cách mạng. Thông qua việc trao giải thưởng này, quỹ đã tác động đến giới học thuật, lái hướng nghiên cứu sang phục vụ các mục đích chính trị mà nhóm nhân sĩ trí thức này đề ra.
Nói thẳng, những hoạt động này chính là để làm sống lại cái thây ma IDS, tập hợp các trí thức bất đồng với chính quyền, viết bài trên báo chí và Internet để tạo dư luận nhằm thúc ép chính quyền theo những yêu sách họ đưa ra. Viện IDS bị giải thể do hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam. Sau đó, nhóm nhân sĩ trí thức này đã cùng nhau cổ vũ nhóm Bauxite Việt Nam, thành lập Quỹ Phan Chu Trinh để kêu gọi tiền tài trợ, kêu gọi người dân xuống đường biểu tình chống Trung Quốc nhưng thực ra là để gây hỗn loạn, thành lập Diễn đàn Xã hội dân sự, thành lập Văn đoàn độc lập… và đến giờ là thành lập Viện Phan Chu Trinh. Vẫn là những con người ấy, tư tưởng ấy, cách thức hoạt động ấy mà sân nào cũng đá một tí, cứ mỗi lần thất bại lại “ve sầu thoát xác”, đội lên cái lốt mới với cái tên gọi mỹ miều hơn.
Phan Chu Trinh là một chí sĩ yêu nước của Việt Nam vào hồi đầu thế kỷ XX, thế nhưng sang đầu thế kỷ XXI, cái tên của ông được nhắc đi nhắc lại như một tấm bình phong cho phong trào dân chủ ở Việt Nam với khẩu hiệu khá quen thuộc “nhân quyền”, “dân quyền”, “khai dân trí”… Để dựng lên một thần tượng thu hút quần chúng, việc chọn cụ Phan đáng kính cho thấy rõ mưu đồ tạo vỏ bọc mà chính quyền và người dân khó có thể lên án, nhằm thúc đẩy một mô hình dân chủ cải lương hay còn gọi thẳng ra là ngụy dân chủ. Cách thức này không khác mấy phong trào chống dự án Bauxite của nhóm ông Huệ Chi cũng núp dưới ủng hộ ý kiến của tướng Võ Nguyên Giáp để thúc đẩy hình thành phong trào đối lập vậy. Đi đầu trong phong trào ngụy dân chủ này là các trí thức thuộc Viện IDS cũ.
Quỹ Phan Chu Trinh là bước đi đầu tiên của chiến lược này. Quỹ này hỗ trợ học thuật chỉ là vỏ bọc, trên thực tế chủ yếu làm 2 mục đích. Mục đích thứ nhất là tạo biểu tượng Phan Chu Trinh gắn liền với công cuộc “khai dân trí” (thực chất thúc đẩy đi theo mô hình dân chủ phương Tây). Mục đích thứ hai là hợp lý hóa ngân sách để nuôi một đội ngũ trí thức chống đối chính quyền. Nếu nhìn lại danh sách các trí thức được giải của Quỹ Phan Chu Trinh, ta sẽ thấy rằng họ đều công khai hoặc ngầm ẩn tỏ thái độ bất bình với chính quyền. Quỹ Phan Chu Trinh còn hỗ trợ các nhóm “chém gió” trẻ tuổi tổ chức các sự kiện tại VUSTA 53 Nguyễn Du do ông Chu Hảo dìu dắt để truyền bá tư tưởng chống đối, mạo nhận là tinh thần Phan Chu Trinh.
Khi đã tập hợp được một lượng trí thức chống đối đông đảo, dù không thật sự giỏi chuyên môn nhưng rất giỏi chém gió, một loạt những hoạt động ồn ào khác được dấy lên. Nào là sự ra đời của Diễn đàn Xã hội Dân sự, nào là Ban vận động Văn đoàn độc lập, hết góp ý Hiến pháp không dựa trên cơ sở lý luận khoa học, lại vận động bầu cử phi pháp, rồi lại đến xuất bản sách ngoài luồng… Những trí thức này không bỏ qua bất cứ một cơ hội nào để kêu gọi một đám đông gắn mác “nhân sỹ trí thức” (không ít chẳng có tí chữ nghĩa nào cũng như chưa bao giờ hành nghề liên quan đến trí thức) để gây sức ép với chính quyền, ép chính quyền phải thực hiện các yêu sách của họ, ép chính quyền cho họ ngang nhiên nhận tiền của các thế lực chính trị nước ngoài. Họ tự thành lập một “thinktank”, nhưng “thinktank” này không đặt quyền lợi quốc gia làm trọng mà chủ yếu dùng để chống đối chính quyền, và quan trọng hơn, dễ dàng thu hút các nguồn đầu tư của nước ngoài cho họ nhiều hơn. Đáng nói hơn, gắn với tên ông Nguyên Ngọc còn có Văn đoàn độc lập hay là nơi tụ tập của kẻ bất mãn, bọn chống phá, lũ chiêu hồi. Lướt qua 61 gương mặt nhà văn trương tên lần đầu trong tổ chức này, ta thấy ít nhất là 15 người đã từng vào tù vô khám vì lý do làm gián điệp cho nước ngoài, tham nhũng, lợi dụng tự do để viết bậy, vài người là chiêu hồi chạy trốn đang sống lưu vong ở nước ngoài, 12 người là gốc Việt có quốc tịch nước ngoài. Hầu hết họ đều là những người có ân oán với Dân tộc! Những nhà văn nói trên trừ Nguyên Ngọc chẳng ai có gương mặt sáng sủa và có tác phẩm nào đáng giá để cho công chúng đọc. Nếu có chăng là một vài tác giả vì “nhận thức lại” đã bị khai trừ khỏi Đảng như Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh, Hoàng Hưng… Đằng sau tất cả những điều ấy là một mưu đồ làm chính biến của những trí thức nửa vời mà Quang A, Nguyên Ngọc là tiên phong, còn Chu Hảo ở trong màn trướng chỉ huy.
Mượn danh người đã khuất để làm chính trị, núp bóng những lãnh đạo Đảng là con cháu cụ Phan đã nghỉ hưu, đây quả thực là một thứ chính trị ký sinh. Tức là sao? Tức là tự bản thân nó không sống được, phải tạo vỏ bọc, không danh chính ngôn thuận, không dám thể hiện đúng “bản chất” của mình. Bản chất của những người núp bóng cụ Phan không hề thực tâm khai dân trí, không mang lại nhân quyền, dân quyền, họ chỉ muốn biến người dân thành công cụ cho mưu đồ đen tối.
Tuần báo Văn Nghệ TP.HCM số 452

Phát biểu của Ts. Nguyễn Đình Thắng tại Đại Lễ kỷ niệm 78 năm khai sáng nền đạo PGHH

Ngày 11 tháng 6, 2017
LTS: Dưới đây là phần phỏng ghi lời phát biểu của Ts. Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám Đốc kiêm Chủ Tịch BPSOS, tại Đại Lễ đánh dấu 78 năm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng nền đạo Phật Giáo Hòa Hảo, tổ chức tại Maryland, ngày 11 tháng 6, 2107.
Thưa Quý Vị Trưởng Thượng, Quý Vị Chủ Tịch và Đại Diện các tổ chức cộng đồng và hội đoàn, Quý Vị trong ban tổ chức và Quý Vị trong Ban Trị Sự Trung Ương PGHH Hải Ngoại.
Tôi có duyên đặc biệt với PGHH. Trong 25 năm qua tôi đọc khá nhiều tài liệu về PGHH, làm việc với nhiều tín đồ PGHH ở hải ngoại và trong nước. Đây không phải là lần đầu tôi thấy chân dung của Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ. Nhưng hôm nay bức chân dung ấy làm dâng lên trong tôi nỗi xúc động lạ thường. Lúc nãy, khi các vị rước bức chân dung ngang sân khấu, tôi đứng ở ngay hàng ghế đầu và có cảm giác bậc tiền nhân cách đây 4 thế hệ đang lừng lững tiến lại mình, chau mày đăm chiêu vì vận nước, ưu tư về dân tộc. Quý vị hãy nhìn xem bức chân dung đang đặt trên sân khấu, có đúng vậy không? Quý vị thấy nét chau mày ấy chứ? Nét chau mày của chàng trai nước Việt, của một anh hùng dân tộc trước vận nước ngả nghiêng, xã hội suy đồi, kiếp dân lầm than.
Khi còn ngồi ở dưới kia, tôi không rời mắt khỏi bức chân dung, như bị thôi miên bởi nét chau mày. Tôi có cảm giác đó là ánh mắt của bao thế hệ tiền nhân chất vấn chính tôi, và cả thế hệ của chúng ta: 4 thế hệ đã qua, dân vẫn lầm than, nước vẫn nguy vong, chúng ta đã làm gì? Nét chau mày ấy cũng là lời réo gọi chính tôi, và tất cả chúng ta: Hãy tiếp nối sứ mệnh lịch sử dang dở của tiền nhân.
Tôi biết rằng mọi người nơi đây đều có lòng với đất nước và dân tộc. Tôi biết chắc như vậy. Chúng ta đều mong muốn dân tộc thoát khổ nạn, đất nước không mất nền độc lập.
Điều ấy chúng ta làm được. Chúng ta có thừa năng lực, thừa phương tiện, và thừa cơ hội để làm được. Nhưng phải làm đúng cách. Sau đây tôi trình bày cách để bất kỳ ai, nếu thực lòng, thì ngày mai 8 giờ sáng thức dậy là có thể bắt tay ngay vào việc. Và khi chính mỗi người khi bắt tay hành động thì sẽ tự mình thấy được sự đổi thay từng bước nhưng rõ rệt ở đất nước.
 
Quang cảnh Đại Lễ kỷ niệm 78 năm khai sáng nền đạo PGHH, Silver Spring, Maryland (từ video của Mike Trí Đỗ)
Phần giới thiệu tiểu sử của Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ lúc nãy có nói đến những tháng ngày bôn ba đó đây để tổ chức những cộng đồng PGHH khắp vùng Nam Bộ. Tổ chức người dân thành lực lượng chính là yếu tố để thay đổi đất nước.
Trong một xã hội, nhóm nào tổ chức giỏi thì kiểm soát các nhóm kém tổ chức. Đó là quy luật đúng cho mọi nơi, mọi thời. Chính quyền là một tổ chức. Nếu người dân rời rạc thì đương nhiên bị chính quyền khống chế. Muốn thay đổi thì người dân phải tập hợp lại thành tổ chức đủ vững chãi để kiểm soát được chính quyền. Quý vị ngồi đây chính là một ví dụ. Chúng ta đã tập hợp lại để thể hiện quyền của công dân Mỹ. Qua các tập hợp như vậy, người dân Mỹ kiểm soát chính quyền và không cho phép bất kỳ đời Tổng Thống nào đi quá đà.
Ở Việt Nam, người dân ở từng địa phương phải tổ chức lại thì mới có thể đẩy lùi sự độc đoán của chế độ. Tuy nhiên, việc tập hợp không dễ vì dăm ba người ngồi lại với nhau là bị đàn áp, bắt bớ. 
Chúng tôi xin chia sẻ công thức để vượt qua sự khống chế khắc nghiệt ấy. Quý vị ở đây mỗi người chỉ cần tìm 3 người, 5 người thân quen, tin nhau, để lập thành một nhóm kết nghĩa dài lâu với một cộng đồng cụ thể ở Việt Nam, như là cộng đồng các tín đồ PGHH trong khu xóm nơi nhà anh Nguyễn Hữu Tấn, người mới đây chết trong đồn công an. Nhóm kết nghĩa của quý vị sẽ yểm trợ tinh thần để người ở trong nước bớt sợ hãi, và cung cấp phương tiện kỹ thuật và vật thể để họ liên lạc ra ngoài và học cách tự bảo vệ. Tuỳ khả năng, nhóm kết nghĩa có thể tài trợ cho một hoặc hai người của cộng đồng ấy hoạt động toàn thời để củng cố tổ chức, huy động người dân, và liên lạc với bên ngoài. Công thức “nhóm kết nghĩa” chính là cách thiết thực để "trợ tế nhân dân" mà lúc nãy có người nói đến khi giới thiệu sứ mệnh cứu đời của Đức Huỳnh Giáo Chủ.
Khi được tin về cái chết của anh Tấn, chúng tôi đã mau chóng lập nhóm kết nghĩa với gia đình của nạn nhân. Một người ở Bà Rịa – Vũng Tàu tình nguyện thu thập thông tin thô, rồi chuyển cho Cô Mỹ-Hạnh ở Atlanta để viết thành bản báo cáo. Chị Trúc Nương ngồi ở đằng kia dùng bàn báo cáo ấy để đi vận động Quốc Hội, Bộ Ngoại Giao, Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế và nhiều nữa. Mọi việc diễn ra chớp nhoáng và hiệu quả, cho thấy tác dụng của một nhóm kết nghĩa dù chỉ mang tính cách tạm bợ và dù không một ai trong đó là người PGHH cả.
Với mỗi nhóm kết nghĩa trong-ngoài, chúng tôi huấn luyện cho cả hai đầu. Cộng đồng trong nước học cách thu thập thông tin về vi phạm nhân quyền. Nhóm kết nghĩa học cách viết bản báo cáo theo đúng tiêu chuẩn quốc tế và vận động quốc tế để bảo vệ cộng đồng ở trong nước. Như vậy, nhất cử nhất động của chính quyền Việt Nam, dù ở những nơi xa xôi hẻo lánh, thì cả thế giới vẫn đều biết, và biết rất nhanh, rất chính xác, rất đầy đủ.
Quốc tế vận không khó. Điển hình là cô Nguyễn Thị Mỹ-Phương, chị ruột của anh Nguyễn Hữu Tấn, đang có mặt ở đây. Tôi mời cô Mỹ-Phượng đứng dậy cho mọi người thấy.
Trong suốt 20 năm qua, cô Mỹ-Phượng chỉ cặm cụi làm ăn để gửi tiền về giúp gia đình ở Việt Nam. Nhưng sau cái chết thảm khốc của người em, cô Mỹ-Phượng đã đến Quốc Hội Hoa Kỳ để vận động và cô đã vận động rất hiệu quả. Hình ảnh của cô Mỹ-Phượng kêu cầu quốc tế cứu mạng cho thân nhân đã lan truyền trong nước và khắp thế giới. Dân Biểu Christopher Smith đã lập tức gửi văn thư cho Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam để yêu cầu can thiệp. Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn đã gặp cha, mẹ, một người anh và một người em của anh Tấn. Chính quyền địa phương và chính quyền tỉnh đã bớt hung hãn. Các toán công an chìm nổi vây quanh nhà anh Tấn đã rút đi. Dịch vụ internet được nối lại. Và ngay lúc chúng ta đang ngồi đây, một phái đoàn Quốc Hội Đức có mặt ở Sàigòn cũng nêu trường hợp của anh Nguyễn Hữu Tấn với chính quyền Việt Nam.
Một nhóm kết nghĩa tạm bợ, gồm những người không hề quen biết nhau và chẳng ai là tín đồ PGHH, nhưng làm đúng cách mà đã có được hiệu quả trong thời gian ngắn như vậy. Một nhóm kết nghĩa dài lâu, bền chặt và được huấn luyện thì chắc chắn còn hiệu quả hơn nữa. Chúng tôi kêu gọi một số quý vị có mặt ở đây hãy lập ngay nhóm kết nghĩa với cộng đồng tín đồ PGHH ở khu xóm của gia đình anh Tấn. Chúng tôi sẽ hướng dẫn từng bước để phối hợp trong-ngoài.
Tôi xin các quý vị khác cũng làm như thế với tất cả các cộng đồng PGHH ở Việt Nam. Một người phát biểu trước tôi chỉ ra rằng, khi bôn ba các nơi để tổ chức người dân Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ không có được các điều kiện và phương tiện thuận lợi như chúng ta ngày hôm nay. Đúng vậy, chúng ta không thiếu điều kiện, phương tiện và cơ hội. Vấn đề là có làm đúng cách hay không thôi. Tôi biết rằng có nhiều hệ phái PGHH khác nhau và có thể không hạp hay không hợp tác với nhau. Không sao cả. Nhóm A ở ngoài này kết nghĩa với nhóm A ở trong nước. Nhóm B với nhóm B. Nhóm C với Nhóm C. Cứ làm song song nhưng cùng cách thì mọi người vẫn sẽ cùng góp phần cho đại cuộc thay đổi đất nước.
Và mô hình này áp dụng cho mọi cộng đồng tôn giáo và sắc tộc, Cao Đài, Phật Giáo,Phật Giáo Khmer Krom, Công Giáo, Tin Lành, Tin Lành Tây Nguyên, Tin Lành Hmong… Một khi nơi nơi trên đất nước chính quyền địa phương đều sợ dân, và dân kiểm soát được chính quyền thì đó là khởi điểm cho tiến trình dân chủ hoá trong hoà bình, một cách bền vững và không thể thoái lui.
Công thức kết nghĩa tận dụng lợi thế của chúng ta ở ngoài này, là công dân Hoa Kỳ, công dân Canada, công dân Pháp, Đức, Ý, Úc, Nhật… Chế độ cộng sản ở Việt Nam đang cầu cạnh các quốc gia trong thế giới tự do để xin viện trợ, mở rộng mậu dịch, giúp đỡ quốc phòng và kinh tế… nhằm cứu vãn chế độ. Trong 6 năm qua chúng tôi vận động quốc tế ép Việt Nam, đổi lại, phải tôn trọng nhân quyền. Việt Nam cam kết rất nhiều, đinh ninh rằng cứ hứa nhưng làm sai thì ai biết. Công thức kết nghĩa trong-ngoài sẽ làm cho cả thế giới sẽ biết rất nhanh và rất rõ nhất cử nhất động của chế độ.
Mới đây chúng ta lại đã vận động thành công 2 luật với các biện pháp trừng phạt khi chế độ vi phạm lời hứa. Họ không thể cam kết rồi vi phạm một cách vô tội vạ được nữa. Họ đụng đến cộng đồng ở trong nước thì cũng là đụng chạm đến nhóm kết nghĩa ở ngoài này, và nhóm công dân Mỹ ấy có thể vận động chính phủ Hoa Kỳ áp dụng biện pháp trừng phạt.
Ngày 29 tháng 6 tới đây sẽ là lần thứ 7 BPSOS tổ chức Ngày Vận Động Cho Việt Nam tại Quốc Hội Hoa Kỳ. Chúng tôi mời tất cả quý vị ở các thành phố hay tiểu bang Hoa Kỳ thành lập phái đoàn để đến Quốc Hội vào ngày này. Chúng tôi sẽ sắp xếp các buổi hẹn và, nếu cần, cử người có kinh nghiệm đi cùng với phái đoàn của quý vị đến gặp các dân biểu và thượng nghị sĩ. Mỗi phái đoàn sẽ có sẵn trên tay các danh sách đề nghị chế tài theo luật Hoa Kỳ. Trong đó có danh sách các giới chức chính quyền liên can đến cái chết của anh Nguyễn Hữu Tấn.
Tôi kêu gọi mọi người hãy đồng hành cùng chúng tôi để thay đổi đất nước. Gánh nặng lịch sử đang ở trên đôi vai của thế hệ chúng ta. Chúng ta không thể chối bỏ. Nét chau mày của tiền nhân trên bức chân dung kia đòi hỏi chúng ta phải tự vấn lương tâm và trách nhiệm. Chúng ta đừng phụ lòng các thế hệ tiền nhân, và đừng để bị trách cứ bởi các thế hệ đến sau.
Quý vị nào muốn trao đổi thêm về công thức nhóm kết nghĩa, xin gặp tôi ở phía cuối hội trường. Tôi sẽ ở nán lại đến phút chót.Ts. Nguyễn Đình Thắng

No comments:

Post a Comment