Tuesday, June 20, 2017

Bài viết hay(5072)

Phải công nhận VC hay thiệt khi cai trị độc tài như vậy mà mấy ông cha/ sư/ nhà báo, mấy bà ni cô, mấy đứa SVHS và nhất là trí thức đều sợ phát khiếp mà hổng dám hó hé lộn xộn như thời tonton. Ngẫm nghĩ lại mới thấy ông Trang Sĩ Tấn ngày xưa còn hiền quá xá khi CSQG làm ngơ cho SVHS tha hồ chế bom xăng quăng vô xe GMC của Mỹ; thậm chí gái điếm, mấy bà gánh hàng rong, tài xế taxi, cyclo còn xúm lại bề hội đồng lính Mỹ mà các chú "bạn dân" cứ tỉnh bơ chờ MP hay QC đến.Dân miền Nam yêu nước thiệt nên ai nấy nghe theo VC mà tích cực "chống Mỹ cứu nước". Hổng dè Mỹ rút, VC vô, thiên hạ từ từ sáng mắt thì lại lục tục năn nỉ van xin Mỹ trở lại. Lắm đứa chống Mỹ ngày nào thì nay lại cho con qua Mỹ du học rồi kết hôn giả để được ở lại làm thuê cho Mỹ. Vui thiệt!


Nhà nước với côn đồ qua lời cảnh báo của tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế

1. HRW: Giới hoạt động nhân quyền Việt Nam 'không chốn dung thân'

clip_image001
Người dân biểu tình phản đối vụ bắt nhà hoạt động Hoàng Bình; Diễn Châu, Nghệ An, 15/5/2017

Phúc trình của Human Rights Watch phổ biến hôm 19/6/ 2017 nói rằng tại Việt Nam các blogger và các nhà tranh đấu cho nhân quyền bị đánh đập, đe dọa, và hăm dọa trừng phạt. Chính phủ Việt Nam phải ra lệnh chấm dứt tình trạng này và buộc những kẻ vi phạm chịu trách nhiệm. Các chính phủ cấp viện phải yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam chấm dứt trấn áp, và rằng đàn áp tự do Internet, phát biểu ôn hòa và hoạt động tranh đấu sẽ gánh chịu những hậu quả.
Phúc trình 65 trang nhan đề 'Không chốn dung thân cho các nhà hoạt động vì nhân quyền - Các nhà vận động dân chủ và blogger ở Việt Nam bị tấn công' nêu rõ 36 trường hợp những kẻ không rõ lai lịch, mặc thường phục hành hung những người tranh đấu cho nhân quyền và các blogger trong khoảng thời gian từ tháng 1/2015 đến tháng 4/2017, và thường gây ra thương tích trầm trọng. Các nạn nhân thuật lại rằng nhiều vụ hành hung diễn ra ngay trước mắt công an mặc sắc phục mà họ không can thiệp.
Ông Brad Adams, Giám đốc châu Á của HRW, nói: "Tình trạng các nhà hoạt động ở Việt Nam có nguy cơ bị bỏ tù vì nói lên ý kiến của mình là đã quá tệ rồi, giờ đây họ lại còn phải đối mặt với nguy cơ mất an toàn hàng ngày, chỉ vì thực thi các quyền cơ bản của mình. Chính phủ Việt Nam cần phải nói nói rõ rằng kiểu hành xử đó sẽ không được dung thứ, và chấm dứt chiến dịch tấn công những người vận động cho nhân quyền theo cách thức đó".
Human Rights Watch ghi nhận một chiến thuật hành hung các blogger và các nhà tranh đấu cho nhân quyền trên khắp cả nước, từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang, và Vũng Tàu, và tại các tỉnh như Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Dương, Lâm Đồng, và Bắc Giang.
Nhiều vụ hành hung xảy ra trước công chúng, ngay trên những đường phố ở Việt Nam, như vụ hồi tháng 7/2016 khi nhà hoạt động tranh đấu cho môi trường Lã Việt Dũng bị tấn công khi đang trên đường về nhà sau buổi sinh hoạt xã hội với Câu lạc bộ No-U Football ở Hà Nội. Những kẻ không rõ lai lịch đã dùng gạch đập vào đầu, làm chấn thương sọ não ông Dũng.
Tháng 5/2014, những kẻ lạ mặt dùng cây sắt đánh nhà tranh đấu cho nhân quyền Trần Thị Nga làm bà gãy đầu gối và cánh tay trái. Những vụ hành hung xảy ra ngay tại những nơi công công cộng, như trong quán cà phê. Hồi tháng 6/2016, một kẻ không rõ lai lịch đã đấm vào mặt nhà vận động cho dân chủ Nguyễn Văn Thành trong một quán cà phê ở Đà Nẵng. Công an đến hiện trường thay vì điều tra vụ hành hung, họ lại bắt ông Thành nhiều giờ đồng hồ để thẩm vấn ông vế các bài viết chính trị.
Trong các vụ khác, những kẻ lạ mặt cưỡng ép các nhà hoạt động lên xe hơi hay xe van, hành hung họ và thả họ ra giữa những nơi hoang vắng. Điển hình là vào tháng 4/2017, một nhóm người mặc thường phục, đeo khẩu trang bắt cóc hai nhà hoạt động cho nhân quyền Huỳnh Thành Phát và Trần Hoàng Phúc ở Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, đưa họ lên xe van để đánh đập bằng bằng cây gậy và dây thắt lưng rồi bỏ hai nhà hoạt động này ở giữa rừng. Tháng 2/2017, một nhóm côn đồ mặc thường phục bắt cóc nhà tranh đấu cho nhân quyền Nguyễn Trung Tôn và bạn của ông là Nguyễn Việt Tứ, cũng tại Ba Đồn, lôi họ lên xe van và chở đi. Những tên này lột quần áo của ông Tôn và ông Tứ, lấy áo jacket trùm đầu họ và đánh họ bằng ống sắt rồi thả họ ra giữa rừng. Ông Nguyễn Trung Tôn bị đa chấn thương và phải đi bệnh viện phẫu thuật chữa trị.
Ông Adams nói: “Tình trạng những kẻ thủ ác bắt cóc các nhà hoạt động giữa ban ngày, cưỡng ép họ lên xe, hành hung họ, phơi bày hành động trừng phạt nhắm vào các nhà hoạt động. Chính phủ Việt Nam phải hiểu rằng việc dung thứ các hành vi bạo lực như thế sẽ dẫn tới tình trạng vô luật pháp và hỗn loạn chứ không phải trật tự và ổn định xã hội như họ tuyên bố đang cố gắng hướng tới".
Các nhà hoạt động cũng bị hành hung sau khi tham gia các sự kiện của công chúng, chẳng hạn như các cuộc biểu tình vì môi trường, các cuộc biểu tình kêu gọi trả tự do cho các nhà hoạt động, hoặc các sự kiện liên quan đến nhân quyền. Tháng 12/2015, nhà vận động cho nhân quyền Nguyễn Văn Đài khi rời buổi nói chuyện về nhân quyền và Hiến pháp tại một Giáo xứ ở Nam Đàn, Nghệ An, cùng với ba người bạn, đã bị một nhóm người đeo khẩu trang chặn xe taxi của họ lại, lôi các nhà hoạt động này lên xe của bọn chúng và đánh đập họ.
Ngay cả những hành động bày tỏ tình đoàn kết như đi thăm các cựu tù nhân chính trị hay chào đón một tù nhân chính trị trở về cũng mở màn cho những hành vi bạo động nhắm vào các nhà hoạt động. Tháng 8/2015, một nhóm blogger và các nhà hoạt động, gồm Trần Thị Nga, Chu Mạnh Sơn, Trương Minh Tâm, Lê Thị Hương, Phan Văn Khanh và Lê Đình Lương đi Lâm Đồng thăm nhà tranh đấu chính trị Trần Minh Nhất sau khi ông được thả khỏi tù sau 4 năm vì bị kết tội tham gia một đảng chính trị ở nước ngoài bị Việt Nam đặt ngoài vòng pháp luật. Khi các nhà hoạt động này sau đó lên các chuyến xe đò khác nhau để về nhà thì những kẻ lạ mặt mặc thường phục cũng lên những chuyến xe đó, kéo họ xuống và hành hung họ trước mặt mọi người.
Trong hầu hết các vụ, Human Rights Watch nhận thấy không ai bị truy cứu trách nhiệm hành hung, bất chấp các nhà hoạt động đã trình báo công an về các vụ hành hung. Ngược lại, một số nạn nhân, trong đó có các nhà hoạt động Nguyễn Văn Đài và Trần Thị Nga sau đó bị truy tố với tội danh “tuyên truyền chống phá nhà nước: theo điều 88 của bộ luật hình sự. Tình trạng này nêu lên những câu hỏi về những mối quan hệ giữa nhà cầm quyền với những kẻ tấn công trong những trường hợp này.
Phúc trình dẫn chứng những vụ được truyền thông báo chí nước ngoài loan tải, như Đài Á châu Tự do, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, BBC, SBTN, các mạng truyền thông xã hội như Facebook và YouTube, các trang web độc lập chính trị như Dân Làm báo, Dân luận, Việt Nam Thời báo, Tin mừng cho Người nghèo, Bảo vệ cho những Người bảo vệ, và các trang blog cá nhân. Nhiều vụ hành hung các nhà hoạt động được nêu lên trong phúc trình này chưa bao giờ được loan tải trên truyền thông báo chí bằng tiếng Anh, và cũng không được đăng tải trên truyền thông báo chí của nhà nước Việt Nam.
Ông Adams cho biết: “Kiểm duyệt truyền thông báo chí của nhà nước Việt Nam xóa bỏ nhiều tiếng nói chỉ trích ôn hòa tại Việt Nam muốn bày tỏ những lo ngại của họ trên mạng Internet. Hình thức hành hung các blogger và các nhà hoạt động kiểu này rõ ràng là nhắm mục đích làm câm những tiếng nói chỉ trích, những người mà trong nhiều trường hợp không có cách nào khác để bày tỏ những lo ngại chính đáng của họ”.
Xu hướng gia tăng những vụ hành hung được ghi nhận xảy ra cùng lúc với xu hướng giảm sút tạm thời số vụ bắt bớ chính trị trong khoảng thời gian mà Việt Nam đang thương thảo với Hoa Kỳ về hiệp định tự do thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Hồ sơ nhân quyền của Việt Nam là một điểm quan trọng của các cuộc thương lượng đó và của các cuộc tranh luận của Quốc hội Mỹ. Có lẽ Chính phủ Việt Nam muốn chứng tỏ số vụ bắt bớ và xét xử chính trị giảm xuống, nhưng theo đuổi các biện pháp trấn áp những người bất đồng. Điều mỉa mai là nhiều nạn nhân bị hành hung là những cựu tù nhân chính trị, như ông Trần Minh Nhật, Nguyễn Đình Cường, Chu Mạnh Sơn, và Mai Thị Dung. Tuy nhiên những bằng chứng mới đây cho thấy một làn sóng bắt bớ mới lại nổi lên song song với các vụ hành hung côn đồ nhắm vào các nhà hoạt động.
Ông Adams nói: “Các nhà hoạt động và các blogger dũng cảm này đang cam chịu ngược đãi hàng ngày, nhưng họ không từ bỏ lý tưởng. Các nhà cấp viện quốc tế và các đối tác thương mại với Việt Nam phải ủng hộ tinh thần đấu tranh của họ bằng cách thúc giục Chính phủ Việt Nam ngưng đánh đập, hành hung họ và buộc những kẻ tấn công phải chịu trách nhiệm”.

2. HRW: Các nhà hoạt động 'không chốn dung thân' ở VN

·clip_image003
Ảnh: FB HOANG BINH - Hai nhà hoạt động Bạch Hồng Quyền (trái, đang bị truy nã) và Hoàng Đức Bình (đang bị giam)
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) công bố bản phúc trình mới nhất về các nhà vận động dân chủ và blogger ở Việt Nam bị hành hung.
Bản phúc trình dài 65 trang được HRW công bố hôm 19/6 "là một nỗ lực bổ sung vào phần còn thiếu", bằng cách tường trình 36 vụ việc xảy ra trong thời gian gần đây, khi các nhà hoạt động nhân quyền bị "côn đồ" đánh đập ở Việt Nam.
Theo tài liệu này, nhìn từ vụ tấn công Luật sư Nguyễn Văn Đài và bạn bè ông có thể thấy một xu hướng đáng lo ngại ở Việt Nam: các nhóm hành hung các nhà hoạt động, dường như nhận được "sự chỉ đạo hoặc cho phép của những người có thẩm quyền".
Ông Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu của HRW, cho biết: "Tình trạng các nhà hoạt động ở Việt Nam có nguy cơ bị bỏ tù vì phát ngôn ý kiến của mình đã đủ tồi tệ rồi, giờ đây họ lại còn phải đối mặt với nguy cơ mất an toàn hàng ngày, chỉ vì thực thi các quyền cơ bản của mình".
"Chính phủ Việt Nam cần tuyên bố rõ rằng kiểu hành xử đó sẽ không được dung thứ, và chấm dứt chiến dịch đối phó với những người vận động cho nhân quyền theo cách thức này."
"Hiện tượng côn đồ bắt cóc các nhà hoạt động giữa ban ngày, dùng vũ lực cưỡng ép họ lên xe rồi đánh đập cho thấy có sự miễn trừ trách nhiệm trong việc đàn áp các nhà hoạt động".
"Chính quyền Việt Nam cần phải hiểu rằng việc dung thứ các hành vi bạo lực như thế sẽ dẫn tới tình trạng vô luật pháp và hỗn loạn chứ không phải trật tự và ổn định xã hội như họ tuyên bố đang cố gắng hướng tới".
Bản phúc trình của tổ chức nêu trên viết: "Tần suất và hậu quả của loại tấn công được ghi nhận trong phúc trình này, thực chất là một hình thức đàn áp ngoài hệ thống pháp luật, nhận được quá ít sự chú ý".
Tất cả các vụ hành hung được ghi nhận diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 1/2015 đến tháng 4/ 2017, từ vụ của nạn nhân Huỳnh Công Thuận đến vụ gần đây là Huỳnh Thành Phát và Trần Hoàng Phúc.
"Một số vụ hành hung diễn ra ngay trước mắt công an mặc sắc phục mà họ không can thiệp. Nhiều vụ đánh đập xảy ra cùng thời điểm, và dường như để trợ giúp chính quyền áp dụng các biện pháp đàn áp nhằm vào các nhà hoạt động bị để ý," tài liệu viết.
"Trong hầu hết các vụ việc, các nhà hoạt động bị "côn đồ" để mắt tới cũng phải chịu các biện pháp đàn áp chính thức của chính quyền, kể cả bị bắt giữ".
clip_image005
Ảnh: FB NGUYEN VAN DAI - Luật sư Nguyễn Văn Đài bị bắt từ tháng 12/2015 nhưng vẫn chưa đưa ra xét xử

'Ngày càng kết nối'

Theo HRW, dù mối liên hệ chính xác giữa những kẻ côn đồ và chính quyền thường không thể minh xác được, "nhưng trong một nhà nước công an trị sát sao như Việt Nam, gần như không có gì phải nghi ngờ về việc những kẻ này có quan hệ với, và hành động theo sự chỉ đạo của mật vụ nhà nước".
Bản phúc trình ghi nhận: "Thông tin về những thể loại tấn công này không thể đầy đủ do bị hạn chế về tiếp cận tin tức và kiểm duyệt báo chí ở Việt Nam".
HRW ghi nhận trong năm 2016, có ít nhất 21 nhà vận động nhân quyền bị kết án và ít nhất 20 vụ hành hung xảy ra với hơn 50 nạn nhân.
"Bàn tay đàn áp tàn bạo, kể cả việc hành hung thân thể đương nhiên đã làm một số người ở Việt Nam ngại tham gia hoạt động, nhưng nhiều người khác vẫn dũng cảm tiếp tục lên tiếng kêu gọi xây dựng một xã hội dân chủ và tôn trọng nhân quyền - Tổ chức Theo dõi Nhân quyền
"Trong rất nhiều vụ tấn công, những kẻ thủ ác thường đeo khẩu trang. Có một số vụ, như đã nêu ở trên, các nhà hoạt động cho biết rằng công an mặc sắc phục có mặt tại đó nhưng không làm gì để ngăn chặn việc hành hung", phúc trình viết.
"Trong hầu hết các vụ, không có ai bị truy cứu trách nhiệm vì hành vi hành hung. Rất nhiều nhà hoạt động đã trình báo công an về các vụ hành hung, nhưng việc điều tra hầu như chưa bao giờ được tiến hành".
HRW được biết chỉ có một vụ duy nhất những kẻ thủ ác và cán bộ công an được cho là phải chịu trách nhiệm về vụ hành hung bị điều tra.
Tổ chức này ghi nhận, "bất chấp những rủi ro lớn về an toàn và tự do cá nhân, cộng đồng blogger và các nhà hoạt động nhân quyền tiếp tục lớn mạnh ở Việt Nam".
Được sự trợ giúp của Internet, nhất là các mạng xã hội như Facebook và Youtube, những nhà vận động nhân quyền "ngày càng kết nối và hỗ trợ nhau chặt chẽ hơn trong cuộc đấu tranh vì các quyền tự do chính trị và các quyền cơ bản của con người".
"Bàn tay đàn áp tàn bạo, kể cả việc hành hung thân thể đương nhiên đã làm một số người ở Việt Nam ngại tham gia hoạt động, nhưng nhiều người khác vẫn dũng cảm tiếp tục lên tiếng kêu gọi xây dựng một xã hội dân chủ và tôn trọng nhân quyền".
Tháng 5/2017, Báo Nghệ An đưa tin bắt giữ 'phản động' Hoàng Đức Bình và đăng lệnh bắt giữ ký ngày 13/5, theo đó cáo buộc ông vi phạm điều 257, 258 Bộ luật Hình sự về tội 'Chống người thi hành công vụ; lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước; quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân'.
Bản tin Thời sự truyền hình Nghệ An hôm 15/5 cho thấy ông Hoàng Bình viết: "Tôi không đồng ý vì công an Nghệ An đã đánh đập tôi và bắt tôi..."
Hà Nội thường bác cáo buộc vi phạm nhân quyền từ các tổ chức quốc tế và nói rằng các nhà hoạt động bị bắt "vì vi phạm pháp luật".
Tháng 3/2017, một trong các nhà hoạt động, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh với giải thưởng Phụ nữ Quả cảm Quốc tế 2017, sự kiện ngay lập tức bị phía Việt Nam phản đối và coi là "hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ hai nước".

Nói về sự sụp đổ của Bức tường Berlin


clip_image001
Tôi hay tin về sự sụp đổ của Bức tường Berlin trong chuyến thăm chính thức Ba Lan cách đây mười năm. Tối ngày 09/11/1989, đoàn của tôi được Thủ tướng Tadeusz Mazowiecki mời tới bữa tiệc tại cung điện trước đây của Hoàng tử Radziwill. Trước khi tới bữa tiệc, Thư ký Văn phòng Thủ tướng, Rudolf Seiters, đã gọi từ Bonn. Ông nói với tôi rằng vị Chủ tịch của chính quyền cộng sản Đông Berlin đã bất ngờ công bố các quy định tạm thời cho phép các cá nhân công dân được đi lại. Giấy phép thăm Tây Berlin sẽ được cấp cho tất cả các những người nộp đơn ngay cả khi xin gấp.

Chỉ bằng quyết định đơn giản đó, tôi biết rằng lịch sử nước Đức rồi sẽ sớm thay đổi, vì di chuyển dễ dàng tức là ai cũng có thể vượt qua Bức tường Berlin. Dù vậy thì ban đầu tôi cũng không nhìn thấy trước được những buổi lễ ăn mừng hoành tráng và vui vẻ sắp diễn ra ở Berlin.
Trong suốt sự nghiệp của mình, tôi luôn tin rằng: vào một ngày nào đó trong tương lai, nước Đức rồi sẽ lại thống nhất. Nhưng tôi chưa bao giờ dám mơ rằng cuộc hội ngộ của Đông và Tây Berlin lại xảy ra trong thời gian tôi làm Thủ tướng. Nhưng Mikhail Gorbachev, cùng chính sách cải tổ (perestroika) và công khai hóa (glasnost) của ông, đã làm cho thống nhất trở thành một khả năng thực sự. Nếu không có Gorbachev và lòng dũng cảm của ông ấy, chuỗi sự kiện trên khắp châu Âu vào mùa thu năm 1989 sẽ không bao giờ có thể xảy ra.
Vì khi Gorbachev lên nắm quyền, ngày càng có nhiều người ở Đông Đức trở nên lạc quan hơn và không còn quá sợ hãi chế độ đàn áp của mình. Họ nhận ra rằng, sau cùng thì, tình trạng hiện tại của Đông Đức không phải là mãi mãi, và rằng có thể đạt được sự thay đổi, thứ mà nhiều nhà bất đồng chính kiến dũng cảm và những người ủng hộ quyền dân sự bị mắc kẹt đằng sau Bức tường kia đã đòi hỏi từ rất lâu. Đối với tôi, cam kết của họ chống lại sự bất công của chế độ cộng sản là một trong những chương hay nhất trong lịch sử nước Đức.
Việc mở cửa biên giới Hungary vào mùa thu năm đó và việc công dân Đông Đức xin tị nạn tại các Đại sứ quán Tây Đức ở Prague và Warsaw đã làm rúng động bộ máy cai trị cộng sản và Bộ An ninh Quốc gia (Stasi)[1]. Nhưng vào đêm ngày 09/11, khi Bức tường Berlin và những vòng dây thép gai quấn quanh nó – vốn dĩ đã thất bại trong việc chia rẽ người Đức suốt nhiều thập niên – bắt đầu sụp đổ, thì sự sụp đổ của chính chế độ cộng sản cũng trở nên không thể đảo ngược. Chúng tôi đã bước vào một kỷ nguyên mới. Từ ngày đó, bánh xe của lịch sử đã quay nhanh hơn.
Khi tôi trở về từ bữa tiệc tối để xem tin tức từ Berlin trên truyền hình, tôi đã quyết định cắt ngắn chuyến thăm Warsaw của mình. Thật không dễ dàng để thuyết phục những vị chủ nhà của tôi rằng, tại thời điểm lịch sử đó, vị trí của Thủ tướng Đức chỉ có thể là ở thủ đô cũ của chúng tôi, giữa đám đông đang ăn mừng. Bản năng kêu gọi tôi về nhà càng được kích động bởi những hình ảnh vào đêm hôm sau, ngày 10/11, trong một cuộc biểu tình ở phía trước Tòa thị chính Berlin.
Một đám đông những người cánh tả cực đoan đã thành công khi ngăn cản những bản thánh ca Đức được hát bởi những người đang kỷ niệm sự sụp đổ của Bức tường. Tôi đã quyết tâm chỉ ra rằng những kẻ cực đoan không phải là đại diện của người dân Berlin! Ngược lại: hầu hết mọi người chỉ đơn giản đang muốn thể hiện niềm vui hân hoan. Họ khao khát thống nhất, công lý và tự do cho quê hương mình.
Vậy nên tôi đã bay về Berlin, nhưng trước khi phát biểu với đám đông từ lan can Tòa Thị chính Schoeneberg, tôi đã nhận được một cuộc gọi từ Mikhail Gorbachev. Nhà lãnh đạo Liên Xô yêu cầu tôi kiểm soát sự nhiệt tình của công chúng để ngăn ngừa hỗn loạn và đổ máu. Ông đã nhận được báo cáo rằng tình hình đang ngày càng mất kiểm soát. Ông muốn biết liệu có đúng là đám đông giận dữ đã tấn công các căn cứ quân sự của Liên Xô hay không.
Một nhân viên đã chuyển câu trả lời của tôi cho Gorbachev. Tôi đảm bảo rằng thông tin ông có là sai, và ông đã tin tôi. Cũng may là chúng tôi đã có dịp hiểu con người của nhau và đã tin tưởng lẫn nhau khi Gorbachev đến thăm Đức vào tháng 06/1989. Dù có những quan ngại khác nhau, ví dụ như về “vấn đề nước Đức”, nhưng đối với cả hai chúng tôi, “hòa bình” không chỉ là một từ mà là một nhu cầu cơ bản cần thiết.
Sau đó, Gorbachev nói với tôi rằng ông đã nhận được thông tin sai lệch một cách có chủ ý, bởi những người phản đối cải cách, những người muốn quân đội Liên Xô ở Đông Đức can thiệp. Cho đến hôm nay, tôi vẫn cảm ơn Gorbachev vì đã chọn không nghe theo những lời kích động ấy, mà lắng nghe các lập luận của tôi. Khi phải lựa chọn hoặc để yên những xe tăng trong doanh trại hoặc đưa chúng ra đường phố, ông đã chọn hòa bình, và sau đó, với rất nhiều can đảm, chấp nhận thực tế mới mà người dân ở Đông Đức đã tạo ra. Vì tầm nhìn và lòng dũng cảm của mình, người ta có thể đặt tin tưởng vào Gorbachev.
Sau ngày 09/11, quá trình ngày càng trở nên mạnh mẽ. Trong thời gian ngắn không thể tin được, chỉ có mười một tháng, nước Đức thống nhất đã trở thành thực tế. Đối với tôi, đó là một giấc mơ có thật. Nhưng tôi vẫn cảm nhận được hai nghĩa vụ mạnh mẽ cho tương lai. Nghĩa vụ thứ nhất là một cam kết có thể được mô tả đơn giản bằng hình ảnh nước Đức và châu Âu như hai mặt của cùng một đồng xu. Cái này sẽ không thể tồn tại nếu không có cái kia. Tôi cũng đã trình bày nghĩa vụ còn lại bằng cách nói về sự cần thiết của việc tạo ra “những phong cảnh nở rộ”[2] ở miền Đông nước Đức.
Cả hai đều là những nhiệm vụ khổng lồ và khó khăn. Trong mười năm kể từ khi Bức tường sụp đổ, tôi tin rằng cả hai mục tiêu, dù không hoàn toàn, nhưng đều đã đạt được một cách căn bản. Nước Đức thống nhất có một cam kết mạnh mẽ đối với cả châu Âu và Liên minh Xuyên Đại Tây Dương. Đối với các bang mới của Đức, cả quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ và một xã hội tự do, lẫn những thay đổi cơ cấu đối với nền kinh tế cộng sản cũ, đều đã thành công, mặc dù những nhiệm vụ này chắc chắn đòi hỏi năng lượng và công lao của nhiều thế hệ trước khi chúng hoàn toàn hoàn thành. Quan trọng nhất, người Đức ngày nay đã một lần nữa coi mình là người dân cùng một nước. Với sự trợ giúp của các chính sách lành mạnh, chúng tôi đã sẵn sàng trên tư cách một xã hội hiện đại để vươn lên trong tương lai.Helmut Kohl
Helmut Kohl là Thủ tướng Đức từ 1982 đến 1998. Ông vừa qua đời ngày 16/06/2017.
Chú thích:
[1] Bộ An ninh Quốc gia (Ministerium für Staatssicherheit, MfS), thường được biết đến là Stasi (viết tắt tiếng Đức: Staatssicherheit, nghĩa là An ninh Quốc gia), là cơ quan tình báo nội vụ và hải ngoại của Cộng hoà Dân chủ Đức (hay còn gọi là Đông Đức). Nguồn: Wikipedia
[2] Vào ngày nước Đức thống nhất, Thủ tướng Helmut Kohl đã kêu gọi các công dân Cộng hoà liên bang thể hiện tình đoàn kết với đồng bào phương Đông, đồng thời cam kết sẽ tạo ra “những phong cảnh nở rộ” (blooming landscape) – ý chỉ một nền kinh tế thịnh vượng – nhằm cải thiện nhanh chóng điều kiện sống ở Đông Đức. Nguồn: German History
Nguyễn Thị Kim Phụng dịch

Dân chủ là mua bảo hiểm

“Những ai đang chuẩn bị tâm tư, trí não bàn chuyện thiết lập tự do dân chủ ở nước Việt Nam nên chú ý đến câu hỏi quan trọng này: Làm cách nào giới hạn quyền hành của người cầm quyền, kể cả những người do dân tự do bầu lên?

Khi chúng ta mua được thứ bảo hiểm đó rồi thì có thể yên tâm hơn. Chính trị một quốc gia có thể đầy những chuyện bất ngờ, như Macron, Trump hoặc Brexit cho thấy, nhưng người dân vẫn yên tâm. Vì chế độ của họ đã mua bảo hiểm rồi!

Nói như Winston Churchill, Chế độ Dân chủ là thể chế (chọn người cầm quyền) dở nhất. Nó chỉ đỡ tai hại hơn tất cả những thể chế khác đã đem thử trên trái đất này” – Ngô Nhân Dụng.

Ở Việt Nam giờ đây, dân Việt đang dốc toàn tâm toàn ý vào việc nhanh chóng hất lão già khú đế ra khỏi 90 triệu cái vai đã mỏi nhừ bởi lão ngự lên đó từ suốt mấy chục năm nay, lên rồi cứ nghênh ngang không chịu xuống, khiến đẻ ra không biết bao nhiêu điều tồi tệ, làm cho sức vóc dân mỏi mòn đến cạn kiệt, lê lết tấm thân tàn từ thế kỷ XX sang đến thế kỷ XXI đã được 17 năm rồi mà nhìn con đường phía trước của nhân loại vẫn còn xa tít tắp, mỏi gối chồn chân e cũng không sao theo kịp.


Không chỉ thế, lão già càng già càng giở quẻ, trước kia còn che giấu thói phàm ăn của lão, còn nay thì công khai “ăn không chừa thứ gì”, ăn chưa thỏa thì chẹn ngay họng 90 triệu thằng dân khênh lão ở dưới, thằng nào có vẻ béo bở nhất cứ việc cướp lấy mà ăn, mặc cho lũ chúng đứa nào đói rã họng cứ đói, đứa nào chết cứ chết, đứa nào dám đấu khẩu thì đã có cả một đội quân đầu gấu lưu manh tay sai của lão dần cho nhừ tử và lôi vào nhà giam – ấy gọi là “đúng quy trình”.

Cho nên những gì học giả Ngô Nhân Dụng lưu ý, dân chúng chúng tôi xin ghi nhớ, nhưng xin coi đó là mục tiêu phấn đấu của chặng đường thứ hai – chặng đường xây dựng những điều luật hệ trọng nhằm củng cố thể chế dân chủ sau khi đã loại bỏ được thể chế độc tài và đặt được lớp gạch tự do dân chủ làm nền tảng cố kết đầu tiên cho một đất nước Việt Nam hiện đang trong tình trạng phân rã về mọi mặt.

Trước khi tìm ra một cơ chế hữu hiệu “ngăn cản kẻ thắng cử trở thành bạo chúa” hãy khẩn trương nghĩ đến một cơ chế có hiệu lực “sờ gáy kẻ bạo chúa đương quyền”. Nhiệm vụ phía trước của cả dân tộc Việt Nam vẫn còn rất nặng.

Bauxite Việt Nam

Một điều học được qua những cuộc bỏ phiếu toàn quốc ở Anh, Mỹ, Pháp trong một năm qua là người ta rất khó đoán trước kết quả. Khó đoán trúng được cử tri sẽ bầu cho đảng nào (Pháp), ứng cử viên nào (Mỹ), hoặc đường lối nào cho quốc gia (Anh). Những chuyên viên nghiên cứu dư luận cũng thất bại. Bởi vì, mặc dầu vẫn nắm vững những phương pháp rất khoa học, nhưng vì thái độ và hành động của các cử tri thay đổi bất ngờ nên các giả thuyết họ đặt ra về tâm lý con người có lúc hoàn toàn sai. Có những cử tri luôn trung thành với một đảng bỗng chán không thèm đi bầu cho ai cả. Có những người chẳng thiết tha đến chuyện bầu cử bỗng nổi nóng quyết tâm đi bỏ phiếu cho một người mình thích!
Năm ngoái, bên Anh, vụ “Brexit” làm mọi người choáng váng. Khi Thủ tướng David Cameron mời dân Anh bỏ phiếu hỏi có muốn tách khỏi Liên hiệp Châu Âu (EU) hay không, ông tin rằng đa số dân sẽ nói “Không” như chủ trương của cả hai đảng lớn nhất. Không ngờ, sau cùng phe “Tách” chiếm đa số. Năm nay, bà Thủ tướng Theresa May lại tổ chức bầu Nghị viện sớm (đến ba năm nữa mới cần bầu lại). Bà tính thắng lớn để có thế mạnh khi thương thuyết vụ Brexit với Chính phủ các nước khác trong EU. Kết quả, Đảng Bảo thủ đang chiếm đa số vững vàng ở Nghị viện giờ tụt xuống dưới một nửa, thay vì mạnh hơn thì Chính phủ bà sẽ yếu hơn.
Cuối năm, Tổng thống Donald Trump đắc cử khiến giới chính trị trong cả hai Đảng Cộng hòa và Dân chủ kinh ngạc. Trước đó một năm không ai tin ông Trump có chút hy vọng nào. Họ báo động ông ta không thích hợp (fit) với vai trò Tổng thống; mà cũng không ai biết chắc đường lối, chính sách của ông sẽ ra sao.
Ở Pháp, Tổng thống Emmanuel Macron và phong trào En Marche của ông thắng cử cũng là chuyện vô tiền khoáng hậu. Cả hai Đảng Cộng hòa và Xã hội vẫn thay nhau cầm quyền mấy chục năm, cả hai đều rớt đài thảm hại. Một ứng cử viên chưa đầy 40 tuổi với một tập hợp chính trị mới ra đời mấy tháng trời đã làm đảo lộn trật tự cũ.
Kết quả những cuộc bỏ phiếu trên làm nổi bật một điểm nổi bật của xã hội dân chủ; là tính chất bất định (uncertainty), khó tiên đoán. Các chế độ độc tài khác hẳn. Trước khi dân bỏ phiếu người ta đã biết ai sẽ thắng, biết đến cả tỷ số thắng bao nhiêu!
Tâm lý con người thường không thích sống trong bất định. Đó là lý do các hãng bảo hiểm đã ra đời và sống mạnh! Sau khi mua nhà, mua xe, ta đi mua bảo hiểm ngay, cho đỡ lo lắng. Suốt đời chúng ta lúc nào cũng phải lo chuyện bảo hiểm! Kim Trọng và Thúy Kiều sau khi thề ước đã trao đổi ngay một số vật quý làm tin, cũng là một hình thức bảo hiểm!
Vậy tại sao loài người vẫn muốn xây dựng xã hội có dân chủ tự do, chấp nhận tình trạng đầy bất trắc trong cuộc sống thay đổi thường xuyên như vậy?
Nói cách khác, khi tính thiết lập chế độ dân chủ, giống như khi xây một cái nhà mới, chúng ta mua bảo hiểm ở đâu để tránh những rủi ro mà tính bất định có thể gây ra?
Có một cách giải đáp sẵn sàng, là nêu lên nguyên tắc: “Toàn dân chọn người nắm quyền, ai chiếm đa số phiếu thì thắng, qua những cuộc bỏ phiếu tự do, có định kỳ”. Dùng những quy tắc bảo đảm, khi nào đa số dân chọn lầm người lãnh đạo (lầm lẫn là một quyền hiến định của mọi công dân), hậu quả tai hại sẽ bị giới hạn, vì sau ít năm dân sẽ nghĩ lại khi họ bỏ phiếu. Như Pericles ở Athens nói, vào khoảng năm 430 BC, “tuy chỉ một số người nhỏ nắm quyền đề ra các chính sách, tất cả chúng ta có thể phán đoán các chính sách của họ”.
Nhưng các quy tắc trên có đủ làm “bảo hiểm” cho những rủi ro của chế độ dân chủ hay không? Có hai mối rủi ro cần phải tránh: Thứ nhất, làm cách nào để nếu dân chọn lầm người lãnh đạo, người đó sẽ không làm hại quá đáng trong bốn, năm năm cầm quyền (sáu năm ở Mexico, bảy năm ở Nga)? Thứ hai, làm cách nào ngăn cản không cho họ tự biến thành độc tài chuyên chế như Hitler đã làm ở Đức, Marcos ở Phillipines (cả hai đều không cướp chính quyền, họ được dân bầu trong những cuộc bỏ phiếu đúng Hiến pháp).
Theo kinh nghiệm thì những quy tắc như bầu cử tự do, có định kỳ, vẫn chưa bảo đảm đầy đủ cho chế độ dân chủ.
Theo Karl Popper, tác giả The Open Society and its Enemies (Xã hội mở và những kẻ thù, 1945) thể chế dân chủ còn thiếu sót khi không nêu đúng những câu hỏi hệ trọng nhất.
Khi chuẩn bị thiết lập thể chế dân chủ, người ta thường đặt những câu hỏi nào?
Thông thường nhất là những câu hỏi có tính chất định nghĩa, như “Ai làm chủ quyền hành?” Câu trả lời hiển nhiên là: “Tất cả mọi người dân”. Nhưng làm cách nào toàn dân có thể cùng nắm quyền như khi các công dân ở Athens họp nhau? Trả lời: Họ bỏ phiếu chọn những đại biểu, mà triết gia Plato ngây thơ đặt tiêu chuẩn, “phải là những người tốt nhất”. Ai biết người thế nào là “tốt nhất?” Mỗi người mỗi ý, ai cũng có quyền chọn như nhau.
Dân thành phố Athens có lúc muốn những cuộc bỏ phiếu hoàn toàn tự do và công bằng, đã chọn người cầm quyền bằng các bốc thăm! Mọi công dân ai cũng có hy vọng đắc cử, công bằng tuyệt đối!
Dù cho dân chúng tự do chọn người nắm quyền, theo tiêu chuẩn mà họ quyết định, chúng ta cũng chưa mua đủ bảo hiểm cho hai loại rủi ro đã nêu trên đây. Một người được đa số dân bầu, có thể làm bậy suốt nhiệm kỳ. Họ vẫn có thể học theo Napoléon, lái cả chế độ gọi là dân chủ thành đế chế mà dân chúng vẫn hoan hỉ, theo ông kéo nhau đi chết vinh quang!
Câu hỏi thích đáng nhất khi thiết lập dân chủ, như Karl Popper đề nghị là: Cơ cấu chế độ làm cách nào ngăn cản các bạo chúa?
Đây là một câu hỏi rất thực tế, không xứng đáng được các triết gia bàn luận, như khi hỏi: Gốc của quyền hành bắt nguồn từ đâu ra? Nói cách khác: Trên lý thuyết, anh nhân danh cái gì mà đòi nắm đầu nắm cổ người khác? Lịch sử đã thử trả lời nhiều cách: Thiên mệnh, Thượng Đế, truyền thống, lịch sử, giới vô sản, hoặc nhân dân,… Những câu trả lời này giờ không còn ai tin nữa. Nhưng câu hỏi “ai nắm quyền?” vẫn được truyền tụng, vì trên lý thuyết đó là vấn đề quan trọng nhất.
Lối đặt câu hỏi thực tế trên, không phải Karl Popper tự nghĩ ra. Vốn người nước Áo, sống ở New Zealand, nhưng ông rút kinh nghiệm lịch sử chính trị nước Anh. Từ khi ký kết bản Đại Hiến chương giữa nhà vua và giới quý tộc (Magna Carta, 15 tháng Sáu, 1215), chế độ chính trị ở Anh đã tiến dần dần, mỗi bước tiến lại đặt thêm những giới hạn trên quyền hành của nhà vua. Trải qua nhiều thế kỷ, sau cùng ông hay bà vua chỉ còn là một biểu tượng; đến lượt quyền hành của những vị Thủ tướng bị giới hạn. Tất cả chỉ theo tập tục, nước Anh không cần viết Hiến pháp.
Cho nên, Karl Popper cho rằng điều quan trọng nhất khi chuẩn bị thiết lập dân chủ là đặt giới hạn trên quyền hành. Bản Hiến pháp lâu đời nhất thế giới, phát hành ở Mỹ, rất ngắn ngủi. Điều được quan tâm nhất trong đó là đặt những giới hạn quyền hành của vị Tổng thống. Họ đặt ra hai viện Quốc hội và một Tối cao Pháp viện độc lập để làm công việc này. Để bảo đảm khi một phe nhóm nắm được cả ba bánh xe của guồng máy chính quyền cũng không có thể độc tài chuyên chế, Hiến pháp Mỹ đề cao quyền của các tiểu bang, làm giới hạn cho quyền của Chính phủ liên bang. Muốn ăn chắc hơn, họ đặt ra những thủ tục rất nhiêu khê, khó khăn, cho việc thay đổi Hiến pháp. Một ông Napoléon hay ông Hitler khó làm ăn ở nước Mỹ.
Những ai đang chuẩn bị tâm tư, trí não bàn chuyện thiết lập tự do dân chủ ở nước Việt Nam nên chú ý đến câu hỏi quan trọng này: Làm cách nào giới hạn quyền hành của người cầm quyền, kể cả những người do dân tự do bầu lên?
Khi chúng ta mua được thứ bảo hiểm đó rồi thì có thể yên tâm hơn. Chính trị một quốc gia có thể đầy những chuyện bất ngờ, như Macron, Trump hoặc Brexit cho thấy, nhưng người dân vẫn yên tâm. Vì chế độ của họ đã mua bảo hiểm rồi!
Nói như Winston Churchill, Chế độ Dân chủ là thể chế (chọn người cần quyền) dở nhất. Nó chỉ đỡ tai hại hơn tất cả những thể chế khác đã đem thử trên trái đất này. Churchill không nhận ông nghĩ ra ý kiến đó. Ông nói, trước Viện Dân biểu ngày 11 tháng Mười Một, 1947, rằng có người đã nói như vậy. Đời sống đầy rủi ro. Chế độ Dân chủ được coi là “đỡ hại nhất” có lẽ khi mua đủ bảo hiểm, tránh được nhiều rủi ro nhất!Ngô Nhân Dụng

No comments:

Post a Comment