Tuesday, June 20, 2017

Bài viết hay(5075)

Dạo này Rệp quậy châu Âu quá; nhất là Anh, Pháp trong khi châu Âu ngày càng chia rẻ và Trump cũng không còn tha thiết, mặn mà khi Putin cứ giựt dây như con rối. Có lẽ châu Âu nên cúng cô hồn vào tháng 7 này chứ nếu không khó an bình. Hình như mỗi khi Mỹ có một ông TT thuộc CH thì châu Âu lại rơi vào hạn xấu? Châu Âu nên hiểu Mỹ đã không còn ở thời vàng son nữa mà nợ ngập đầu thì không thể nào chơi kiểu quân tử Tàu mãi được; huống hồ một con buôn như Trump thì dứt khoát phải tính lời lỗ sòng phẳng hơn. Nếu Merkel đẹp như Diana thì may ra Trump sẽ xét lại xem EU với Putin, bên nào có lợi hơn. Nếu Kremlin đã nắm được lá bài tẩy thì Trump cũng hết đường nhúc nhích luôn. EU mắc nợ Rệp có khác gì Mỹ mắc nợ Mỹ đen và Mễ? Chưa kể là rệp và Do Thái luôn có tật lớn khó bỏ.

Vài việc ghi được từ phiên họp Quốc hội 19 và 20-6

1. Đại biểu yêu cầu Quốc hội ra nghị quyết Biển Đông

image
Một tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm ngày 2/6/2014. AFP photo
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa thuộc đoàn thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19 tháng 6 yêu cầu Quốc hội khóa 14 đang họp kỳ thứ 3 ra tuyên bố thể hiện rõ thái độ trước các hành vi xâm phạm của Trung Quốc đối với Việt Nam.
Truyền thông trong nước trích phát biểu của đại biểu Trương Trọng Nghĩa tại diễn đàn Quốc hội rằng nếu như lần này không có tuyên bố hay nghị quyết chính thức gì về Biển Đông thì theo ông người dân sẽ rất thất vọng, thậm chí hoang mang. Ông này cho rằng đại biểu Quốc hội sẽ nghẹn lời khi bị cử tri chất vấn về vấn đề Biển Đông.
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa cũng đưa ra nhận định hành vi của Trung Quốc xâm phạm, đe dọa chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông là trắng trợn và bị các nghị sĩ, người dân nước khác lên tiếng; nếu như Quốc hội Việt Nam không có phản ứng chính thức thì đó có thể là cớ để Trung Quốc tiến hành những việc làm hiếu chiến và nguy hiểm hơn nữa.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa khi trả lời báo chí còn cho rằng việc khởi kiện Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam sẽ có lợi hơn là bất lợi.

2. Quốc hội thông qua điều 19 BLHS: Luật sư tố cáo thân chủ

RFA
imagePhiên xử blogger Basam Nguyễn Hữu Vinh cùng người cộng sự Nguyễn Thị Minh Thuý tại tòa án Hà Nội ngày 22 tháng 9 năm 2016 AFP photo
Quốc hội Việt Nam chiều ngày 20 tháng 6 thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015, trong đó có Điều 19 bị giới Luật sư phản đối mạnh mẽ.
Cụ thể đối với Điều 19, Bộ Luật sửa đổi theo hướng thu hẹp hơn phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa về hành vi không tố giác tội phạm như sau: Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa.
Ngoài ra, luật sửa đổi cũng quy định về trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với một số tội danh. Theo đó, những người này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về loại tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng đối với 3 tội danh cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự năm 2015 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2018.

Tập Cận Bình muốn gì?


clip_image001
Nhà lãnh đạo của Trung Quốc đang quyết tâm biến đất nước mình thành “chủ thể lớn nhất trong lịch sử thế giới”. Liệu ông có làm được điều đó trong khi tránh được một cuộc đụng độ nguy hiểm với Hoa Kỳ hay không?

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình muốn gì? Bốn năm trước khi Donald Trump trở thành Tổng thống, Tập đã trở thành nhà lãnh đạo Trung Quốc và tuyên bố một tầm nhìn vĩ đại nhằm, về cơ bản, “làm Trung Quốc vĩ đại trở lại” – kêu gọi “đại phục hưng dân tộc Trung Quốc”.
Tập rất tin tưởng rằng mình sẽ thành công trong nỗ lực này, đến mức ông đã vi phạm trắng trợn một nguyên tắc trọng yếu trong cuộc sinh tồn chính trị: Không bao giờ đặt ra một mục tiêu và một ngày cụ thể trong cùng một câu. Trong vòng một tháng sau khi trở thành nhà lãnh đạo Trung Quốc vào năm 2012, Tập đã đặt ra thời hạn hoàn thành mỗi mục tiêu trong “Hai mục tiêu thế kỷ” của mình.
Thứ nhất, Trung Quốc sẽ xây dựng một “xã hội tương đối khá giả” (tiểu khang xã hội) bằng cách tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người năm 2010 lên 10.000 USD trước năm 2021, năm kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Thứ hai, nước này sẽ trở thành một đất nước “phát triển đầy đủ, giàu có, và quyền lực” vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2049. Nếu Trung Quốc đạt được mục tiêu đầu tiên – mà nước này đang trên đà đạt được – Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước tính rằng nền kinh tế Trung Quốc sẽ lớn hơn 40% so với nền kinh tế Mỹ (tính theo sức mua tương đương). Nếu Trung Quốc đạt được mục tiêu thứ hai vào năm 2049, nền kinh tế Trung Quốc sẽ lớn gấp ba lần nền kinh tế Mỹ.
Sự chuyển biến mạnh mẽ của Trung Quốc có ý nghĩa gì đối với Hoa Kỳ và với sự cân bằng quyền lực toàn cầu? Lý Quang Diệu của Singapore, nhà quan sát Trung Quốc hàng đầu của thế giới trước khi ông qua đời năm 2015, có một câu trả lời sắc bén về quỹ đạo ấn tượng của Trung Quốc trong 40 năm qua: “Quy mô dịch chuyển của Trung Quốc trong sự cân bằng toàn cầu lớn đến mức thế giới phải tìm một trạng thái cân bằng mới. Không thể làm như đây chỉ là một chủ thể lớn khác. Đây là chủ thể lớn nhất trong lịch sử thế giới”.
Phân tích của ông Lý về tình hình ở Trung Quốc, cũng như trên thế giới rộng hơn, đã biến ông thành một nhà cố vấn chiến lược được săn đón của nhiều vị Tổng thống và Thủ tướng ở mọi châu lục – bao gồm mọi nhà lãnh đạo Hoa Kỳ từ Richard Nixon đến Barack Obama. Ông Lý đã dành hàng ngàn giờ trò chuyện trực tiếp với các vị Chủ tịch nước, Thủ tướng, quan chức Chính phủ, và các nhà lãnh đạo đang lên của Trung Quốc, “nước láng giềng ở phương Bắc” của mình. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ Đặng Tiểu Bình đến Tập Cận Bình đều gọi ông là “sư phụ,” một từ chỉ thái độ tôn kính cao nhất trong văn hóa Trung Hoa. Và ông Lý, người chia sẻ với tôi những hiểu biết của mình trong một cuốn sách mà tôi là đồng tác giả năm 2013, đã theo dõi sát sao những biến động của Trung Quốc từ Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa trong những năm 1960 đến sự xoay trục sang tư bản chủ nghĩa của Đặng trong những năm 1980. Ông đã thiết lập các mối quan hệ công tác nghiêm túc với nhiều người điều hành Trung Quốc, trong đó có vị Chủ tịch tương lai Tập Cận Bình.
Ông Lý đã thấy trước thế kỷ 21 sẽ là một “cuộc tranh giành quyền lực tối cao ở châu Á”. Và khi Tập leo lên ghế Chủ tịch nước năm 2012, ông Lý đã tuyên bố với thế giới rằng cuộc tranh giành này đang tăng tốc. Trong số mọi nhà quan sát nước ngoài, ông Lý là người đầu tiên nói về nhà kỹ trị phần lớn vẫn chưa được biết đến này, “Hãy quan sát người này”.
Nhiều chính trị gia và quan chức ở Washington vẫn đang làm như Trung Quốc chỉ là một chủ thể lớn khác. Tuy nhiên, ông Lý biết Tập rất rõ, và hiểu rằng khát vọng vô biên của Trung Quốc được thúc đẩy bởi một quyết tâm không khoan nhượng là giành lại sự vĩ đại trong quá khứ. Thử hỏi hầu hết các học giả Trung Quốc xem Tập và các đồng nghiệp của ông có nghiêm túc tin rằng Trung Quốc sẽ thay thế Hoa Kỳ trong vai trò là cường quốc thống trị ở châu Á trong tương lai gần hay không. Họ sẽ lảng tránh câu hỏi này bằng những mẫu câu như “Điều đó rất phức tạp… một mặt… mặt khác…” Khi tôi hỏi ông Lý câu này trong một cuộc gặp ít lâu trước khi ông qua đời, đôi mắt ông mở to nghi ngờ, như thể hỏi lại, “Anh đang đùa à?” Ông thẳng thắn trả lời: “Dĩ nhiên. Sao lại không? Làm sao mà họ có thể không khát vọng trở thành số một ở châu Á và sau này là trên thế giới?”
***
Sự căng thẳng về mặt cấu trúc giữa một Trung Quốc đang lên và một Hoa Kỳ đang cai trị vốn đã trầm trọng. Việc giảm nguy cơ xảy ra một cuộc đụng độ thảm khốc mà cả hai bên đều muốn tránh sẽ bắt đầu bằng một đánh giá rõ ràng về những mục đích và phương tiện của Bắc Kinh. Khi nhậm chức, Tập Cận Bình đã tuyên bố tham vọng bao quát của ông đối với Trung Quốc bằng một câu duy nhất: “Giấc mộng Trung Quốc lớn nhất là đại phục hưng dân tộc Trung Quốc”. “Trung Quốc mộng” của ông bao gồm sự thịnh vượng và quyền lực – tương đương với tầm nhìn “sức mạnh cứng” của Theodore Roosevelt về một thế kỷ Mỹ và Chính sách Kinh tế mới (New Deal) đầy động lực của Franklin Roosevelt. Nó nắm bắt được khao khát mãnh liệt của một tỷ người Trung Quốc: trở nên giàu có, quyền lực, và được tôn trọng. Tập tự tin rằng trong cuộc đời mình Trung Quốc có thể hiện thực hóa cả ba khát vọng này bằng cách duy trì phép màu kinh tế, bồi dưỡng một thế hệ công dân ái quốc, và không cúi đầu trước cường quốc nào khác trong các vấn đề thế giới.
Tập sẽ “làm Trung Quốc vĩ đại trở lại” như thế nào? Sau khi nghiên cứu con người này, lắng nghe lời lẽ của ông, và nói chuyện với những người hiểu ông rõ nhất, tôi tin rằng, với Tập điều này có nghĩa là:
  • Đưa Trung Quốc trở lại thế thống trị mà nó được hưởng ở châu Á trước khi phương Tây xâm nhập;
  • Tái thiết quyền kiểm soát đối với các vùng lãnh thổ mà Đảng Cộng sản xem là “Đại Trung Quốc”, không chỉ bao gồm Tân Cương và Tây Tạng ở đại lục, mà còn cả Hồng Kông và Đài Loan;
  • Khôi phục các phạm vi ảnh hưởng trong lịch sử dọc biên giới và trên các vùng biển lân cận để các nước khác trao cho mình sự tôn kính mà các cường quốc luôn đòi hỏi;
  • Giành được sự tôn trọng của các cường quốc khác trong các hội đồng thế giới.
Ở cốt lõi của các mục tiêu quốc gia này là một tín ngưỡng văn minh coi Trung Quốc là trung tâm của vũ trụ. Trong tiếng Trung, Trung Quốc có nghĩa là Vương quốc Trung tâm. “Trung” ở đây không nói đến không gian giữa các vương quốc đối địch khác, mà là chỉ mọi vương quốc nằm giữa trời và đất. Như ông Lý đã tóm tắt quan điểm về thế giới được chia sẻ bởi hàng trăm quan chức Trung Quốc tìm đến lời khuyên của ông, họ “nhớ lại một thế giới mà Trung Quốc thống trị còn các nhà nước khác với họ chỉ như những kẻ cầu xin trước một đấng tối cao, như những chư hầu mang báu vật triều cống đến Bắc Kinh”. Trong câu chuyện này, sự trỗi dậy của phương Tây trong những thế kỷ gần đây là một sự bất thường lịch sử, phản ánh sự yếu kém về mặt công nghệ và quân sự của Trung Quốc khi phải đối mặt với các đế quốc thống trị trong một “thế kỷ ô nhục” từ khoảng năm 1839 đến năm 1949. Tập Cận Bình đã hứa với người dân của ông: Chuyện này sẽ không còn nữa.
Chương trình hành động của Tập nhằm khôi phục lại vị thế vĩ đại đã mất này là gì? Theo ông Lý, cố vấn chính trị của Tập, một nhà lãnh đạo đất nước phải “vạch ra tầm nhìn tương lai cho người dân, biến tầm nhìn đó thành các chính sách mà anh ta phải thuyết phục được người dân là nó đáng ủng hộ, và cuối cùng là khích lệ họ giúp anh ta thực hiện”. Đã vạch ra một tầm nhìn táo bạo là “Trung Quốc mộng”, Tập đang tích cực vận động người ủng hộ thực hiện một nghị trình hành động vô cùng tham vọng trên bốn mặt tương quan.
Là tay lái chính của cả công cuộc này, yêu cầu đầu tiên đối với Tập trong việc hiện thực hóa Giấc mộng Trung Quốc là tái chính danh hóa một Đảng Cộng sản Trung Quốc mạnh mẽ trong vai trò là lực lượng tiên phong và giám hộ của nhà nước Trung Quốc. Ít lâu sau khi nhậm chức, Tập đã nói với các thành viên Bộ Chính trị rằng “giành được hay mất đi sự ủng hộ của nhân dân là một vấn đề liên quan đến sự sống còn của Đảng Cộng sản”. Ông cũng thẳng thừng cảnh báo họ: “Tham nhũng có thể kết liễu Đảng”. Trích Khổng Tử, ông hứa sẽ “vi chính dĩ đức” (cai trị bằng đức) và “tề chi dĩ hình” (ổn định bằng hình luật). Đây không phải là đe dọa suông. Tập đã phát động một chiến dịch chống tham nhũng với quy mô chưa từng có do Vương Kỳ Sơn, thân tín của Tập, dẫn dắt. Nỗ lực này được gọi là chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” do nó hứa hẹn sẽ bắt giữ mọi quan chức tham nhũng dù đó là “ruồi” cấp thấp hay là “hổ” cấp cao. Dưới quyền Vương, 18 tổ đặc nhiệm đứng đầu là các tổ trưởng đáng tin cậy trực tiếp báo cáo với Tập. Từ năm 2012, đã có hơn 900.000 đảng viên bị kỷ luật và 42.000 đảng viên bị khai trừ và truy tố tại các tòa hình sự. Trong đó có 170 “hổ” cấp cao, gồm hàng chục sĩ quan cao cấp, 18 ủy viên và nguyên ủy viên của Ủy ban Trung ương gồm 150 người, và thậm chí cả nguyên ủy viên của Ủy ban Thường vụ.
Và đối lập với glasnost của Gorbachev – cởi mở với các tư tưởng – Tập đòi hỏi phải tuân thủ ý thức hệ, thắt chặt kiểm soát các cuộc thảo luận chính trị. Đồng thời, Tập cũng tìm cách củng cố sự tập trung của Đảng trong nền quản trị Trung Quốc. Đặng tìm cách tách Đảng khỏi Chính phủ, và tăng cường hệ thống quan liêu của nhà nước so với Đảng. Tập lại thẳng thừng bác bỏ ý tưởng đó. Ít lâu sau khi Tập nắm quyền, một bài xã luận trên Nhân dân nhật báo đã thể hiện rõ lập trường của ông: “Chìa khóa để vận hành mọi thứ ở Trung Quốc một cách trơn tru và hiện thực hóa Giấc mộng Trung Quốc là nằm ở Đảng”.
Thứ hai, Tập phải tiếp tục làm Trung Quốc giàu có trở lại. Ông biết rằng sự ủng hộ của người dân Trung Quốc đối với Đảng Cộng sản chủ yếu vẫn phụ thuộc vào khả năng đem lại những mức tăng trưởng kinh tế mà không đất nước nào khác đạt được. Nhưng tiếp tục hiệu quả kinh tế phi thường của Trung Quốc sẽ đòi hỏi duy trì một hành động đầy rủi ro. Tập rất cảnh giác với cái bẫy thu nhập trung bình mà nhiều nước đang phát triển vấp phải khi tiền lương tăng làm giảm lợi thế cạnh tranh của họ trong ngành chế tạo, và lời hứa không chút mơ hồ của ông là duy trì tăng trưởng 6,5% một năm đến năm 2021 sẽ đòi hỏi cái mà một số người đã mô tả là “duy trì cái không thể duy trì được”.
Tuy nhiên, có một sự nhất trí chung về việc Trung Quốc phải làm gì để tiếp tục tăng trưởng ở tốc độ đó trong nhiều năm tới. Các yếu tố then chốt được nêu ra trong kế hoạch năm năm gần đây nhất của Trung Quốc, bao gồm: đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang nhu cầu được thúc đẩy bằng tiêu dùng trong nước; tái cấu trúc hoặc đóng cửa các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả; tăng cường cơ sở khoa học và công nghệ để nâng cao đổi mới; thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp ở Trung Quốc; và tránh các mức nợ không bền vững.
Với phạm vi và tham vọng của kế hoạch của Tập, hầu hết các nhà kinh tế và nhiều nhà đầu tư phương Tây đều e rằng ông khó mà đạt được. Nhưng nhiều nhà kinh tế và nhà đầu tư trong số đó đã mất tiền khi không đặt cửa cho Trung Quốc trong 30 năm qua. Như cựu Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Reagan Martin Feldstein đã nói, “Không phải chính sách nào trong số này cũng phải thành công… Nếu có đủ chính sách đủ thành công, tăng trưởng 6,5% trong vài năm tới có lẽ sẽ không nằm ngoài tầm với”.
Thứ ba, Tập phải làm Trung Quốc tự hào trở lại. Tăng trưởng kinh tế không thôi chưa đủ. Ngay cả khi các cải cách thị trường của Đặng đã mở rộng mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng sau năm 1989, Đảng cũng phải vật lộn để chứng minh lý do tồn tại của mình khi chủ nghĩa cộng sản chỉ còn là danh nghĩa. Vậy thì tại sao người Trung Quốc lại nên cho phép Đảng cai trị mình? Câu trả lời: Đảng là một ý thức được làm mới về bản sắc dân tộc có thể được đón nhận rộng rãi một cách tự hào trong số một tỷ người Trung Quốc.
Trong khi Cách mạng Văn hóa của Mao cố gắng xóa bỏ quá khứ cổ xưa của Trung Quốc và thay thế nó bằng “con người xã hội chủ nghĩa mới” của chủ nghĩa cộng sản, Tập lại ngày càng thể hiện Đảng như là lực lượng kế thừa và kế vị một đế chế Trung Quốc 5.000 năm tuổi chỉ bị hạ bệ bởi phương Tây cướp bóc. Câu “vật vong quốc sỉ” (chớ quên sự ô nhục của đất nước) đã trở thành một câu thần chú dung dưỡng tình cảm ái quốc dựa trên tư tưởng mình là nạn nhân và thấm đẫm một đòi hỏi phải báo thù. Như cựu Giám đốc văn phòng Bắc Kinh của tờ Financial Times Geoff Dyer đã giải thích, “Đảng Cộng sản phải đối mặt với một mối đe dọa đang nóng dần lên đối với tính chính danh của mình kể từ khi từ bỏ Marx để theo thị trường”. Do đó Đảng đã gợi lên những sự ô nhục của quá khứ dưới bàn tay Nhật Bản và phương Tây “để tạo ra một ý thức đoàn kết vốn đã vụn vỡ, và để xác định một bản sắc Trung Quốc về cơ bản là mâu thuẫn với tính hiện đại của Mỹ”.
Cách tiếp cận này đang có hiệu quả. Trong những năm 1990, khi nhiều trí thức phương Tây ăn mừng “sự kết thúc của lịch sử” với chiến thắng rõ ràng của các nền dân chủ dựa trên thị trường, nhiều nhà quan sát đã tin rằng Trung Quốc cũng đang trên đường tiến tới một chính phủ dân chủ. Ngày nay, rất ít người ở Trung Quốc cho rằng các quyền tự do chính trị quan trọng hơn việc giành lại vị thế quốc tế và niềm tự hào dân tộc của Trung Quốc. Như ông Lý đã nói rõ, “Nếu anh tin là sẽ có một cuộc cách mạng đòi dân chủ ở Trung Quốc thì anh sai rồi. Các sinh viên Thiên An Môn giờ ở đâu?” Ông trả lời thẳng thừng: “Họ đã lỗi thời. Người Trung Quốc muốn một Trung Quốc phục hưng”.
Cuối cùng, Tập đã cam kết làm Trung Quốc mạnh mẽ trở lại. Ông tin rằng một quân đội “có khả năng chiến đấu và chiến thắng các cuộc chiến” là tối quan trọng đối với việc hiện thực hóa mọi thành tố khác trong Giấc mộng Trung Quốc. “Để đạt được công cuộc đại phục hưng dân tộc Trung Quốc”, ông nói, “chúng ta phải đảm bảo sự thống nhất giữa một đất nước thịnh vượng và một quân đội hùng mạnh”. Dù mọi cường quốc đều xây dựng các đội quân mạnh, “Giấc mộng Quân đội Hùng mạnh” này là đặc biệt quan trọng đối với Trung Quốc khi nó tìm cách vượt qua nỗi ô nhục dưới tay các cường quốc nước ngoài.
Bất chấp mọi thách thức khác trong nghị trình của mình, Tập đang cùng lúc tái tổ chức và tái thiết các lực lượng vũ trang của Trung Quốc theo cách mà chuyên gia hàng đầu của Nga về quân đội Trung Quốc Andrei Kokoshin gọi là “chưa từng có về quy mô và chiều sâu”. Ông đã xử lý nạn đút lót trong quân đội và cải tổ tổ chức vốn tập trung vào nội địa của nó để tập trung vào các chiến dịch hợp đồng tác chiến chống lại các kẻ thù bên ngoài.
Việc xáo trộn bộ máy quan liêu như vậy thường không phải là một sự kiện lạ lùng. Nhưng trong trường hợp của Tập nó đã nhấn mạnh cam kết hết sức nghiêm túc của Bắc Kinh là xây dựng một quân đội hiện đại có thể đương đầu và đánh bại mọi đối thủ – nhất là Mỹ. Dù các nhà hoạch định quân sự của Trung Quốc không dự tính một cuộc chiến tranh, cuộc chiến mà họ đang chuẩn bị lại đặt Trung Quốc vào thế cạnh tranh với Mỹ trên biển. Tập đã tăng cường các lực lượng hải quân, không quân, và tên lửa của Quân Giải phóng Nhân dân vốn hết sức quan trọng đối với việc kiểm soát các vùng biển, trong khi cắt giảm 300.000 lính bộ và giảm sự thống trị truyền thống của các lực lượng trên đất liền trong quân đội.
Trong khi đó, các chiến lược gia quân sự của Trung Quốc đang chuẩn bị cho xung đột trên biển bằng một chiến lược “tiền duyên phòng ngự” (forward defense) dựa trên việc kiểm soát các vùng biển gần Trung Quốc nằm trong “chuỗi đảo thứ nhất”, chạy từ Nhật Bản, qua Đài Loan, đến Philippines và Biển Đông. Bằng cách triển khai các năng lực quân sự chống tiếp cận/chống xâm nhập (A2/AD) đe dọa đến các tàu sân bay và các tàu chủ lực khác của Hoa Kỳ, Trung Quốc đã liên tục đẩy Hải quân Hoa Kỳ ra khỏi các vùng biển lân cận của mình phòng khi có xung đột. Một nghiên cứu đáng tin cậy của tổ chức RAND năm 2015 cho thấy rằng đến cuối năm 2017 Trung Quốc sẽ có “lợi thế” hoặc “tương đối ngang hàng” trong sáu trên chín lĩnh vực năng lực quân sự truyền thống vốn rất quan trọng trong một cuộc đối đầu ở Đài Loan, và bốn trên chín lĩnh vực trong một cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Nghiên cứu này kết luận rằng trong vòng từ 5 đến 15 năm tới, “châu Á sẽ chứng kiến một đường ranh giới dần dần rút lui của sự thống trị của Hoa Kỳ”.
Trong lúc từ từ ép Mỹ ra khỏi các vùng biển này, Trung Quốc cũng kéo các nước Đông Nam Á vào quỹ đạo kinh tế của mình, cũng như cả Nhật Bản và Úc. Đến nay nó đã thành công mà không phải chiến đấu. Nhưng nếu phải chiến đấu, Tập muốn Trung Quốc thắng.
***
Liệu Tập có thành công trong việc đưa Trung Quốc phát triển đủ mạnh để thay thế Mỹ trong vai trò là nền kinh tế hàng đầu thế giới và chủ thể quyền lực nhất ở Tây Thái Bình Dương hay không? Ông có thể làm Trung Quốc vĩ đại trở lại hay không? Hiển nhiên là mọi chuyện có thể diễn biến xấu đi theo rất nhiều cách, và những tham vọng phi thường này đã khiến hầu hết các nhà quan sát hoài nghi. Nhưng khi được hỏi, Lý Quang Diệu đã đánh giá tỷ lệ thành công là bốn trên năm. Cả ông Lý lẫn tôi đều đặt cửa cho Tập. Như ông Lý nói, “ý thức về số phận được gợi lại [của Trung Quốc] là một sức mạnh vượt trội”.
Nhưng nhiều người Mỹ vẫn còn phủ nhận ý nghĩa của sự chuyển mình từ một nước nông nghiệp lạc hậu sang “chủ thể lớn nhất trong lịch sử thế giới” của Trung Quốc với Hoa Kỳ.
Khi một Trung Quốc đang lên nhanh chóng thách thức sự thống trị quen thuộc của Hoa Kỳ, hai nước có nguy cơ rơi vào một cái bẫy chết người được xác định lần đầu bởi sử gia Hy Lạp cổ đại Thucydides. Viết về một cuộc chiến đã tàn phá hai thành bang hàng đầu của Hy Lạp cổ đại cách đây hai thiên niên kỷ rưỡi, ông giải thích: “Chính sự trỗi dậy của Athens và nỗi sợ điều này sẽ lan đến Sparta đã làm cuộc chiến này trở nên không thể tránh khỏi”.
Năm 2015, tờ The Atlantic cho đăng bài “Bẫy Thucydides: Hoa Kỳ và Trung Quốc đang đâm đầu vào chiến tranh?” Trong tiểu luận này tôi lập luận rằng ẩn dụ lịch sử này cung cấp những ống kính tốt nhất để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ ngày nay. Kể từ đó, khái niệm này đã khơi mào một cuộc tranh luận đáng kể. Thay vì đối mặt với bằng chứng và suy nghĩ về những điều chỉnh không thoải mái nhưng cần thiết mà cả hai bên có thể phải thực hiện, các nhà hoạch định chính sách và các vị nguyên thủ đã dựng một con bù nhìn rơm quanh tuyên bố của Thucydides về sự “không thể tránh khỏi” và châm lửa – cho rằng cuộc chiến giữa Washington và Bắc Kinh là không định trước. Tại cuộc gặp cấp cao năm 2015, Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình đã thảo luận chi tiết về cái bẫy này. Obama nhấn mạnh rằng bất chấp căng thẳng cấu trúc mà sự trỗi dậy của Trung Quốc gây ra, “hai nước vẫn có khả năng quản lý những bất đồng”. Đồng thời, họ cũng thừa nhận rằng, theo lời của Tập, “nếu liên tục phạm phải những sai lầm tính toán chiến lược thì các nước lớn có thể sẽ tự tạo ra những cái bẫy như vậy cho chính mình”.
Tôi đồng ý: Cuộc chiến giữa Mỹ và Trung Quốc không phải là không thể tránh khỏi. Quả thật, Thucydides cũng sẽ đồng ý rằng cuộc chiến giữa Athens và Sparta cũng thế. Đặt vào bối cảnh, rõ ràng tuyên bố của ông về sự không thể tránh khỏi của cuộc chiến ấy là cường điệu: cường điệu vì mục đích nhấn mạnh. Ý chính của cái bẫy Thucydides không phải là niềm tin vào số mệnh định sẵn hay thái độ bi quan. Thay vào đó, nó đưa chúng ta ra khỏi những tiêu đề báo chí và luận điệu của chế độ để nhận ra sự căng thẳng cấu trúc vô cùng lớn mà Bắc Kinh và Washington phải quản lý để xây dựng được một mối quan hệ hòa bình.
Liệu cuộc đụng độ sắp tới giữa hai cường quốc này có dẫn đến chiến tranh hay không? Liệu Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập, hoặc những người kế nhiệm họ, có giẫm vào vết xe đổ đầy bi kịch của các nhà lãnh đạo của Athens và Sparta hay của Anh và Đức hay không? Liệu họ có tìm được một cách tránh được chiến tranh hiệu quả như Anh và Mỹ đã làm cách đây một thế kỷ, hay như Mỹ và Liên Xô đã làm trong bốn thập niên Chiến tranh Lạnh hay không? Rõ ràng là không ai biết được. Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn rằng động lực mà Thucydides đã xác định trước đây sẽ còn tăng cường trong những năm tới.
Phủ nhận cái bẫy Thucydides sẽ không làm nó bớt thực tế hơn. Thừa nhận nó cũng không có nghĩa là phải chấp nhận bất cứ chuyện gì xảy ra. Vì các thế hệ trong tương lai, chúng ta có trách nhiệm trước mắt là phải đối mặt với một trong những khuynh hướng tàn bạo nhất của lịch sử và sau đó làm mọi thứ chúng ta có thể để tạo nên kỳ tích.Graham Allison
Tram Nguyen & Nguyễn Huy Hoàng dịch
Graham Allison là Giám đốc Trung tâm Belfer về Khoa học và Quan hệ Quốc tế và Giáo sư ngành quản trị công tại Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy thuộc Đại học Harvard. Bài viết này được chuyển thể từ cuốn sách mới xuất bản của ông, Destined for War: Can America and China Escape Thucydides’s Trap? (Houghton Mifflin Harcourt, 2017).
Bản gốc: “What Xi Jinping Wants,” The Atlantic, May 31, 2016.

Trung Quốc: Vương đạo hay bá đạo?

image
Trong bài “Văn hóa chiến lược Trung Quốc và tranh chấp Biển Đông”, Giáo sư Miles Maochun Yu ở Học viện Hải quân Mỹ (US Naval Academy) viết:  Trung Quốc đang tiến hành leo thang sức mạnh quân sự ở Biển Đông, gây ra cuộc xung đột nghiêm trọng mang tầm vóc lịch sử có thể lôi kéo một số cường quốc tham gia, kể cả Mỹ, Trung Quốc, Nhật, và thậm chí Nga. Tác giả nhấn mạnh: cần phải thấy các hành động mới đây của Trung Quốc ở Biển Đông tuân theo một logic nhất quán của lịch sử Trung Quốc và chúng có căn gốc sâu xa từ văn hóa chiến lược lâu đời của nước này, trong đó có cái gọi là “vương đạo”.

Vậy “vương đạo” là gì? Các thư tịch cổ Trung Quốc dường như không có từ “vương đạo”. Trong cuốn “Giấc mơ Trung Quốc”, đại tá Lưu Minh Phúc – một trong những phần tử diều hâu nhất trong giới học giả quân sự Trung Quốc hiện nay – dành hẳn một chương chiếm hơn 1/10 tổng số trang sách để nói về vấn đề này dưới tiêu đề Dùng tính cách Trung Hoa để xây dựng ‘Trung Quốc vương đạo’.
Theo quan điểm Nho giáo thì “vương đạo” hoặc học thuyết đế vương của Trung Quốc là đường lối dùng nhân nghĩa để cai trị thiên hạ; ngược lại với “bá đạo” là đường lối dùng vũ lực để cai trị thiên hạ. Người Trung Quốc coi học thuyết vương đạo là thành tựu trí tuệ của tổ tiên họ, nhằm đối lập với quan điểm của phương Tây dùng sức mạnh để giải quyết các mâu thuẫn. Bản chất văn hóa của “vương đạo” là nhân nghĩa đạo đức, tức là tuân theo nguyên tắc “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân (Điều mình không muốn thì chớ đem lại cho người khác)”, dùng nhân nghĩa đạo đức để cảm hóa chứ không ép buộc người ta; dùng lý lẽ để thuyết phục chứ không dùng sức mạnh trị người.
Sách Giấc mơ Trung Quốc ra sức chứng minh vương đạo là bản chất của nhà nước Trung Quốc, mấy nghìn năm qua nước này luôn thực hành “vương đạo” để dựng nước; dân tộc Trung Hoa văn minh, cao thượng, nhân từ chưa hề có tư duy chinh phục thế giới, chứng cớ là cả thế giới ngoài Trung Quốc ra không nước nào dùng Hán ngữ; từ đế quốc Tần cho tới nay Trung Quốc chưa hề xâm lược nước nào, lớn mạnh như thế mà không chiếm các tiểu quốc Việt Nam, Myanmar, bán đảo Triều Tiên, ngược lại các hoàng đế Trung Quốc đối xử với vua các tiểu quốc như anh cả với em nhỏ, hậu quả khiến cho Trung Quốc khổ sở vì chế độ triều cống (cống một, hồi tặng mười)… Chẳng những không xâm lược nước khác mà do thực hành vương đạo nên từ đời nhà Tống trở đi Trung Quốc lại bị nước khác xâm lược, bị các nước nhỏ xung quanh coi thường…
Lưu Minh Phúc cho biết: năm 1924, trong diễn văn đọc tại hội nghị Thương nghiệp Kobe (Nhật), Tôn Trung Sơn nói: “Văn hóa phương Đông là vương đạo, văn hóa phương Tây là bá đạo”. Hồi ấy các đế quốc phương Tây đưa tàu chiến và súng lớn đến xâm lược và chia cắt Trung Quốc, Tôn Trung Sơn nhận xét như thế là đúng. Nhưng ngày nay tình hình đã khác, Trung Quốc không còn yếu hèn chịu để kẻ khác xâm lược nữa mà ngược lại Trung Quốc đang diễu võ dương oai đòi chiếm gần hết Biển Đông và thực sự từ năm 1974 trở đi đã dùng vũ lực chiếm một số đảo ở Biển Đông.
Giờ đây thuyết “thực hành vương đạo” được Trung Quốc dùng để bào chữa cho yêu sách quá đáng của họ ở Biển Đông. Bắc Kinh giải thích phải làm thế vì các nước nhỏ xung quanh Biển Đông – đặc biệt là Philippines và Việt Nam – không tôn trọng Trung Quốc, nay cần phục hồi sự thần phục của mấy tiểu quốc ấy đối với Trung Quốc.
Việc Trung Quốc tự nhận họ luôn luôn thực hành vương đạo và chưa hề xâm lược nước ngoài cần được hiểu như thế nào?
Mọi người đều biết thủa ban đầu lập nước, quốc gia sau này được gọi là Trung Quốc chỉ nằm gọn trong vùng Trung nguyên ở trung-hạ lưu Hoàng Hà, tức tỉnh Hà Nam hiện nay, diện tích khoảng 160 nghìn km2. Trung Quốc ngày nay rộng 9,6 triệu km2, diện tích tăng gấp 60 lần. Rõ ràng đấy là kết quả của quá trình bành trướng và vũ trang xâm lược kéo dài trong hàng nghìn năm. Thí dụ Tần Thủy Hoàng “thống nhất thiên hạ” là kết quả của việc nước Tần đưa hàng chục vạn quân đánh chiếm 6 nước xung quanh. Đấy chẳng phải là xâm lược thì là gì? Dùng vũ lực gây ra cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài trong 10 năm, làm chết hàng triệu người sao có thể gọi là thực hành vương đạo? Rõ ràng là bá đạo!
Năm 214 TCN vua Tần lại cho đại quân vượt Lĩnh Nam chiếm đất của các dân tộc Bách Việt, nay là Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến và Bắc bộ Việt Nam, lập thành 3 quận. May sao dân tộc Lạc Việt quật cường và khôn ngoan tuy bị giặc ngoại xâm thống trị hơn 10 thế kỷ nhưng kiên quyết chỉ học chữ Hán, không học tiếng Hán, nhờ thế không bị người Hán đồng hóa. Cuối cùng khi gặp thời cơ, năm 938 Ngô Quyền lãnh đạo quân ta đánh tan quân Nam Hán. Từ đó Việt Nam thoát ra khỏi sự thống trị của Trung Quốc, trở thành một quốc gia, tuy về danh nghĩa là “phiên thuộc quốc” của triều đình phương Bắc, nhưng chỉ có quan hệ định kỳ triều cống mà thôi, còn đối nội đối ngoại đều độc lập. Trong nhiều thế kỷ sau đó, các vương triều Trung Quốc mấy lần cho quân xâm lược Việt Nam nhưng đều thất bại phải rút về, kể cả lần đại quân nhà Minh chiếm nước ta được 10 năm cuối cùng lại bị Lê Lợi đánh đuổi về nước.
Nếu không xâm lược, bành trướng thì Trung Quốc sao có được vùng đất Nội Mông Cổ rộng 1,183 triệu km2 và Tây Tạng rộng 1,202 triệu km2 (cộng lại chiếm gần 25% tổng diện tích Trung Quốc), vốn là nơi sinh sống của hai dân tộc Mông Cổ và Tây Tạng có nền văn hóa hoàn toàn khác với dân tộc Hán? Nhưng ngày nay Trung Quốc nói hai lãnh thổ ấy từ xưa đã thuộc về họ, dân tộc Mông Cổ và dân tộc Tạng là dân tộc thiểu số của Trung Quốc.
Tóm lại trong nhiều thế kỷ, bằng chính sách bành trướng, xâm lược, dân tộc Hán ở Trung nguyên đã mở mang bờ cõi của mình lên gấp 60 lần, trở thành một đế quốc quá lớn (rộng gần bằng cả châu Âu) và đông dân, vượt quá khả năng cai quản của các vương triều. Nước này thường xuyên có khủng hoảng chính trị, nội chiến, nông dân nổi lên khởi nghĩa với số lượng và quy mô lớn nhất thế giới. Các vương triều Trung Quốc tiêu hao hầu hết sức lực vào việc đối phó với các phe phái tranh giành quyền lực nội bộ cung đình và với nông dân các nơi nổi dậy cướp chính quyền. Đây là lý do vì sao sau khi mở rộng lãnh thổ hết cỡ, các vương triều Trung Quốc không còn sức đâu để đi chiếm thêm lãnh thổ, chứ không phải vì “dân tộc Trung Hoa không có tư duy xâm lược”, “Trung Quốc thực hành vương đạo”.
Ngay trong thế kỷ 20, Trung Quốc cũng có nhiều nội tranh hơn “ngoại tranh”. Như nội chiến giữa Quốc dân đảng với Đảng Cộng sản Trung Quốc thời kỳ 1927-1949, các rối loạn nội bộ sau đó, như các cuộc vận động chính trị, Cách mạng Văn hóa… đã làm hàng chục triệu dân chết vì đói ăn và bị hành hạ, nhiều chẳng kém số người chết trong kháng chiến chống Nhật.
Ngày nay sau khi trỗi dậy thành công, cơ bản không còn nội tranh lớn, Trung Quốc đã từ bỏ phương châm “Thao quang dưỡng hối” (Giấu mình chờ thời), ngang nhiên đưa ra yêu sách lãnh thổ ở Biển Đông. Vô lý nhất là họ tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển bên trong Đường 9 đoạn, tức độc chiếm hầu hết Biển Đông, và tự cho mình có quyền hành xử tại đây như trong lãnh thổ của mình, cấm đánh cá, cho tàu đâm chìm tàu cá của ngư dân nước khác, bồi đắp đảo nhân tạo, làm đường băng sân bay, dọa lập Vùng Nhận dạng phòng không, cho máy bay ngăn cản máy bay nước khác… Họ tuyên bố trước không thừa nhận phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực tại La Haye, có nghĩa là phớt lờ luật pháp quốc tế. Các hành động của Trung Quốc đang gây ra căng thẳng chưa từng thấy tại Biển Đông, rất có thể châm ngòi cho các cuộc xung đột quân sự, đang gây ra lo ngại cho các quốc gia trong vùng cũng như trên thế giới.
Đúng vào ngày TT Obama đến Hà Nội, Thời báo Hoàn cầu ra xã luận dưới tít “Obama không có cách nào biến Việt Nam thành Philippines” ngoài miệng là trình bày quan điểm của TQ đối với Việt Nam, thực ra là lên giọng bá đạo cảnh báo:
1. Việt Nam chớ có đối lập chiến lược với Trung Quốc; chỉ có quan hệ tốt với Trung Quốc thì Việt Nam mới giữ được Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội; chớ như Philippines đối đầu với Trung Quốc.
2. Việt Nam không còn gì nhiều để tranh chấp với Trung Quốc: Hoàng Sa mất hẳn vào tay Bắc Kinh từ 1974, là việc đã rồi không thể thay đổi; tại Trường Sa, Việt Nam cũng chỉ có vài hòn đảo đá; mấy giếng dầu Việt Nam đang khai thác đều không nằm trong Đường 9 đoạn.
3. Việt Nam phải cực kỳ thận trọng trong xử lý quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Nếu phong trào đòi nhân quyền và dân chủ trong nước lên cao thì Việt Nam hãy ngả về phía Bắc Kinh.
Tóm lại, cách hành xử của Trung Quốc rõ ràng là cách hành xử bá đạo, không thể nào gọi là vương đạo! Chừng nào còn hành xử như vậy thì Trung Quốc còn tự cô lập trước toàn châu Á và thế giới./.Nguyễn Hải Hoành

No comments:

Post a Comment