Friday, June 23, 2017

Bài viết hay(5088)

Trong số các nữ văn sĩ VN, tui rất thích bà Minh Đức Hoài Trinh. Bà giỏi, nhiệt tình, dân thân, nói là làm, muốn thay đổi. Tiếc là bà không gặp thời khi mà hoàn cảnh xã hội VN chưa đủ chín muồi cho bà viết ra tất cả những gì bà nung nấu trong lòng. Ngày xưa, tui thấy chị Hoàng Dược Thảo có nhiều nét giống bà nhưng chị Thảo có báo Saigon Nhỏ trong tay mà không tập họp được anh hùng hảo kiệt trong võ lâm, rơi vào những đấu tranh vụn vặt để rồi chị bị bề hội đồng đến lúc trắng tay thì không thấy ai nhảy ra cứu mỹ nhân. Hai bà nhà văn, nhà báo này bị lún vào bãi cứt trâu ở Bolsa nên ...thua. Tui chỉ biết chúc bà Minh Đức Hoài Trinh an nghĩ. Tui vẫn thích đọc văn của bà và ngưỡng mộ bà. 

Tinh thần Đồng Tâm – Tinh thần cộng hoà

Để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình, người dân Đồng Tâm đã phải phản kháng. Song đâu đâu ta cũng thấy những lời chê trách họ, và ai ai cũng nhìn nhận họ như những tội nhân lầm lỡ.
Từ một dư luận như vậy, khiến chúng ta phải hoài nghi rằng liệu mình đang sống trong một nền chuyên chế hay một nền cộng hòa.
Nhắc lại hai khái niệm
Trong một nền chuyên chế, giới cai trị nắm quyền tuyệt đối, còn người dân chẳng nắm trong tay chút quyền lực nào. Ở đó con người chỉ là thần dân chứ không phải là công dân, việc của anh ta là phải tuân phục kẻ cai trị. Khi anh ta bị dồn đến đường cùng để rồi phải phản kháng, thì anh ta vẫn bị coi là kẻ có tội, bởi tự cái việc phản kháng đã là một tội. Nếu anh ta có được tha thứ, thì đó không phải là do anh ta đã hành động đúng, mà là do sự khoan dung độ lượng của bậc cai trị bề trên.
Trái lại, nền cộng hòa là kiểu chính thể mà ở đó người dân cai trị một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện. Chính quyền được tạo lập nhằm mục đích bảo vệ các quyền và sự tự do của người dân, và quyền lực của nó bị giới hạn trong mục đích ấy. Trong một nền cộng hòa, không có sự phân biệt giữa kẻ cai trị và thần dân, mà tất cả đều là công dân: không một ai đứng trên luật pháp, chỉ có luật pháp mới có địa vị tối cao. Khi xảy ra xung đột giữa người dân với nhau, hay giữa người dân với chính quyền, thì tất cả đều được xét xử công bằng để đảm bảo công lý được thực thi.
Công lý, sự tự do, tinh thần công – ấy chính là ba giá trị cốt lõi của nền cộng hòa.
Tinh thần Đồng Tâm, tinh thần cộng hòa
Giờ đây, trong mắt chính quyền và một bộ phận không nhỏ người dân, thì những người Đồng Tâm mang dáng dấp của những con người khờ dại đang phạm sai lầm. Có vẻ những người này tin rằng dân chúng cần được dạy dỗ và cần được đối xử khoan hồng độ lượng.
Song chúng ta hãy nhìn lại những gì đã diễn ra ở Đồng Tâm.
Ban đầu, người dân Đồng Tâm đã tôn trọng pháp luật. Trong suốt những năm qua, họ cần mẫn đấu tranh theo pháp luật, dựa trên các thủ tục pháp quyền. Họ kiên trì làm đơn khiếu nại nộp lên các ban ngành huyện và thành phố, và nhẫn nại chờ đợi phản hồi từ phía chính quyền.
Và rồi, họ đã đấu tranh vì công lý khi pháp luật không đủ khả năng bảo vệ họ. Những phản ứng của người dân Đồng Tâm trước chính quyền không đơn thuần là vì những lợi ích cụ thể của họ, mà còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn và lớn lao hơn, đó là để bảo vệ công lý và bảo vệ các giá trị cộng hòa. Chắc chắn rằng, nơi nào mà con người còn tin là mình đang đấu tranh vì sự công bình, thì nơi đó còn có hy vọng về công lý – bất kể công lý có thuộc về họ hay không.
Và họ đã khước từ bạo lực. Người dân Đồng Tâm ý thức rõ về việc làm của mình, họ đã đối xử tử tế với những người của phía chính quyền mà họ tạm giữ, trong khi những người đại diện của họ đang bị cơ quan chính quyền bắt bớ. Họ đã mở rộng cửa cho chính quyền đến đối thoại.
Rõ ràng người dân Đồng Tâm hiểu thế nào là công lý và thế nào là hành vi đúng mực. Đó là một cảm thức chính trị rất đáng được nêu cao. Ấy vậy mà chúng ta lại không xiển dương tinh thần đó của người dân Đồng Tâm. Ấy vậy mà chúng ta lại coi họ như những người khờ dại.
Bất kể người Đồng Tâm có biết thế nào là các giá trị cộng hòa hay không, thì họ vẫn đang sống và đấu tranh với tinh thần ấy. Hãy thử hỏi khi các quyền và tự do của người dân bị xâm phạm mà người dân lại làm ngơ, thì xã hội sẽ đi về đâu? Khi các giá trị như công lý, tự do, và các quyền không còn được bảo vệ, thì chắc chắn con người sẽ trở nên suy đồi. Lúc ấy các cá nhân không còn là công dân nữa, mà họ trở thành thần dân, và quốc gia cũng không còn là một nền cộng hòa nữa, mà nó trở thành một nền chuyên chế.
Nhìn ra thế giới
Trong lịch sử nhân loại, có hai nền cộng hòa vĩ đại. Ấy chính là cộng hòa La Mã và cộng hòa Mỹ. Chúng vĩ đại không chỉ vì sự thịnh vượng và bền vững với thời gian, mà trên hết là vì ở đó con người sống như các công dân tự do, được hưởng đầy đủ các quyền và công lý.
Cộng hòa La Mã tồn tại hơn 450 năm trước khi suy thoái thành nền quân chủ. Đây là nền cộng hòa nổi tiếng nhất trong lịch sử, và chính nước Mỹ sau này cũng đã kế thừa các nền tảng cộng hòa mà La Mã cổ xưa để lại.

Nền cộng hoà rộng lớn của La Mã cổ đại. Ảnh: Wikipedia.
Người La Mã đề cao các đức hạnh của con người như sự tự do, công lý, sự tiết độ, và tinh thần công dân trong việc tham gia vào các vấn đề quốc gia. Để bảo vệ các giá trị đó, họ đã tạo ra một thiết chế nhằm ngăn chặn sự tùy tiện của chính quyền. Đó là một dạng thể chế hỗn hợp, trong đó quyền lực được phân chia cho ba bộ phận khác nhau là giới lãnh đạo, viện nguyên lão, và các hội đồng công dân. Ba thực thể này kiểm soát lẫn nhau để tránh việc lạm quyền, nhờ đó duy trì sự ổn định của thể chế và bảo vệ các giá trị của nền cộng hòa. Ý tưởng về phân chia và kiểm soát quyền lực này chính là bài học được truyền lại cho các nhà tư tưởng như Machiavelli, Montesquieu, hay các nhà lập quốc Mỹ như Madison, Jefferson.
La Mã xưa kia được dẫn dắt bởi những con người mang tinh thần cộng hòa vĩ đại như Cicero và Brutus. Họ yêu mến nền cộng hòa tới mức không chấp nhận sự chuyên chế của một người La Mã vĩ đại khác – có lẽ là vĩ đại nhất – là Julius Caesar. Caesar đã bị một nhóm nguyên lão hiệp lực ám sát, bởi ông ta muốn trở thành nhà độc tài suốt đời và chắc chắn điều này sẽ tiêu diệt nền cộng hòa lâu đời của La Mã. Tuy nhiên, những nỗ lực của viện nguyên lão vẫn chưa đủ. Cuối cùng nền cộng hòa La Mã cũng biến mất, và trở thành nền quân chủ khi giới chính khách nước này chỉ khao khát quyền lực, còn các công dân lại thờ ơ với công lý, tự do.
Cộng hòa Mỹ cũng vĩ đại không kém. Những người di cư đến Bắc Mỹ ban đầu đã thiết lập nên các chính quyền nhân dân tự quản. Tuy nhiên lúc ấy họ vẫn nằm dưới sự bảo hộ của Anh. Trước những đối xử bất công của chế độ quân chủ Anh, người Mỹ đã nổi dậy đánh đổ sự bảo hộ này, và thiết lập nên nền cộng hòa Mỹ. Tinh thần cộng hòa ấy được thể hiện rõ trong bản tuyên ngôn độc lập do Thomas Jefferson thảo nên:
“Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ.”
Nước Mỹ không chỉ có những nhà lãnh đạo tài hoa, mà họ còn có những nhà cộng hòa vĩ đại, những người yêu mến tự do trên hết, như George Washington, Thomas Jefferson, James Madison, Alexander Hamilton, và nhóm Brutus. Những người này đã hiện thực hóa tinh thần của bản tuyên ngôn độc lập trên vào trong hiến pháp Mỹ. Đây là bản hiến pháp thành văn lâu đời nhất trên thế giới, trong đó nó định rõ một loạt các cơ chế kiểm soát quyền lực như tam quyền phâp lập, kiểm soát cân bằng, và chủ nghĩa liên bang.
Khó mà tưởng tượng được nước Mỹ sẽ như thế nào nếu Thomas Jefferson khát khao quyền lực hơn là công lý, nếu James Madison tham vọng độc tôn cai trị hơn là tự do. Chính niềm yêu mến các giá trị công lý, tự do, và tinh thần công đã tạo nên một nền tảng cho sự thịnh vượng và bền vững của các nền cộng hòa. Thể chế nào rồi cũng suy tàn khi con người không còn thiết tha gì với những giá trị ấy, như đã từng xảy ra với nền cộng hòa La Mã.
Nếu chúng ta có đang thờ ơ với các giá trị cộng hòa như những công dân cuối cùng của nền cộng hòa La Mã, thì có lẽ cần phải biết ơn người dân Đồng Tâm đang thay ta nỗ lực gìn giữ chúng. Có thể xác quyết một điều rằng họ đã hành động như những công dân cộng hòa thực thụ. Và như thế, họ xứng đáng được tôn vinh. Vy Yên

Giải tỏa vỉa hè dưới góc nhìn triết luận pháp luật

Chiến dịch giải tỏa vỉa hè của Phó Chủ tịch UBND quận 1 Đoàn Ngọc Hải dường như là sự kiện nổi bật nhất gần đây, tạo ra cuộc tranh luận giữa nhiều ý kiến đối nghịch nhau từ dư luận xã hội, cả ủng hộ lẫn phản đối. Bài viết này không bàn xem chiến dịch đó đúng hay sai trên một phương diện nhất định, mà chỉ đặt lại vài vấn đề liên quan đến nền tảng pháp lý mà dựa vào đó một xã hội công dân hiện đại được vận hành.
Chúng ta có sẵn sàng đặt hệ thống quản trị quốc gia trên nền tảng triết lý của “cuộc chiến vỉa hè”? Ảnh: Thanh Niên.
Trước hết, cần xác định rõ rằng lấn chiếm vỉa hè là không hợp pháp và kém văn minh, bất kể được biện minh bằng lý lẽ mủi lòng nào về kế sinh nhai của người lao động đi nữa. Đó là chưa nói đến nguyên nhân sâu xa của tình trạng ấy là bởi nhiều quan chức đã nhận hối lộ để làm ngơ hoặc chây ỳ không xử lý dứt khoát. Sự dung túng như thế tất nhiên cũng hoàn toàn bất hợp pháp.
Việc bỏ mặc vỉa hè bị lấn chiếm bao nhiêu năm trời đã bộc lộ sự bất lực của bộ máy hành pháp ở mọi cấp bấy lâu, nên giải tỏa vỉa hè là việc cần làm của người đứng đầu cơ quan hành chính cấp quận như ông Đoàn Ngọc Hải. Do vậy, bất kể chiến dịch của ông bị chỉ trích vì không tuân thủ các thủ tục pháp lý cần thiết, hành động của ông vẫn nhận được nhiều tán thưởng từ cộng đồng, nhất là giới trung lưu muốn nhìn thấy đường xá trong thành phố sạch đẹp và văn minh.
Xua “quân” đi giải tỏa vỉa hè, ông Đoàn Ngọc Hải cho phép nhân viên công quyền tạm giữ, tịch thu và thậm chí đập phá tài sản của người vi phạm. Khi có người phản kháng lại hành động đó, ông không ngần ngại tuyên bố sẽ bắt giam họ vì hành vi chống người thi hành công vụ.
Nói cách khác, ông phớt lờ các quy định pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính, vốn dĩ yêu cầu cơ quan xử phạt trước tiên phải lập biên bản vi phạm, rồi đưa ra quyết định xử phạt buộc cá nhân/tổ chức vi phạm khôi phục tình trạng ban đầu. Nếu cá nhân/tổ chức vi phạm vẫn không trả lại vỉa hè, bấy giờ cơ quan xử phạt mới có quyền cưỡng chế thi hành, bao gồm tạm giữ, tịch thu và phá dỡ tài sản có liên quan.
Giả định chiến dịch của ông Hải sẽ kết thúc thành công, theo nghĩa mục tiêu đạt được, rằng toàn bộ vỉa hè trở nên thông thoáng, không còn cảnh buôn gánh bán bưng bát nháo, khiến khách đi bộ không phải bước xuống lòng đường xe chạy đầy nguy hiểm, ở góc độ quản lý hành chính và xa hơn là sự vận hành một xã hội công dân, cách thức tiến hành chiến dịch của ông Hải vẫn dấy lên nhiều câu hỏi khiến chúng ta phải quay lại tận gốc vấn đề triết luận pháp luật (philosophy of law) để giải đáp.
Vấn đề thứ nhất: Trình tự pháp lý chuẩn mực
Theo dõi quan điểm ủng hộ ông Đoàn Ngọc Hải, chúng ta thấy đa phần có khuynh hướng viện dẫn lập luận “mục đích biện minh phương tiện”, bày tỏ và kêu gọi cộng đồng thông cảm với cách thức xem nhẹ thủ tục xử lý vi phạm mà luật pháp ấn định, miễn sao đạt được mục đích tối hậu là giành lại vỉa hè công cộng cho mọi người.
Một số bức tượng của một khách sạn bị tịch thu vì bị cho là lấn chiếm vỉa hè. Ảnh: Thanh Niên.
Tuy nhiên, đối với một xã hội công dân hiện đại, “mục đích biện minh phương tiện” tiếc thay không phải là triết lý nền tảng để xây dựng hệ thống luật pháp công minh, bởi nó là nguồn cơn của căn bệnh lạm quyền khó chữa, mà các chế độ quân chủ phong kiến trong quá khứ luôn mắc phải.
Ngược lại, triết lý xuyên suốt của mọi hệ thống tư pháp văn minh ngày nay chính là quan niệm về “trình tự pháp lý chuẩn mực” (due process), theo đó nếu nhà cầm quyền muốn định đoạt thân phận pháp lý, quyền tự do hoặc quyền sở hữu của các cá nhân và tổ chức, thì cơ quan công quyền và tòa án phải tuân thủ các thủ tục luật định khắt khe, tức mang tính “trọng thức”, trong đó quyền biện hộ và khiếu nại của đương sự phải được tôn trọng và bảo đảm tối đa.
Tuân thủ trình tự pháp lý chuẩn mực giúp tránh hành động tùy tiện và lạm quyền của cơ quan công quyền và tòa án khi xử lý hành vi vi phạm pháp luật của công dân. Nếu không tâm phục quyết định của các cơ quan đó, người bị xử lý có quyền khởi kiện lại để yêu cầu họ bồi thường thiệt hại và hủy bỏ biện pháp cưỡng chế sai thủ tục pháp lý.
Vấn đề thứ hai: Tính hợp pháp của phương tiện
Từ lâu các học giả về triết luận luật pháp đã tranh luận với nhau về tính hợp pháp của phương tiện mà nhà cầm quyền có thể sử dụng để xử lý kẻ phạm pháp.
Thuở loài người còn mông muội, quan niệm cai trị độc đoán của giới quân chủ thường cho phép nhà cầm quyền áp dụng biện pháp bạo lực, thậm chí phi pháp, để trấn áp và trừng trị thứ dân. Đó là luật của kẻ mạnh. Mọi ràng buộc pháp lý chỉ áp dụng cho tầng lớp bị trị. Quan niệm ấy tất nhiên không còn đất sống trong những xã hội văn minh hóa hiện thời.
Tuy nhiên, vẫn còn vài vết tích của quan niệm cai trị bằng mọi phương tiện nói trên, chẳng hạn chính sách đối phó với nạn ma túy ở Philippnes hiện nay.
Ai cũng biết buôn bán và chứa chấp ma túy là phạm pháp nghiêm trọng, nhưng liệu cảnh sát, quân đội và cơ quan công quyền của Philippnes đương nhiên có thể tự ban cho mình thẩm quyền bắn chết kẻ phạm pháp mà không cần thông qua trình tự xét xử luật định hay không? Cách hành xử ấy có thể nói là vô pháp và chính nó đang khiến xã hội Philippnes ngày càng trở nên loạn lạc và cộng đồng quốc tế buộc phải lên tiếng can thiệp mạnh mẽ.
Kể từ khi Tổng thống Duterte lên cầm quyền từ tháng 6/2016, có không dưới 7.000 người bị giết chết không qua xét xử trong chiến dịch diệt trừ tội phạm ma tuý của ông. Ảnh: National Geographic.
Cũng câu hỏi đó, nếu lấn chiếm vỉa hè là vi phạm pháp luật, thì tài sản của kẻ vi phạm đương nhiên bị tước đoạt hoặc đập phá bất chấp thủ tục luật định?
Chúng ta đều biết, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là tội phạm hình sự theo luật Việt Nam hiện hành, nên hành động tự trao cho mình quyền hành xử như vậy mà không theo trình tự pháp lý chuẩn mực, cũng chính là vết tích của quan niệm cai trị bằng mọi phương tiện như đã nêu trên. Đó là điều không thể chấp nhận xét từ góc độ quản lý hành chính hiện đại và vận hành xã hội công dân.
Hệ thống pháp luật của hầu hết các quốc gia Phương Tây đều được xây dựng trên một nền tảng triết lý nhất định.  Dựa vào khuynh hướng mà triết lý đó chủ trương, người ta có thể đánh giá mức độ phát triển của hệ thống luật pháp ở một quốc gia.
Philippnes là một ví dụ cụ thể và dễ thấy nhất, lạm sát kẻ phạm pháp trong bối cảnh thiếu vắng trình tự pháp lý chuẩn mực thể hiện rõ quan niệm cai trị bằng mọi phương tiện của Tổng thống Duterte. Ở mức độ nhẹ hơn nhiều, nhưng cùng bản chất, chính là ông Phó Chủ tịch Đoàn Ngọc Hải với đội quân đập phá tài sản công dân vô pháp của ông.
Dưới nhãn quan văn minh ngày nay, triết lý sử dụng sức mạnh bạo lực và độc đoán thật ra không khác gì phi triết lý.

Ta đã thấy gì trong hôm nay?

Vụ việc vừa qua ở xã Đồng Tâm đã gây chia rẽ đáng kể và củng cố thêm các chia rẽ hiện có trong xã hội Việt Nam, ngay cả sau cuộc “đối thoại lịch sử” giữa chính quyền Hà Nội và dân địa phương.
Xin cố ghép lời bài hát “Ta đã thấy gì trong đêm nay?” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào hoàn cảnh hôm nay, ngày 22/4/2017, sau khi Chủ tịch TP. Hà Nội Nguyễn Đức Chung đến gặp và đối thoại với bà con xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức, Hà Nội).
“Ta đã thấy gì trong đêm nay?
Cờ bay trăm ngọn cờ bay
Rừng núi loan tin đến mọi miền
Gió hòa bình bay về muôn hướng
Ta đã thấy gì trong đêm nay?
Bàn tay muôn vạn bàn tay
Những ngón tay thơm nối tật nguyền
Nối cuộc tình, nối lòng đổ nát
Bàn tay đi nối anh em…”.
Nhưng thực tế không được êm đẹp như trong bài hát: Vụ việc ở xã Đồng Tâm đã gây chia rẽ đáng kể và củng cố thêm các chia rẽ hiện có trong xã hội Việt Nam, ngay cả sau khi đối thoại.
Mâu thuẫn chính quyền – nhân dân
Vụ Đồng Tâm làm nổi bật lên mâu thuẫn bấy lâu nay giữa chính quyền và người dân trong một vấn đề mang tính nguyên tắc cốt tử của thể chế hiện nay: quyền sở hữu đất đai. Sự kiện này đã không xảy ra nếu công an và quân đội không phối hợp cưỡng chế đất của dân cho những mục đích không thỏa đáng và không minh bạch, bất cần đối thoại, tham vấn.
Nó bộc lộ rõ ràng hơn bao giờ hết sự nghi ngờ, mất niềm tin của cả hai bên – chính quyền và người dân – vào nhau. Vụ Đồng Tâm có thể đã không kéo dài (từ sáng 15/4 đến chiều 22/4) nếu công an tin được dân mà không tìm cách đe dọa, tấn công dân, và nếu dân tin được công an mà thả con tin. (Thực ra, cho đến giờ phút này, nhiều người vẫn nói rằng thật may mà Đồng Tâm không thả hết 38 cán bộ, chiến sĩ công an ngay một lần, chỉ thả dần dần từng đợt; nếu không, lấy gì đảm bảo họ không bị bắt và truy tố với những tội danh nặng nề?).
Chia rẽ báo chí chính thống – báo chí công dân
Nó gây chia rẽ giữa giới báo chí chính thống và các facebooker – nhà báo công dân. Trong những giây phút căng thẳng đêm 19/4, khi có tin rò rỉ từ xã Đồng Tâm ra ngoài rằng có tới 300 côn đồ đang tấn công vào làng, cộng đồng mạng đã gần như náo loạn. Ngày hôm sau, báo chí “lề phải” trích lời bà con Đồng Tâm nói rằng không có chuyện gì xảy ra cả, chỉ có những tin đồn được tung lên mạng làm nhiễu tình hình. Điều này đã củng cố thêm định kiến của nhiều người về hoạt động đưa tin (nghiệp dư) của các công dân mạng và làm giảm tính chính danh của cộng đồng mạng.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách công bằng rằng: Để xảy ra tình trạng facebooker phải vào cuộc đưa tin, phần lỗi thuộc về một nhà nước hạn chế tự do ngôn luận và của một nền báo chí bị nhà nước kiểm soát. Ngoài ra, nếu ngay từ đầu chính quyền không làm gì sai thì đã không có vụ Đồng Tâm, và nếu không có mạng xã hội lên tiếng – bình luận, phân tích, mở rộng vấn đề thay vì chỉ đưa tin – thì rất có thể Đồng Tâm đã bị đàn áp trong im lặng như những Nghệ An, Thái Bình, Tây Nguyên năm nào.
Ta nhớ đến triết gia Đức Hannah Arendt với cuốn sách nổi tiếng “Bản tường trình về sự tầm thường của cái ác” (1963) và “thí nghiệm Milgram” nổi tiếng của nhà tâm lý học Đại học Yale, Stanley Milgram (1961), theo đó, một người bình thường có thể làm những điều tàn ác khi họ biết rõ họ sẽ không phải chịu trách nhiệm cá nhân. Nếu không bị mạng xã hội biết đến và tố cáo sai phạm, nếu không phải chịu hình thức xử lý nào từ cấp trên và dư luận, lực lượng công quyền chẳng có lý do gì để không mạnh tay đàn áp dân chúng, trong vụ Đồng Tâm cũng như tất cả các vụ tương tự.
Chia rẽ trong làng báo
Bản thân làng báo nội chính ở Việt Nam cũng chia rẽ vì sự kiện Đồng Tâm, nhất là sau khi một số cơ quan báo chí (Đài Truyền hình Việt Nam VTV, báo Pháp luật TP. HCM, báo Hà Nội Mới…) đăng tải những bình luận theo hướng phê phán, thậm chí mạ lị người dân Đồng Tâm. Cái đáng nói là, tuy luôn thể hiện tinh thần “thượng tôn pháp luật”, nhưng tất cả đều chỉ đòi hỏi điều ấy ở người dân mà thôi.
Họ không đả động gì tới những kẻ thực sự đã có hành vi nguy hiểm và phạm pháp: dùng bạo lực cưỡng chế đất đai, bắt người trái phép, hành hung ít nhất một người – cụ Lê Đình Kình, 83 tuổi.
Các tác phẩm báo chí và tác giả đó bị nhiều đồng nghiệp công kích. Làng báo càng thêm rạn nứt.
Một trong các chức năng nguyên thủy của báo chí là giám sát, phản biện chính quyền. Trong trường hợp phải lựa chọn giữa bảo vệ nhân quyền và bảo vệ chế độ, báo chí phải đứng về phía dân, đặc biệt là về phía đám đông thầm lặng, người yếu thế, hay nói đơn giản: Vì dân, không vì cường quyền. Nếu suy nghĩ một cách tiêu cực, có thể hiểu đó là sự dân túy, nhưng một cách tích cực thì nên hiểu đó là công lý.
Tuy nhiên, một số đông nhà báo Việt Nam có vẻ đã quên hoặc không biết đến sự lựa chọn bắt buộc ấy.
Chia rẽ “phe chủ chiến” – “phe chủ hòa”
Có lẽ điều đáng mừng duy nhất trong câu chuyện Đồng Tâm là bạo lực cuối cùng đã không xảy ra. Nhưng cũng chỉ là “có lẽ”, bởi thực tế, có không ít ý kiến trên mạng thể hiện sự thất vọng: Họ muốn dân Đồng Tâm quyết tâm phản kháng, chấp nhận đàn áp và đổ máu. Có thể họ nghĩ rằng như thế, ít ra mâu thuẫn cũng sẽ được đẩy đến cùng để rồi tức nước vỡ bờ, còn hơn là kéo dài tình trạng tranh chấp đất đai như hiện nay.
Ý thức về chính trị, pháp luật còn xa vời
Phần đông người dân trong xã hội Việt Nam dường như không nhận thấy một trong các nghĩa vụ quan trọng nhất của quan chức và chính quyền là bảo vệ quyền lợi của dân, nếu không làm được điều đó thì mất chức.
Để làm được điều đó thì lẽ tất nhiên, quan chức, chính quyền phải lắng nghe dân – nghĩa là phải đảm bảo không gian tự do ngôn luận và đối thoại. Do vậy, việc một quan chức như Chủ tịch TP. Hà Nội Nguyễn Đức Chung đến gặp dân Đồng Tâm để nghe giãi bày là chuyện hết sức bình thường, không có gì phải tán dương.
Song dân chúng đã đón chào ông Chung như đón chào một ông tiên về làng.
Ở dân, điều ấy không đáng trách. Nó chỉ cho thấy dân Việt Nam quá khổ, khi mà hàng chục, hàng trăm năm nay họ đều phải cam phận sống như tầng lớp dưới của chính quyền, không hề có ý thức về sự bình đẳng giữa các công dân, về nghĩa vụ của quan chức với dân…
Ở báo chí – lực lượng luôn tưởng mình đi đầu trong công cuộc khai dân trí – sự tán dương ấy dành cho ông Chung mới là điều đáng ngại.
Tuy vậy, dù sao thì nỗ lực đối thoại của ông Chung với dân Đồng Tâm hôm nay cũng xứng đáng được ghi nhận như là một tiền lệ cho việc quan đối thoại với dân thay vì đối đầu, giải quyết mâu thuẫn thông qua đàm phán thay vì bạo lực.
Và cuối cùng, ý niệm về “tam quyền phân lập”, “nhà nước pháp quyền” còn rất xa vời ở Việt Nam, khi mà một lãnh đạo thành phố (nhánh hành pháp) lại quyết định được việc của cả viện kiểm sát, tòa án (nhánh tư pháp), và được báo chí hoan nghênh nhiệt liệt, được dân vỗ tay vang trời – dù rằng đó là quyết định đúng đắn.By


No comments:

Post a Comment