Friday, June 23, 2017

Bài viết hay(5089)

Trong lúc trên toàn thế giới đều nói là Trump không được "bình thường" thì bà con Bolsa vẫn ngưỡng mộ Trump không thua gì Bush con. Khoái máu cao bồi, thích tật ăn nói bừa bãi không cần suy nghĩ, không sợ mất lòng ai, cứ văng miễng bạt mạng mà chẳng cần đếm xỉa gì hậu quả. Trong số các TT Mỹ tồi tệ nhất lịch sử thì đảng con voi đã có GW Bush(con) và Trump đứng đầu - vô cùng vẻ vang và hãnh diện. Chưa kể TT Nixon nổi tiếng với Watergate và ngoại trưởng Henry Kissinger nổi danh "vua đi đêm" vớii thành tích "vô tiền khoáng hậu": bán đứng 2 "đồng minh" Nguyễn Văn Thiệu và Lon Nol chỉ trong năm 1975. Người Việt ở Bolsa khoái CH vì tin rằng CH luôn chống Cộng hiệu quả; nhất là sau khi Reagan làm sụp đổ Liên Sô và Đông Âu mà không tốn 1 viên đạn với hình ảnh bức tường Berlin bị phá bỏ.

Làm báo nhà nước

Một ngày 21/6 ở ban Kinh tế - Khoa học - Công nghệ. Tác giả đứng, đầu bên phải, Chủ nhiệm Chương trình Kinh tế Nguyễn Quang Huy, ngồi, hàng trước, bên phải. (Chụp lại).

Tôi có thời kỳ khoảng 4 năm làm báo ở Đài Tiếng nói Việt Nam nhưng không phải nhà báo, phóng viên mà là làm hợp đồng. Nói làm hợp đồng cũng không đúng mà là làm thuê. Các phòng thuê tôi vào để làm đỡ việc chứ chẳng có hợp đồng gì vì cơ quan không có chế độ hợp đồng, kiểu như ta ra chợ lao động gọi người vào thuê chăm sóc, tỉa cây thôi. Tiền công được trích từ tiền khoán chương trình. Tiền khoán ngoài tiền lương phóng viên nhà báo, có chương trình 12 triệu, có chương trình 18 triệu/tháng. Tiền công tôi có khi 500 nghìn đồng, cũng có lần 1 triệu, đưa bao nhiêu tôi cầm bấy nhiêu. Nói chung đủ tiền xăng xe, ăn trưa và thỉnh thoảng rủ bạn uống bia, còn ăn vẹm vào vợ con bữa tối. Đó là vào nửa cuối thập niên 90 thế kỷ trước.
Đầu tiên tôi làm cho phòng kinh tế (tên phòng gọi theo tên chương trình phát thanh) mà anh trai tôi Nguyễn Quang Huy làm chủ nhiệm chương trình. Không hiểu tại sao người phụ trách có phòng gọi là trưởng phòng nhưng phòng này gọi là chủ nhiệm. Chức năng thì như nhau nhưng có lẽ không bổ nhiệm được trưởng phòng vì thiếu điều kiện nào đó như không phải đảng viên chẳng hạn nên gọi là chủ nhiệm chăng. Sau tôi sang làm cho Chương trình Thị trường - Giá cả. Hai phòng đều thuộc Ban Kinh tế - Khoa học - Công nghệ. Tôi học kinh tế quốc dân nên làm việc cho hai phòng này cũng thuận.
Việc của tôi là biên tập chương trình gồm chọn bài, biên tập, đánh máy, trình duyệt cuối cùng mang đi thu thanh. Thu thanh là khâu cuối cùng, có thể về, còn phát sóng là việc của bộ phận kỹ thuật. Với các nhà báo, phóng viên thì nhàn thôi nhưng công việc của tôi liên tục từ 8 giờ sáng cho đến 7,8 giờ tối.
Nguồn bài vở hầu hết chọn từ các báo in. Không biết các chương trình khác thế nào chứ 2 chương trình tôi đã làm thấy thư bài của bạn đọc gửi về rất ít. Phóng viên có tháng có bài, có tháng không. Tôi hỏi thì trưởng phòng bảo đúng ra mức giao cho phóng viên mỗi tháng 2 bài nhưng chẳng ai thực hiện được. Tôi cũng tham gia viết bài, viết được bài nào thì đưa vào chương trình. Cũng có khi tôi xin đi cơ sở để viết. Bài được sử dụng tuy không có nhuận bút nhưng là cách để rèn luyện tay viết.
Sáng nào các phòng cũng nhận được vài chục tờ báo đủ loại. Mỗi phòng chọn lấy những bài phù hợp với chương trình của mình, lấy kéo cắt ra rồi xếp vào thành chương trình từng ngày. Việc này gọi là “khai thác”. Đầu tiên là trưởng phòng trực tiếp chọn bài, sau giao luôn cho tôi để anh rảnh tay. Mỗi chương trình thời lượng phát sóng 15 hoặc 10 phút gồm 3 bài, 1 bài chính, 1 bài vừa vừa và 1 bài ngắn. Vì vậy khi biên tập phải cắt đi sao cho phù hợp với thời lượng phát sóng, xong sửa chữa câu cú rồi đánh máy hoặc vừa đánh máy vừa sửa. Riêng bài thứ 3 thì không cần đánh máy, có thể dán vào một tờ giấy khổ A4, để nguyên hoặc sửa trực tiếp trên bài báo, vì vậy còn gọi là báo dán. Kéo văn phòng và hồ dán là những thứ không thể thiếu được khi hành nghề. Máy chữ thì dùng loại máy cổ, in bằng giấy than, mỗi lần có thể được 3 bản, kiểu như máy chữ của ông Hồ Chí Minh ở Việt Bắc.
Làm chương trình Thị trường - Giá cả . Ảnh nhà báo Nguyễn Thu Thùy. (Chụp lại).
Tôi vào việc khá nhanh, chỉ cần 3, 4 ngày là có thể đảm nhận được toàn bộ công việc được giao, tất nhiên lúc cần thiết vẫn có sự hỗ trợ của các phóng viên khác. Chủ nhật, ngoài chương trình thường, thêm một chương trình 30 phút nữa do các phóng viên, nhà báo thực hiện. Tôi làm cần cù, cẩn thận, có trách nhiệm, câu cú được nên mấy anh trong ban rất quý. Các anh bảo tính mày khác hẳn anh mày. Anh tôi là người ngang tàng, chưa bao giờ vào đảng nhưng chuyên môn thì không kém ai. Anh bảo chú cứ thế, cứ thể hiện như là âm bản của tôi. Tôi bảo em thế nào thì thể hiện ra vậy thôi.
Thông thường chương trình được chuẩn bị trước từ 4, 5 ngày đến 1 tuần. Về nội dung, cũng như các báo khác đều phải theo định hướng. Mỗi tuần trưởng phòng đi giao ban về phổ biến cho cả phòng chương trình tới tuyên truyền vấn đề gì, không được đưa tin về vấn đề gì, sự việc gì. Ví dụ như không được đưa tin về biểu tình ở Thái Bình, không được phát bài hát này nọ… Ở Đài TNVN cũng được chống tiêu cực, tất nhiên giới hạn ở cấp nào đó, phạm vi nào đó chứ không phải thích gì viết đó như báo tự do trên mạng bây giờ. Nhưng việc chống tiêu cực nhiều nhà báo cũng ngại, một là nguy hiểm, hai là mất thu nhập. Nếu đi các cơ sở (các địa phương, doanh nghiệp) viết bài ca ngợi, quan hệ vui vẻ thì phong bao cũng khá hơn. 
Vì vậy, không nói đến khác chính kiến, nhà báo nào dám chống tiêu cực đã là dũng cảm lắm. Cả cơ quan báo chí to như Đài TNVN cũng chỉ lốm đốm vài nhà báo chống tiêu cực chừng mực. Xin nêu một trường hợp đặc biệt về hậu quả chống tiêu cực là Nhà báo Trần Quang Thành. Thời kỳ 1986 ông làm ở Viện nghiên cứu Phát thanh - Truyền hình. Ông rất hăng hái chống tiêu cực, cả chống tiêu cực ngay ở cơ quan ông làm việc. Sau đó, ông, rồi con ông bị mất việc. Ngày 4/7/1991 ông bị tạt acid. Mặt ông bị biến dạng, mất cả môi và mũi, một mắt bị mù và một mắt thị lực còn 1/10, mất 81% sức khỏe. Năm 2008, ông sang Slovakia đoàn tụ gia đình. Hiện nay ông là cây bút có tiếng trong làng báo mạng với những bài viết, bài trả lời phỏng vấn cổ vũ cho phong trào dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.
Nhà báo Trần Quang Thành. Ảnh VOA
Trong thời gian làm ở Đài TNVN, tôi cũng 3 lần có mặt vào ngày 21/6 gọi là ngày báo chí cách mạng. Ngày ấy hầu như cả cơ quan chẳng ai làm gì, chỉ tiếp khách và đi chơi. Bàn ghế được kê lại, bày lọ hoa, ấm chén và chờ khách. Khách đến tặng hoa, nói lời chúc mừng và kèm theo phong bì. Tôi biết phận, cứ ngồi phòng trong làm việc, thỉnh thoảng có người kéo ra chụp ảnh. Mỗi lần họp ban (ban là cấp trên phòng) tôi cũng chỉ ngồi làm việc. Các em các cháu về gọi, tôi cũng không sang vì thấy có cả bia bọt, bánh trái.
Hàng năm, Đài TNVN cũng thông báo tuyển người. Có nhiều cháu mới ra trường yêu thích nghề báo thấy thông báo cũng hồ hởi làm hồ sơ dự thi công chức. Tuy nhiên, trúng tuyển chỉ thấy con em cán bộ hay nhà báo lâu năm.
Nói đến những kỷ niệm ở Đài TNVN, không thể không nhắc đến nhà báo Phạm Chí Thành (Phạm Thành). Tôi biết anh trước khi vào làm việc ở đấy vì có thời kỳ anh cùng phòng Kinh tế với anh tôi. Tôi gặp Thành vào khoảng 1991, 1992 khi anh vừa xuất bản tập truyện ngắn Hậu Chí Phèo, thể hiện rõ nét hơn chất gai góc trong ngòi bút của anh. Năm ấy, Phòng Kinh tế, tuy là cơ quan báo chí nhưng lại được mùa về truyện ngắn: Phạm Thành xuất bản “Hậu Chí Phèo”, Trần Nam Bình xuất bản “Người sống với vật thể tròn” còn Nguyễn Quang Huy xuất bản tập truyện ngắn "Người đàn bà nói dối”.
Phạm Thành nói chuyện tự nhiên, vui vẻ, thoải mái. Kể cả khi khi tôi vào cơ quan làm việc, anh vẫn có thái độ thân tình ấy chứ không có sự phân biệt tôi là kẻ “ngoại đạo”, “làm thuê”. Gai góc trong ngòi bút và hồn nhiên trong giao tiếp là hai điều tôi nhận thấy ở con người anh.
Phạm Thành day dứt và chưa bao giờ bằng lòng với nghề làm báo nhà nước. Kỷ niệm này 21/6 năm nay, anh tâm sự “suốt 36 năm làm báo trong hệ thống báo chí nhà nước, tôi chưa bao giờ thấy mình được thoải mái và tự do thật sự, dù có lúc tôi cũng đứng ở vai trò sếp để kiểm duyệt và cho xuất bản báo”. Nhưng lý do chính mà tôi nhắc đến anh trong bài viết này là anh là người duy nhất có nguồn gốc từ Đài TNVN và là một trong những nhà báo cộng sản hiếm hoi đứng hẳn về phía giới cần lao đau khổ, mạnh mẽ lên tiếng cổ vũ cho dân chủ nhân quyền. Cư dân mạng biết đến anh qua blog Bà Đầm Xòe, sau đó là facebook Thành Phạm. 
Sau khi xác định dứt khoát hướng viết mới , anh “như hổ về lại rừng hay như đại bàng được dang rộng đôi cánh với ý chí dứt khoát bằng một tuyên ngôn trên blog: ‘Hãy xòe cho rông, mở cho hết/ Trắng bụng, lấm lung với tự do’”.
Sau không làm ở Đài TNVN nữa thì tôi hay viết bài cho các báo in. Viết những bài con con thôi theo kiểu nêu ý kiến góp ý xây dựng này nọ, phản ảnh ba chuyện vặt như hố ga mất nắp gây chết người, ông chủ tịch xã quát dân, gương người tốt việc tốt…. Viết cho báo nào, tôi phải đặt mua báo ấy để theo dõi, vì chẳng bao giờ có hồi âm. Những bài gửi đến hầu như đều được đăng cả. Cứ được 3,4 bài thì tôi đến hỏi nhuận bút. Có những lần đến hỏi thấy biên tập viên đã “lĩnh hộ”. Người chi trả gọi người ký nhận đến thì các cháu đưa lại cho 1/3, 1/4 gọi là công cung cấp tài liệu (có nghĩa phần còn lại là công biên tập). Thì ra bài viết của tôi được coi là tài liệu. Vậy họ biên tập những gì? Họ sửa đi vài chữ, mà thường là sửa theo hướng chữ thay vào kém đi, tôi đọc bài in ra, rất tiếc. Thậm chí có khi còn tự ý thêm cả ý bịa ra. Tôi ngạc nhiên vì cách làm ăn này, vừa cẩu thả, vừa coi thường tác giả. Gặp mấy cháu như thế, tôi đoán các cháu mới vào nghề.
Sở dĩ tôi viết được như sau này là cũng nhờ vào thời gian làm ở Đài TNVN. Khi anh tôi bảo tôi vào làm, tôi tỏ ý lo ngại mình không đủ khả năng. Tôi nghĩ làm báo phải giỏi giang lắm vì tôi nhìn từ anh tôi mà ra. Tôi coi nghề báo là một lãnh địa mà tôi không thể mon men vào được. Anh bảo, chú viết lách được thì làm báo được, tính chú lại cẩn thận. Nhiều đứa chẳng có trình độ gì mà nó vẫn là nhà báo. Tôi chỉ sợ làm một thời gian chú lại khinh nghề báo thôi. Sau này tôi thấy anh nói thế là có cơ sở.
Anh tôi trái tính, nhiều lúc vô lý rất khó chịu nhưng là người tâm huyết với nghề. Anh làm việc nghiêm túc, sửa bài từng dấu phảy, từng từ không chính xác, bỏ từng chữ thừa. Đầu tiên anh soi bài tôi biên tập rất kỹ, sau yên tâm về tôi rồi thì chỉ đọc lướt qua là ký. Anh rất ghét những nhà báo coi thường nghề của mình. Có người thấy tôi suốt ngày ngồi tỉa tót câu chữ, bảo mày kỳ công vậy làm gì, xong nó phát lên giời, ai để ý. Lại có anh gọi Đài TNVN là báo dán. Tôi thấy các anh ấy nói đúng nhưng anh tôi thì rất ghét nói ra những điều ấy.
Trước đó, thời kỳ tôi đi nhận thầu công trình, có lần tôi với anh tranh cãi về nghề nghiệp. Anh bảo: “Thế sản phẩm của chú là gì?” Tôi bảo sản phẩm của em là con đường, là các công trình như hồ, đập, rồi hỏi lại: “Thế còn sản phẩm của anh?”. Anh nói sản phẩm của tôi là các bài báo. Tôi lại vặn, vậy nó có giá trị sử dụng như thế nào? Anh bảo nó tuyên truyền cho đường lối, chính sách của đảng và nhà nước. Tôi chộp được, nói, anh tuyên truyền cho đảng, coi chừng chỉ có lợi cho đảng chứ không những không có lợi cho dân cho nước mà còn làm hại. Đấy là những sản phẩm lỗi, sản phẩm hỏng.
Tôi tưởng bị anh chửi cho một trận, không ngờ anh ngẩn người ra, nói rất hiền: “Ừ nhỉ. Có thể như thế thật”.
Xem ra công việc của tôi hồi ở Đài TNVN khá nhàm chán nhưng nó lại phù hợp với sở trường và sở thích của mình. Làm việc vất vả, tiền công thấp lại thấp cổ bé họng vì mình là kẻ làm thuê nhưng mục đích của tôi là học việc, ở đây là việc viết. Ngoài ra tôi còn biết thêm những điều mà nó tác động đến quan điểm làm báo của tôi sau này như thấy những cơ quan báo chí khổng lồ chẳng có ích lợi gì mà còn có hại. Chính anh tôi, nhà báo của nhà nước là người dẫn dắt tôi vào nghề báo nhưng lại là viết báo độc lập.
Anh tôi mất khi còn 1 năm nữa thì về hưu. Anh đã in mấy tập thơ và truyện, viết dở 1 cuốn tiểu thuyết. Anh ôm ấp nhiều dự định viết sau khi về hưu nhưng không thực hiện được. Cuộc đời ngắn ngủi của anh toàn đau khổ và bi kịch. Tôi nhắc lại những kỷ niệm ở Đài TNVN còn là để tưởng nhớ đến anh nhân ngày báo chí Việt Nam.Nguyễn Tường Thụy

NHẠC SĨ PHÚ QUANG

Em Ơi Hà Nội Phố
Nhắc đến nhạc sĩ Phú Quang, người nghe nhạc hẳn sẽ nghĩ ngay đến những bản tình ca Hà Nội. Trước ông, cũng đã rất nhiều nhạc sĩ viết về Hà Nội thế nhưng đến Phú Quang, Hà Nội hiện lên với đầy ắp những kỷ niệm, yêu thương, chỉ có những người yêu Hà Nội như máu thịt của mình mới viết được những ca từ đẹp như vậy. Phải chăng vì thế, ông được mệnh danh là “ông hoàng” của những bản tình ca Hà Nội.
Em Ơi Hà Nội Phố, Lãng Đãng Chiều Đông Hà Nội, Hà Nội Ngày Trở Về, cho đến Im Lặng Đêm Hà Nội, Chiều Phủ Tây Hồ… người nghe thấy thấm đẫm một tình yêu da diết, cồn cào của đứa con xa nhà lâu ngày được về mái nhà xưa. Bao nhiêu dồn nén, bao nhiêu nhớ nhung được kết thành những lời ca, để thốt lên cho thỏa nỗi lòng.
Mặc dù không sinh ra tại Hà Nội, nhưng Hà Nội là nơi ông lớn lên với đầy ắp những kỷ niệm tuổi ấu thơ, là con phố Khâm Thiên hoang tàn sau khi bị B52 tàn phá. Hà Nội đối với Phú Quang vẫn là một vùng trời thiêng liêng, để dù có đi xa thì ông vẫn “vội vã trở về, vội vã ra đi, chẳng thế nào qua hết từng con phố…”
Hà Nội Ngày Trở Về
Tâm sự với chúng tôi, nhạc sĩ Phú Quang cho rằng mỗi bài hát ông viết đều là viết cho chính bản thân ông, bằng cảm xúc thật, vì thế bài hát mới có thể sống mãi với năm tháng:
Với sáng tác, bao giờ tôi cũng viết bằng cảm xúc thật,
tất cả những tác phẩm của tôi đều viết bằng những rung động
thật của mình, khi mình đến tận cùng mình, mình mới chợt
phát hiện ra rằng lúc đó mình mới đến được với mọi người.
Nhạc sĩ Phú Quang
“Với sáng tác, bao giờ tôi cũng viết bằng cảm xúc thật, tất cả những tác phẩm của tôi đều viết bằng những rung động thật của mình, khi mình đến tận cùng mình, mình mới chợt phát hiện ra rằng lúc đó mình mới đến được với mọi người.
Tôi nhớ ngày xưa có một bà phê bình văn học người Pháp, khi tôi sang Paris, bà ấy nói như thế này: Tôi biết ông ta chỉ viết cho riêng mình mà thôi, nhưng nhìn vào mắt người nghe thì tôi biết được một điều là mỗi người nghĩ rằng ông ta viết cho riêng họ. Khi mình đến tận cùng, thì mình sẽ đến được với mọi người, mình chiêm nghiệm ra điều ấy. Nếu mình cứ thật với mình đến tận cùng đi, thì mình đến được với mọi người, còn nói thật, những giả trá, thì cũng sẽ đi vào quên lãng thôi.”
Điều Giản Dị
Tình yêu dành cho Hà Nội nhiều là thế, nhưng trên bước đường sáng tác, Phú Quang không bao giờ bằng lòng với những gì mình có, ông đã Nam tiến và gắn bó suốt 25 năm. Thành phố mà ông trìu mến gọi “Thành phố đêm của tôi, hai mấy mùa mưa nắng, thành phố đêm của tôi, mãi vẫn còn khao khát, để hôm nay, bài ca tôi hát nồng nàn, nồng nàn tình yêu.”
Thành Phố Đêm
ho-hoan-kiem-250.jpg
Hồ Hoàn Kiếm với Tháp Rùa. Photo courtesy of Wikipedia.
Quý vị vừa cùng nghe lại bản Thành Phố Đêm là bài hát đoạt giải nhất cho những tình ca viết về Sài Gòn năm 2003, qua tiếng hát ca sĩ Ngọc Anh. Khi nói chuyện với ông, ông nói đây là món quà mà ông muốn gửi tặng đến quê hương thứ hai của mình:
“Bài Thành Phố Đêm, những người vận động sáng tác họ có nói là ông viết về Hà Nội rất hay rồi, bây giờ ông có nghĩ là ông viết tình ca cho Sài Gòn không?
Không phải là bây giờ, tôi viết nhiều rồi như là Sài Gòn Thu, Khúc Mưa… nhưng lần đó thì họ trao giải nhất về tình ca. Cái này thì thật ra tôi là người có rất nhiều giải hay huy chương vàng lắm rồi, nhưng lần này họ trao giải nhất có cảm động là, tôi thấy người miền Nam họ hào sảng hơn và không để ý chuyện vùng miền, nghĩa là người nào đến họ cũng công nhận. Có nhiều người hỏi tôi, họ có kỳ thị không, tôi cũng nói đùa mà cũng là thật, nghe nói người miền Nam hay kỳ thị lắm nhưng suốt 10 năm rồi, tôi chẳng thấy kỳ thị gì cả.”
Với nhạc sĩ Phú Quang, triết lý sống của ông rất giản dị, hãy sống thật thanh thản, đón nhận mọi điều đến với mình thật tự nhiên. Năm ngoái, ông mới thoát khỏi bệnh tật, trở về với cuộc sống. Ông thấy mình thật may mắn vì vẫn còn cơ hội để tiếp tục cống hiến đến cuộc đời:
“Có một cái không may, nhưng cũng gọi là may mắn, từ trẻ đến giờ cũng có 6, 7 lần người ta báo là tôi sắp die (chết) rồi, nhưng mà lại trở về, chắc bởi vì ơn trời, ơn Chúa thôi, chứ còn nếu không cũng không thoát qua những hiểm nguy như thế.
Giống như nhà văn nước ngoài họ nói, mỗi người nên có một lần ốm nặng trong cuộc đời, thì lúc đó người ta sẽ hiểu thêm ý nghĩa cuộc đời sâu sắc hơn rất nhiều. Như tôi chẳng hạn, mỗi lần sau như thế, tôi thấy cái sống, cái chết không ghê gớm lắm, mình ngộ ra một điều là trong cuộc sống, nên nhìn vào mọi cái thanh thản hơn. Nếu giả sử có một ngày nào đó, Chúa mà kêu, kêu ai người ấy dạ thôi, chẳng có gì phải sợ hãi, vật vã đau đớn.”
Cho Em và Cũng Là Cho Anh
Vũ Hoàng, phóng viên RFA

LÀM CHỒNG NGUYỄN PHƯƠNG NGA CŨNG KHỔ

Gần đây dư luận rộn lên vụ nữ phát ngôn viên bộ ngọai giao Nguyễn Phương Nga được lên chức thứ trưởng bộ ngoại giao. Đây là sự thăng quan phát tài rõ rệt cho vợ chồng hai nhà ngoại giao Phạm Bình Minh-Nguyễn Phương Nga trong cùng một bộ môn. Điều này không phải lúc nào cũng dễ xảy ra ở Việt Nam.
Tuy nhiên, sự thăng chức tiến chức trong cùng một cơ quan như thế về mặt quan hệ công chúng tạo nên nhiều dị nghị liên quan đến quyền lợi gia đình và chuyện tạo dựng cha con nối nghiệp một cách rất phong kiến, không kém phần sống sượng trong hệ thống chính trị của Việt Nam hiện nay.
Tại Việt Nam, từ "gà nòi" thường được dùng để chỉ đến trường hợp điển hình của cha con Nguyễn Cơ Thạch đã truyền nhau cẩm nang "nghề" ngoại giao mà công chúng Việt Nam thường bị hướng dẫn để coi đây là nghề thành công của gia tộc hơn là công vụ mang tính thời đại của một nhà nước.
 Thế là sau bao nhiêu năm cho "con cha cháu ông" được hưởng quy chế lợi ích cao nhất của xã hội như việc ưu đãi trong chế độ học đường việc làm vào những năm sau 1975, Việt Nam đã thành công trong việc tái sinh chế độ tập ấm từ cơ sở – phụ tử kế truyền và nay là chính trị gia đình qua trường hợp cả Bộ trưởng và Thứ trưởng là hai vợ chồng.
Người của cậu Ba???
Tuy nhìn vào việc thì tưởng là đẹp đôi lắm nhưng bản chất thực sự chính là chương trình và bí quyết dùng người thưởng công của Nguyễn Tấn Dũng. Phong hàm thứ trưởng cho Nguyễn Phương Nga một mặt lôi kéo người công vụ về phía mình một mặt cắt bớt vây cánh của vai trò chủ tịch nước vốn chỉ được phong các loại hàm mang tính tượng trưng về mặt "nhân dân" như nhà giáo, nghệ sỹ, và cùng lắm là thăng chức tướng lãnh. Đây cũng là những bước đầu tư về quyền lực lâu dài cho tới lúc thế hệ con cái đời sau vào cuộc tham chính.
Theo wikileaks thì thứ trưởng bộ ngoại giao lúc bây giờ là Phạm Bình Minh cũng rất là vất vả trong việc thương lượng các nghi thức đón tiếp thủ tướng Nguyễn Tân Dũng vào tòa Bạch Ốc vào năm 2008. Bức điện đánh đi từ toà đại sứ cho hay phái đoàn Phạm Bình Minh làm tiền trạm phải kỳ kèo với Hoa Kỳ về thủ tục đón tiếp là Nguyễn Tấn Dũng rằng phải đi bằng cửa trước chứ không vào tòa Bạch Ốc bằng cửa sau như đón Nguyễn Minh Triết (vì tránh biểu tình).
 Đón Nguyễn Tấn Dũng vào tòa Bạch Ốc là một trong những cử chỉ thiện chí nhất của tổng thống Bush liên tiếp mở cửa ba đợt với lãnh đạo đến từ Việt Nam. Tuy nhiên đón nhiều quá sinh nhạt. Phạm Bình Minh thú nhận là không dám nói gì với Nguyễn Tấn Dũng nếu chỉ có một chương trình duy nhất mang tính "Bạch Ốc" – thế thì còn thua cuộc đón tiếp vào năm 2005 dành cho thủ tướng thời đó là Phan Văn Khải.
Phía Hoa Kỳ có đề nghị hay là để ông Nguyễn Tấn Dũng nói chuyện với các viện trưởng đại học cho thêm phần nghi thức thì Phạm Bình Minh bảo là chưa quen với thể chế này. Rõ ràng, đây là là né giùm chứ "cậu Ba" mà tới các trường đại học làm sao mà nói chuyện.
Đúng theo như lịch trình viếng thăm Hoa Kỳ, phái đoàn của ông Nguyễn Tấn Dũng đã đến tòa Bạch Ốc vào lúc 1:00 trưa ngày 24/06/2008. Trước đó vài tiếng phái đoàn của ông ta đã ký kết một số hợp đồng tại bộ thương mại. Tuy tòa Bạch Ốc không dùng một quy cách điển lễ quân nhạc nào để nghênh tiếp nhưng phái đoàn ông Dũng đã được sự bảo vệ đặc biệt của lực lượng cảnh sát nhằm ngăn chặn sự va chạm với cộng đồng người Việt biểu tình.
Tuy trước đó vừa khoảng hai giờ đồng hồ, tổng thống Bush cũng đã tiếp đón tổng thống Philippines là bà Gloria Arroyo. Cuộc đón tiếp bà Gloria Arroyo cũng là sự kiện chính trị đặc biệt đối với quốc gia Đông Nam Á này do đó cuộc đón tiếp Nguyễn Tấn Dũng đâm ra lại nhạt về mặt khác.
Ngoài ra trong bức điện đánh đi vào ngày 3 tháng 11 năm 2009, Phạm Bình Minh quyết tâm đòi cho bằng được Mỹ phải cấp visa cho Phạm Ngạc, nguyên vụ trưởng vụ tô chức quốc tế Bộ Ngoại Giao, một nhân vật giáo điều cộng sản và là sếp cũ của ông Phạm Bình Minh bị Mỹ từ chối nhập cảnh.
Công điện ngoại giao diễn tả Phạm Bình Minh thương lượng vất vả chịu sức ép về nhân quyền, giam thả các nhà bất đồng chính kiến trước các cuộc thăm để đổi lấy các tư thế cho các lãnh đạo VN trước Hoa Kỳ.Và có vẻ bí quyết ngoại giao đối nội thì Phạm Bình Minh luôn giữ quan hệ tốt với các sếp cũ của mình.TRẦN ĐÔNG ĐỨC

No comments:

Post a Comment