Friday, June 23, 2017

Bài viết hay(5090)

Trong lúc trên toàn thế giới đều nói Trump là một thằng khùng và chú Ủn là một thằng điên thì Bolsa cũng có một ông không được bình thường khi cứ chửi Obama và khen Trump y như một bệnh nhân tâm thần. Vậy mà Bolsa vẫn tin ông ta là một "thiên tài" về kinh tế cho dù ông ta thất nghiệp triền miên và sống bằng trợ cấp, viết báo, trả lời đài Việt ngữ. Bởi vậy Bolsa sẽ là thành trì vững chắc của con voi và nghe đâu Trump sẽ dời tổng hành dinh đảng CH về Bolsa vì không ai tin vào Trump hơn dân Bolsa. Diễu không thua gì Chí Tài chứ giỡn sao nên 42 năm qua vẫn không sao tìm ra cách chống Cộng nào hay hơn để lật đổ CSVN cho bà con nhờ.

Họ vẫn “đối thoại” đấy chứ.

Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” ngày 18-5, ông Võ Văn Thưởng Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nói: “Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý.”
Bình thường ra thì đây là một tin rất đáng mừng, đáng khích lệ. Tuy nhiên, nói Đảng CSVN “không sợ đối thoại” thì giới đấu tranh không chỉ hoài nghi mà là không tin.
Quả thật, đối thoại đối với đảng CSVN là chuyện xa xỉ. Nhà báo Bùi Tín viết trên VOA: “Tôi phải bấm mạnh vào đùi để xem mình đang tỉnh hay mê sau khi đọc tin này”. 
Trên thực tế thì chưa bao giờ có chuyện nhà cầm quyền cộng sản ngồi đối thoại với những người bất đồng chính kiến về những vấn đề hệ trọng của đất nước như đường lối chung, đường lối đối ngoại, đường lối kinh tế, chính sách đất đai… Đã có rất nhiều kiến nghị của nhân sĩ trí thức, kể cả đại công thần của chế độ như ông Võ Nguyễn Giáp đều bị xếp vào một xó và không bao giờ được trả lời. Kiến nghị thì có thể đáp ứng, tiếp thu nhiều hoặc ít hoặc không tiếp thu, nhưng trả lời cũng còn không có, thế thì nói gì đến đối thoại. 
Thôi thì chẳng đối thoại, chẳng tiếp thu kiến nghị nhưng giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của dân họ cũng ì ra. Vì vậy, có những dân oan đi kiện vài chục năm nhưng đơn bị đùn đẩy, chuyển vòng vo, oan khất vẫn oan khuất, chờ chực vẫn chờ chực. Luật qui định lãnh đạo mỗi tháng tiếp dân 1 hoặc hai lần nhưng thử hỏi có ông nào đến kỳ ra phòng tiếp dân ngồi để đối thoại? Dân chất vấn thì lờ đi, coi như không biết, dân bức xúc biểu tình phản đối thì bỏ vào tù cho khỏi biểu tình nữa.
Ông Võ Văn Thưởng có vẻ rất liều khi nói “không sợ đối thoại”. Đối thoại gần nghĩa với bút chiến. Còn nhớ hồi đầu năm 2013, ông Hồ Quang Lợi Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội khi ấy (sau làm Phó Chủ tịch thường trực Hội Nhà báo Việt Nam) khoe có 900 dư luận viên sẵn sàng bút chiến (bây giờ thì đông hơn nhiều). “Đáng sợ” hơn cả là là lực lượng “phóng viên bấm nút, phản ứng nhanh”, nhóm “chuyên gia” tham gia “bút chiến” trên mạng Internet. Nghe mà rùng mình. Ông Lợi cho biết “Đến nay, đã xây dựng được 19 trang tin điện tử, hơn 400 tài khoản trên mạng”.
Bút chiến cũng là một hình thức đối thoại, chỉ khác nhau là không trực diện tranh luận tay đôi. Bút chiến là một bên nêu ra quan điểm của mình về một sự việc, một vấn đề, một bên phản biện bằng lý lẽ. Thoạt đầu, khi ông Hồ Quang Lợi thông báo tổ chức nhóm chuyên gia bút chiến trên internet, cánh blogger và giới còm sĩ hồ hởi lắm, cứ tưởng là sẽ được tranh luận sòng phẳng, thẳng thắn. Thế nhưng qua gần 5 năm, hãy xem dư luận viên của ông Lợi bút chiến như thế nào. Những ai tham gia mạng xã hội đều thấy lực lượng DLV đông như giặc. Điều dễ nhận ra là nick của đám này thường là không có bài viết, chỉ có mấy bức hình để đấy và không có thông tin về mình. Mỗi DLV lại có rất nhiều nick, chặn nick này lại mọc ra nick khác như Phạm Nhan. Còn nội dung bút chiến của họ là gì hãy vào các trang fb hay blog của những người đấu tranh thì thấy nhan nhản những câu chửi bới tục tĩu kiểu như “đm mày” “thằng phản động”, "muốn vào tù hả" v. vv. Trời ơi, thế mà gọi là bút chiến sao? Không thấy có comment nào phân tích, bạn nói thế không đúng ở chỗ nào. Còn các blog, các website của DLV thì sao? Lướt qua thấy đầy rẫy những bài viết xuyên tạc, bịa đặt, dựng chuyện, cắt ghép, photoshop hình ảnh để bôi nhọ những người hoạt động dân chủ, nhân quyền. Đi đầu các blog, website kiểu này là trang Việt Nam Thời báo - vntb.org.
Quả là bút chiến, đối thoại như thế thì cũng hãi thật.
Ngoài ra, nhà cầm quyền còn các kiểu “đối thoại” khác. Đó là kiểu “đối thoại” rất nhanh và kịp thời. Ai chưa tin thì cứ xuống đường mà xem, sẽ được "đối thoại" liền. Công an, trật tự đô thị, thanh niên xung phong đập cho vài người máu me be bét rồi mời về đồn “đối thoại”. Nhiều khi công an còn xông vào tận nhà người đấu tranh, cưỡng bức thậm chí khiêng vứt lên ô tô mang về đồn để “đối thoại”. Tôi cũng đã mười mấy lần được mời “đối thoại” kiểu như thế. Gần đây nhất, ngày 17/6, Phạm Văn Trội cũng được công an đến nhà bắt đi “đối thoại”. 
“Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý.”
Lời ông Võ Văn Thưởng rất hay. Nhưng cách “tranh luận” chụp mũ, chửi bới, cách nhà cầm quyền "đối thoại", “cọ xát” xưa nay làm ai cũng hãi. Còn “hình thành chân lý” là chân lý gì? Đó là chân lý chỉ có đảng CSVN mới đủ khả năng lãnh đạo đất nước, tất cả đã "có đảng và nhà nước lo". Lập ra một đảng để đối thoại ắt vào tù.
Ông Thưởng cho biết, Ban Tuyên giáo Trung ương đang chờ Ban Bí thư thông qua một văn bản hướng dẫn về việc tổ chức trao đổi và đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Có thể sẽ có các cuộc đối thoại theo kiểu các ông bà cứ nói và tôi ghi nhận, nhưng tiếp thu hay không là quyền của tôi. Cũng có thể đối thoại theo kiểu ở tòa án. Luât sư tranh tụng thì cứ tranh tụng. Luật sư đưa ra các lý lẽ bảo vệ thân chủ mà Hội đồng xét xử không bác bỏ nổi nhưng vẫn tuyên theo án bỏ túi. 
Vì vậy, đừng ngạc nhiên khi không ai tin nhà cầm quyền sẵn sàng đối thoại trên tinh thần lắng nghe và tranh luận đến cùng.
Vài hình ảnh nhà cầm quyền “đối thoại”, “cọ xát” với người bất đồng chính kiến...
... và kết quả “đối thoại”:

21/6/2017
Nguyễn Tường Thụy

HẬU QUẢ CỦA MỘT LỰC LƯỢNG CÔNG AN NGU XUẨN, BỊ LƯU MANH VÀ CÔN ĐỒ HÓA!

Như vậy là vào đầu năm mới 2011, ngành công an, an ninh “chỉ biết còn Đảng còn mình” của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam đã có “món quà” quý dâng lên đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11: hành hung một nhà ngoại giao của Hoa Kỳ đang công tác tại Việt Nam.
Đây là một tiền lệ nguy hiểm, đúng hơn là một scandal ô nhục, rất hiếm hoi trong quan hệ ngoại giao quốc tế.
Trong ngày 6 tháng 1, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chính thức gửi kháng thư đến Bộ Ngoại giao Việt Nam tại Hà Nội và Đại sứ quán Việt Nam tại Washington, phản đối mạnh mẽ sự vụ công an Việt Nam tại thành phố Huế đã có thái độ thô bạo, xô đẩy, làm chấn thương ông Christian Marchant, tùy viên chính trị của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội.
Con vẹt mái của Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga trong cuộc họp báo chiều 06/01 nói Việt Nam đang “xem xét sự việc” và “Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện cho ngoại giao đoàn hoạt động, nhưng các viên chức ngoại giao nước ngoài cũng cần phải tuân thủ pháp luật nước sở tại”.
Đã từng làm việc nhiều năm ở Sở Ngoại vụ và Tổng lãnh sự quán Ba Lan tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi biết được một số nguyên tắc cơ bản đối với các nhà ngoại giao làm việc tại Việt Nam.
Ngoài mục đích tới thăm linh mục Thadeus Nguyễn Văn Lý, một nhân vật bất đồng chính kiến, đã được tạm trả tự do để chữa bệnh nhưng đang chịu chế độ quản thúc tại Huế, ông Christian Marchant đã không có hành vi nào khác trái với pháp luật Việt Nam.
Nếu không có gì thay đổi, trong thời gian làm việc tại Việt Nam, tôi chưa bao giờ được nghe truyền đạt, chỉ thỉ hoặc khuyến cáo của cơ quan chủ quản rằng, pháp luật của CHXHCN Việt Nam cấm các nhà ngoại giao thăm viếng dân chúng nước sở tại, kế cả người đang bị chế độ quản chế.
Ông Christian Marchant chỉ bị cáo buộc không “tuân thủ pháp luật” khi đi ra khỏi khu vực đăng ký cư trú (cụ thể trong trường hợp này là Hà Nội) mà không có sự đồng ý của phía Việt Nam.
Mỗi khi các viên chức ngoại giao thực hiện công vụ tại các địa phương khác, cơ quan ngoại giao nước ngoài phải viết công hàm cho phía Việt Nam thông báo và rất ít khi bị từ chối cấp giấy phép đi đường.
Tôi không nghĩ Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã không thực hiện điều này.
Hơn nữa, tất cả nhân viên ngoại giao làm việc ở bất kỳ quốc gia nào cũng được hưởng đặc quyền ưu đãi, miễn trừ và quyền bất khả xâm phạm thân thể.
Không vì vậy nhân viên ngoại giao mặc nhiên trở thành con Trời, vi phạm pháp luật mà không bị trừng phạt. Trường hợp vi phạm pháp luật của nước sở tại nhưng tội phạm không thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng (được ghi trong thỏa thuận riêng rẽ giữa hai nước hoặc quốc tế), thông thường họ sẽ bị trục xuất về nước và bị xét xử theo pháp luật của nước đó.
Tuy nhiên, bất luận trong trường hợp nào, các nhà ngoại giao cũng được pháp luật của nước sở tại bảo vệ an toàn và an ninh thân thể theo công ước Vienne về Quan hệ Ngoại giao năm 1961 mà CHXHCN Việt Nam đã ký kết.
Cũng chính vì vậy mà các nhà ngoại giao mang hộ chiếu bìa đỏ của CHXHCN Việt Nam đã khai dụng triệt để quyền ưu đãi miễn trừ để chuyển hàng lậu từ Ba Lan về Việt Nam hay qua Nga trong những năm cuối của thập niên 80 và đầu thập niên 90. Trong thời kỳ này, thuê người mang hộ chiếu đỏ làm “cửu vạn” trở thành dịch vụ phổ biến với sự cạnh tranh gay gắt giữa các tướng soái (tiếng lóng chỉ các doanh nhân thành đạt ở Nga và Đông Âu). Nhiều nhân vật cao cấp trong các đoàn đại biểu của chính phủ Việt Nam qua Ba Lan cũng đã sẵn sàng tham gia các thương vụ béo bở “chả phải làm gì” mà bỗng dưng có tiền này!
Chúng ta còn nhớ sự kiện chuyển người bất hợp pháp trong những năm 70 ở Cộng hòa Dân Chủ Đức. Biên phòng Đông Đức có lần đã bắt quả tang đại sứ Cuba “anh em” giấu hai phụ nữ trong cốp đựng hành lý của xe hơi để chở qua Tây Đức với giá 50 ngàn Mác. Vi phạm nghiêm trọng luật pháp Đông Đức, với người dân bình thường có thể bị án tù chung thân, thậm chí bị tử hình, ngài đại sứ Cuba cũng chỉ bị trục xuất về nước.
Một trường hợp cách đây không lâu với Thứ trưởng Ngoại giao CHXHCN Việt Nam Lê Văn Bàng. Khi còn làm Đại sứ tại Hoa Kỳ, đi bắt sò ở vùng cấm, ông Bàng đã vi phạm luật pháp của nước sở tại. Tuy có giữ lại xét hỏi nhưng khi biết ông Bàng là đại sứ Việt Nam, có thân phận ngoại giao, cảnh sát chỉ khuyến cáo nhẹ nhàng, còn phía chính phủ Hoa Kỳ dường như không đả động chính thức gì về việc này.
Tôi cho rằng, ông Christian Marchant đã không có thái độ nào chứng tỏ “không tuân thủ pháp luật” Việt Nam. Ông chỉ làm cái việc mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không muốn, không thích. Lộ trình của ông chắc chắn đã được thông báo cho nhà chức trách Việt Nam. Bởi vì, đi máy bay từ Hà Nội vào sân bay Phú Bài, rồi thuê xe đến số 69 đường Phan Đình Phùng, nơi Linh mục Nguyễn Văn Lý đang chữa bệnh, khi tới nơi, ông Christian Marchant đã thấy nhiều công an chực sẵn và ngăn cản không cho ông thực hiện công việc của mình.
Có quyền ngăn cản để giải thích, lời qua tiếng lại có thể xảy ra, nhưng dẫn tới xô xát, có hành vi hung bạo, làm chấn thương ông Christian Marchant, công an Việt Nam đã vi phạm luật pháp và thông lệ quốc tế dành cho các nhà ngoại giao.
Tôi không tin rằng những nhà lãnh đạo chóp bu của Đảng Cộng sản Viêt Nam lại ngu dại đến mức chỉ thị cho thuộc cấp tại Huế thẳng tay với nhà ngoại giao Hoa Kỳ như vậy. Đây là hậu quả tất yếu của một lực lượng an ninh đã bị côn đồ và lưu manh hóa.
Trong bài “Hãy gọi chúng cho đúng tên loài chó mang bản sắc Việt Nam” [1] trên RFA Blog này, tôi đã có bài vừa phân tích, vừa chứng minh bằng cả dư luận trong nước về “thành tích” lưu manh, côn đồ của công an Việt Nam trong năm 2010. Hiện tượng công an đánh đập, gây chấn thương hoặc tử vong cho dân thường trở nên thường xuyên và hầu như chưa có kẻ phạm tội nào được đưa ra xét xử minh bạch.
Thật khó tưởng tượng hành vi nào hèn mạt, dơ bẩn hơn trong một chế độ mà công an thản nhiên mặc cho bọn lưu manh ném cứt đái vào nhà cụ Hoàng Minh Chính, một nhà cách mạng lão thành, cựu Giám đốc trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, cựu Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lenin, chỉ vì cụ có ý kiến khác với chính quyền! 
Thản nhiên, vô cảm hay là chính quyền bắt tay với xã hội đen?
Không bỗng dưng mà có đơn nặc danh gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, được cho là của người trong ngành công an, tố cáo Nguyễn Đức Nhanh, giám đốc công an Hà Nội, đã “mời” các tay chân đàn anh trong xã hội đen dự đám cưới cậu ấm Nguyễn Đức Quang. Mời nhưng cấm không được bén mảng, chỉ cần gửi phong bì với ba ngàn đôla “mừng vọng cháu”!
Ở một bài khác, “Việt Nam một xã hội đã bị lưu manh hóa”, viết trên Talawas Blog [2], tôi có nói về nhân vật Ánh Trọc (tức Trần Xuân Ánh ngụ ở Ngõ Thông Phong, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Hà Nội), trùm đâm thuê chém mướn khét tiếng của Thủ đô Nghìn năm Thăng Long, nhởn nhơ, ngông nghênh ra sao ngoài vòng pháp luật, dù hắn đã “hóa kiếp” ít nhất 3 người và có lệnh truy nã. 
Trả lời phỏng vấn của Quỳnh Chi, phóng viên RFA hôm 6/1, ông Phil Robertson, Phó giám đốc khu vực Châu Á của tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) nói:
Hơn một năm nay, Human Rights Watch đã ghi nhận những trường hợp đáng lo ngại về cảnh sát Việt Nam dùng bạo lực. Chúng tôi thấy rằng việc này biểu hiện thêm rằng cảnh sát không bị kiểm soát. Việc này liên quan một phần đến việc chính phủ Việt Nam không bắt họ chịu trách nhiệm cho những hành động này, và vì họ đang nằm ngoài pháp luật”.
Hậu quả là hình như cảnh sát có thể làm gì họ muốn làm. Không thể loại trừ trường hợp những cảnh sát này không biết họ đang hành hung người thuộc Đại sứ quán. Tuy nhiên, khi cảnh sát hành hung người, bất kể người nào, đều là không đúng”.
Đây là một xu hướng thật đáng lo ngại bởi vì chúng tôi đã ghi nhận được rằng nhiều trường hợp cảnh sát bắt người rồi hành hạ trong lúc điều tra. Theo một bản báo cáo chúng tôi đã đưa ra hồi tháng 9, có khoảng 15 thường dân bị chết trong lúc bị cảnh sát tạm giữ điều tra trong 1 năm qua…”.
Tôi cho rằng, hiện giờ rất nhiều nhân viên ngoại giao của các nước có trụ sở tại Hà Nội và TPHCM đang quan tâm về vụ việc. Lý do là làm sao họ biết được chắc chắn rằng sự việc tương tự không xảy ra với họ? Chính vì thế, chính phủ Việt Nam không những nên giải thích với chính phủ Hoa Kỳ, mà còn phải giải thích với các Đại sứ quán và Lãnh sự quán ở Hà Nội cũng như TPHCM. Đồng thời, phía Việt Nam cũng nên cho biết làm cách nào để trong tương lai không xảy ra những việc tương tự”. [3]
Kết luận
Tôi đã gặp và phỏng vấn Lê Phước Tuấn, một người mang hai dòng máu Việt-Mỹ, đã đả thương ông Nguyễn Quốc Huy, một thành viên trong phái đoàn Thủ tướng Phan Văn Khải đến thăm Hoa Kỳ vào năm 2005.
Cú đấm của Tuấn – như Tuấn tâm sự với tôi – như là sự trút hận, nhưng không nhắm vào cá nhân ông Nguyễn Quốc Huy, mà là nhắm vào cái chế độ rêu rao đạo đức, bình đẳng xã hội nhưng đã khinh bỉ, bạc đãi và đẩy số phận những người con lai xấu số trong chiến tranh Việt Nam tới bần cùng.
Mặc dù cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đã vận động tư pháp và quyên góp tài chính thuê luật sư tốn kém hàng chục ngàn đô la, Lê Phước Tuấn vẫn bị ngồi tù gần 14 tháng về tội phạm hình sự và tiếp theo là tình trạng có thể bị Tòa án Di Trú trục xuất về Việt Nam.
Trong nhiều năm qua Tuấn đã bị Tòa án Di Trú quần cho lên bờ xuống ruộng vì phải chịu sự giám sát chặt chẽ về chỗ cư trú, hạn chế đi lại và thường xuyên phải ra hầu tòa. Mãi đến tháng 6/ 2009, tòa án mới phán quyết cho Tuấn ở lại Hoa Kỳ nhưng phải chịu sự quản chế (probation).
Một phó thường dân (chưa phải công dân Hoa Kỳ) gây thương tổn đến thân thể một nhà ngoại giao Việt Nam (cấp thấp) đã bị luật pháp Hoa Kỳ xử phạt như vậy.
Còn công an cộng sản Việt Nam – người đại diện cho công quyền – hành hung, làm chấn thương nhà ngoại giao của Đại sứ quán Hoa Kỳ, sẽ được luật pháp Việt Nam xử lý ra sao?
Chúng ta hoàn toàn kiên nhẫn chờ xem cái vụ “xem xét sự việc” mà Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam tuyên bố sẽ đi đến đâu! ■
Lê Diễn Đức – RFA

VIỆT NAM CÓ Ý ĐỒ KIỂM SOÁT CAMPUCHIA VÀ LÀO?

Ngày 22/11/2011, tòa án xét xử Khmer Đỏ tiếp tục phiên tòa xét xử ba thủ lĩnh cao cấp của chế độ Khmer Đỏ.

AFP
Bị cáo Nuon Chea, nguyên chủ tich quốc hội và nhân vật chủ chốt số 2 của Khmer đỏ trước tòa. Phnom Penh ngày 22 tháng 11, 2011.

Ngăn cản sự phát triển của quốc gia, và chống lại nhân loại

Đồng công tố viên quốc tế Andrew Cayley khẳng định tại phiên tòa ngày 22/11/2011 rằng chính ba lãnh đạo cao cấp của chế độ Khmer Đỏ gồm Nuon Chea, Khieu Samphan và Ieng Sary đã ra lệnh thực hiện các vụ giết người dã man, sát hại từ 1,7 triệu đến 2,2 triệu người trong khoảng thời gian 3 năm 8 tháng và 20 ngày. Động thái này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển nhân tài của đất nước khiến tiến độ phát triển Campuchia chậm trễ đến nay.
Nguyên nhân được đồng công tố viên quốc tế cho rằng vì các bị cáo là những người cướp đi thời gian và sát hại người xứ Chùa Tháp. Họ làm mất đi tất cả sự phát triển đất nước và sự thịng vượng. Bên cạnh đó, họ đã để lại những dấu ấn không thể quên được như hành động hủy hoại cả cuộc sống người dân thông qua đánh đập, ngược đãi, sát hại hoặc chết đói, và đàn áp tôn giáo…v.v.
Chánh án Nil Nonn cáo buộc phạm tội ác diệt chủng, chống lại nhân loại,
đàn áp tôn giáo cũng như vi phạm nghiêm trọng Công ước Geneva
12/8/1948. Tuy nhiên, tòa án quyết định trả tự do cho bà Ieng Thirith
vì lý do bị bệnh mất trí nhớ.
Đồng công tố viên quốc tế Andrew Cayley nói rằng bất cứ người nào ở Campuchia đều đau đớn hoặc bị mất đi thành viên của mình dưới chế đố Khmer Đỏ. Điều này tòa án quyết định cáo buộc ba bị cáo nhằm tìm lại công bằng cho các nguyên đơn dân sự và các nạn nhân.
Bị cáo Ieng Sary, nguyên bộ trưởng Ngoại giao Khmer đỏ. AFP
Bị cáo Ieng Sary, nguyên bộ trưởng Ngoại giao Khmer đỏ. AFP
Bị cáo Nuon Chea, nguyên chủ tich quốc hội và nhân vật chủ chốt số 2; Khieu Samphan, nguyên là người đứng đầu nhà nước; Ieng Sary, nguyên bộ trưởng Ngoại giao và bà Ieng Thirith, cựu bộ trưởng đặc trách các vấn đề xã hội dưới thời Khmer Đỏ đã bị Chánh án Nil Nonn cáo buộc phạm tội ác diệt chủng, chống lại nhân loại, đàn áp tôn giáo cũng như vi phạm nghiêm trọng Công ước Geneva 12/8/1948. Tuy nhiên, tòa án quyết định trả tự do cho bà Ieng Thirith vì lý do bị bệnh mất trí nhớ.

Mưu đồ xâm lược của Việt Nam?

Bị cáo Nuon Chea khai báo trước tòa rằng ông sẽ hợp tác và khai báo trước tòa bất cứ những gì ông biết nhằm góp phần xây dựng một lịch sử thật sự chứ không phải lịch sử chính trị. Ông nghĩ rằng tòa án này đã có sự bất công đối với ông từ khi phiên xử bắt đầu bởi vì chỉ điều tra một số vấn đề đã xảy ra, đối với nguyên nhân và sự thật xảy tra trước năm 1975 và sau năm 1979 thì tòa không điều tra hoặc xem xét.
Bị cáo Nuon Chea nói trước phiên tòa, tất cả người dân Campuchia mọi thế hệ đều sẵn sàng và hi sinh xương máu để giữ gìn đất nước tồn tại, đặc biệt là để thoát khỏi sự xâm lược, kiểm soát và diệt chủng từ CHXHCN Việt Nam và các nước láng giềng. Ông nói rằng trong giai đoạn năm 1960 – 1979 Việt Nam đã sử dụng đủ mưu kế để phá hoại cuộc cách mạng Campuchia và sự phát triển Campuchia Dân chủ.
Việt Nam có học thuyết làm chủ một nước nhỏ, dân số ít, yếu kém; xem
thường một nước nhỏ và dân ít; VN đi theo học thuyết xâm lược,
xâm chiếm đất đai, diệt chủng; VN ham muốn quyền lực và quyền lợi
kinh tế; VN tổ chức Liên minh Đông Dương nhưng phải nằm dưới sự
quản lý của Việt Nam
Nuon Chea
Song đó, Việt Nam còn xúi dục, kích động, chia rẻ, lôi kéo nhân dân và quân đội cách mạng Campuchia để nảy sinh sự bất đồng, gây rối loạn, phá hoại chính sách phát triển Campuchia.
Nuon Chea giải thích những yếu tố khiến Việt Nam có ý đồ kiểm sóat, quản lý Campuchia và Lào,
“Việt Nam có học thuyết làm chủ một nước nhỏ, dân số ít, yếu kém; xem thường một nước nhỏ và dân ít; Việt Nam đi theo học thuyết xâm lược, xâm chiếm đất đai, diệt chủng; Việt Nam ham muốn quyền lực và quyền lợi kinh tế; Việt Nam tổ chức Liên minh Đông Dương nhưng phải nằm dưới sự quản lý của Việt Nam thông qua láng giềng hữu nghị.
Ngoài ra, còn có ý đồ nắm quyền trong khối ASEAN. Những yếu tố này đã khiến Việt Nam phải đóng vai trò quan trọng làm rối loạn tại Campuchia, Campuchia Dân chủ từ năm 1975 đến tháng 4 năm 1979. Campuchia yêu cầu Việt Nam chấm dứt tư tưởng làm chủ và nên cùng sống chung hòa bình…”
Được biết, phiên xử vụ án 002 sẽ kéo dài tới ngày 24/11. Ước tính, đến cuối năm nay, tòa án đã sử dụng chi phí khoảng 150 triệu USD. Người dân lo ngại nếu cứ kéo dài quá trình xét xử thì các lãnh đạo cao cấp Khmer Đỏ có thể không đủ sức khỏe hầu tòa trong khi người dân cho rằng việc quyết định trả tự do một cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ là một quyết định sai lầm.Quốc Việt, Thông tín viên RFA, Phnom Penh

VĂN PHONG NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ

Là một nhà kiến trúc, sau khi tốt nghiệp Nguyễn Trương Quý bỗng dưng muốn bỏ nghề và cuối cùng vào năm 2002 anh quyết định cầm bút sáng tác mà chưa biết sự nghiệp viết lách ra sao, có bằng những năm được học trong đại học kiến trúc hay không.

Photo: RFA
Nhà văn Nguyễn Trương Quý
Tuy vẫn làm kiến trúc nhưng Trương Quý thú nhận không đủ hăng say để theo nó vì văn chương vẫn là mối ám ảnh hàng đêm buộc anh phải nhảy vào trang giấy ghi lại những cảm xúc của mình.

Thích hợp với Tản văn

Đối với Nguyễn Trương Quý thì tản văn là thể loại từ trước tới nay vẫn thích hợp với anh nhất. Trương Quý nhìn quanh và thấy cái chất tản văn hình như thoang thoảng đâu đó bên cạnh chiếc bàn viết khiến anh không thể nào dứt ra được để làm bạn với những thể loại khác như truyện ngắn hay tiểu thuyết chẳng hạn.
Tôi chọn tản văn, tùy bút hay tiểu luận để viết vì tôi ý thức rằng đấy là thể loại có khả năng thể hiện đời sống dưới lăng kính chủ quan của người viết. Thực ra tản văn chính là một thể loại cũng không phải là mới gì, từ xưa đã được nhiều nhà văn lựa chọn như một nguồn để giải bày, ủy thác tâm sự qua nhận thức xã hội chung quanh.
Tản văn có một lợi thế là cho phép người viết tung tẩy như đi trên một con lộ mà có thể họ tùy nghi dễ quẹo vào những con hẻm, con ngõ rồi trở về lộ trình chính. Điều này có tác dụng khơi mở người đọc, có thể nói Đông nói Tây nhưng thu gom lại thì qua kiến thức mà họ thu nhận từ cuộc sống. Nó vừa có cái chất thông tấn báo chí nhưng cũng có thể diễn đạt văn chương một cách cầu kỳ, tất nhiên phải có một sự gia giảm khác nhau.
Người đọc Trương Quý rất dễ nhận ra văn phong của anh. Ngay ở cách đặt tựa Trương Quý đã đứng riêng ra với các nhà văn cùng thời. Mỗi cái tựa là một khám phá, rất thời sự nhưng lại không hề thiếu chất lãng mạn của văn chương. Đã có ít nhất ba tập tản văn được in ra đó là: Tự Nhiên như người Hà Nội, Hà Nội là Hà Nội, và Ăn phở rất khó thấy ngon.

Dí dõm và trần trụi

<
tunhien-nhunguoi-hanoi-200.jpg
Bìa sách “Tự nhiên như người Hà Nội”
i>“Tự nhiên như người Hà Nội” được Trương Quý khai thác ở nhiều khía cạnh mà cái lõi được anh chú ý nhiều nhất là cách sống cách nghĩ cũng như cái tên gọi “thanh lịch như người Hà Nội” mà từ xưa nay vốn được truyền tai nhau như một lá bùa chữa trị những cơ hàn văn hóa!
Dí dỏm và trần trụi, giọng văn của Trương Quý khiến người đọc sau những cái cười mỉm là những câu hỏi lầm bầm theo sau. Hà Nội à? Hà Nội sao vậy? Và rồi, Hà Nội vậy sao ta?
Đàng sau những cái liếc mắt nghịch ngợm đó là những bần thần khó chịu về không gian ngày một nhỏ đi của Hà Nội, điều mà Trương Quý gọi là chợ búa che hết phố phường ngày xưa. Trương Quý viết:
Người HN đi đến đâu cũng thành ra “đại sứ văn hoá” và những bà con ngoại tỉnh chân đất mắt toét trông vào đó mà bảo “HN là thế đấy”. Nhưng cũng như hoa hậu có lúc bị “thủng phông văn hoá” hay “ứng xử hụt hơi”, thì trước trường hợp kết quả xấu, người ta phản ứng theo các cách:
– Người HN họ sống khó khăn lắm (nghĩa là không phải sống khổ sở mà kiểu khó chơi), mình “kính nhi viễn chi” thôi. 
– Người HN bây giờ cư xử chả ra sao, không như ngày xưa. (Nhưng “ngày xưa” nào: thời bao cấp tem phiếu đi vắng nhờ hàng xóm giữ chìa khoá nhà hộ? Thời “tiền chiến” lãng mạn tóc thề thả gió lê thê? Hay thời toàn quốc kháng chiến “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”?) 
– Lãng mạn vẫn còn thì tự nhủ: “Chắc họ không phải người HN gốc, người HN thì khác…”.
“Người Hà Nội thì khác” được Trương Quý lồng vào một cách hài hước nhưng cũng bộc lộ một nét khác của Hà Nội.
Cái lợi của tản văn là ít đòi hỏi sự chuẩn mực của truyện ngắn lại không có cái mô tả chi tiết của truyện dài. Tản văn gần với tùy bút, tác giả viết bất cứ điều gì mà anh ta thích thú. Giống như họa sĩ phác thảo một vài nét chì nhưng người viết tản văn tự do hơn vì anh ta không có người ngồi mẩu.

Tố chất báo chí

Theo Trương Quý thì tản văn có cái chất báo chí mà các thể loại truyện khác không có. Không khí thời sự làm cho câu chuyện sống động hơn nhưng cũng chính vì vậy nên thời gian tính của tản văn lại trở thành vấn đề cho người viết.
Nguyễn Trương Quý cho biết suy nghĩ của anh về thể loại tản văn như sau:
-Cái khó khăn có lẽ là cái chông chênh giữa tính chất thông tấn và cái chất văn chương ở thể loại này. Nếu mọi người chỉ sa đà vào những câu chuyện thường ngày bếp núc quá với con cá lá rau, hay hoạt kê quá mức thì nó chỉ như những câu chuyện entry trên các blog. Hoặc là những câu chuyện nó không có cấu trúc mạch lạc rõ ràng và người đọc không được thông điệp của tác giả.
Cái khó khăn có lẽ là cái chông chênh giữa tính chất thông tấn và cái chất văn chương ở thể loại này.
Nguyễn Trương Quý
Tản văn dù sao thì vẫn cứ phải đòi hỏi một cái cấu trúc, một cái khả năng gọi là cấu tứ trong đó vì tản văn là một thể loại văn học. Mỗi tản văn là một câu chuyện riêng khi mà nhà văn có một giọng quen rồi thì rất dễ bị lặp lại không những về nội dung mà còn về diễn đạt cùng một cái nội hàm. Khái niệm này nhiều khi không cẩn thận hay do không khắt khe do chính bản thân người viết.
Nói chung tản văn người viết phải trường vốn. Tản văn là một thể loại đòi hỏi người viết đóng vai trò một nhà báo, một nhà phê bình xã hội và là tác giả có chất tiểu thuyết, truyện ngắn trong đó. Đồng thời cũng phải khơi gợi chất thơ nếu như ta đề cập đến hình tượng cuộc sống thì nó bao giờ cũng có đơn vị cao hơn là diễn giải sự kiện hàng ngày cho vui.
Nhiều người chọn tản văn viết những câu chuyện hài hước ghi lại những chuyện trong xã hội nhưng cũng không vượt qua những chuyện cười, những chuyện đọc cho vui hàng ngày.

Phản ánh xã hội

Nguyễn Trương Quý tận dụng thế mạnh của tản văn để viết về xã hội. Anh xăm soi từ cung cách làm việc đến chuyện quà cáp của các quan lớn quan nhỏ mà báo chí không năm nào không nói vào dịp lễ tết.
Từ góc nhìn của một cây bút tự do có nghĩa là không bị trói buộc bởi chủ trương, chính sách hay cái gout riêng của Tổng biên tập, ngòi bút Trương Quý cứ lung lay xao động hết chỗ này đến nơi khác khiến không ít người nhột nhạt vì cứ nghĩ Trương Quý đang nói tới mình.
Trong truyện “Marathon quà Tết” Trương Quý quan sát chuyện biếu xén với giọng văn của một ký giả điều tra với các số liệu chính xác như sau:
Người ta vẫn cho rằng biếu xén là một cách ứng xử đã có từ lúc con người còn sống trong thời tối cổ. Biếu xén từ lúc nào đã thành thước đo lòng người, thành một văn hóa giao tiếp. Người ta đã có cả những câu ngạn ngữ về lợi ích thực dụng của quà biếu: Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn…
Giới công sở xem ra đi đầu trong lĩnh vực thể hiện văn hóa phong bì này. Năm ngoái, chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã đưa ra con số tiền quà biếu của 663 đơn vị Nhà nước lên đến 4000 tỷ đồng. Còn đến các cơ quan vào dịp cuối năm, chúng ta dễ thấy cảnh kế toán hành chính ngập lụt trong danh sách quà tặng và phong bao.
Trương Quý lần lần tiến ra khỏi cái văn phong thông tấn để sa đà vào cách nói của giới trẻ cà phê hè phố:
Một thiên la địa võng những mối ràng buộc phải lấy quà biếu Tết làm vật đánh dấu. Quà Tết là dầu bôi trơn để khử những ma sát văn phòng của chúng ta, và cũng là chứng chỉ cho một loại sát hạch ngầm quy ước.
Và rồi tác giả phóng bút xa hơn, đôi lúc gần với cách mà trước đây mấy mươi năm Võ Phiến đã vung bút trong thể loại tùy bút trứ danh của ông:
Thử nghĩ mà xem, thằng cu con mình học đến lớp năm rồi mà làm toán đặt ẩn số vẫn còn ngơ ngơ ngác ngác, viết văn vẫn cứ tả cô giáo em tuy hiền lành ngoan ngoãn nhưng bạn nào hư cô bắt nuốt phấn, không nhờ cô nâng đỡ kèm cặp, năm sau đừng hòng vào lớp chọn trường điểm cấp hai trung học cơ sở.
Một khi cô đã nhận giỏ quà, một phong bì tế nhị kẹp giữa chai rượu với hộp bánh hay túi trà, ấy là ta đã biến món quà (có nhiều nhặng gì cho cam, tròm trèm năm trăm ngàn thôi mà) thành lộ phí cho con em mình đi xa hơn chứ không chỉ tránh bị nuốt phấn.
“Hà Nội: chợ trong chợ” là một truyện được Trương Quý viết với văn phong của người con Hà Nội đi xa nhớ về nhà mình. Chợ là cái nối liền nỗi nhớ của người xa quê và Trương Quý đem chợ Hà Nội ra đếm như cách tính sự thương nhớ của mình đối với Hà Nội.
Nói không quá cường điệu, Hà Nội là hình ảnh của một đời sống chợ búa. Chợ lớn, từ thời là kinh đô của các triều đại phong kiến. Thành-thị, dù yếu tố “thành” có thể đổi khác, phần “thị” vẫn sống bền và tự xoay xoả, sinh sôi phát triển.
Bảy chục phố từng mang tên Hàng cho thấy phố chợ là một đặc trưng của HN xưa. Dù tên gọi chính thức của chính quyền có biến đổi, dù có lúc không còn là kinh kỳ, thì cái tên Kẻ Chợ vẫn được dân gian dùng.
Nhiều người đọc “Hà Nội chợ trong chợ” của Trương Quý có cảm giác là anh đang gắt gỏng với những cái chợ chen chúc nhau trong lòng thủ đô, nhưng không, anh đâu có gắt gỏng với ai, anh chỉ tiếc nhớ những điều mà chợ Hà Nội cưu mang hàng trăm năm nay mà thôi.
Nhưng chợ cũng là một nơi quen thuộc và xa xưa nhất của dân mình, nếu không nói là thân thương. Những cái tên chợ Chờ, chợ Sủi, chợ Đại Cống Thần nhắc nhở người xa xứ về một điểm hẹn thời thơ ấu theo mẹ lên tỉnh được ăn quà hay một định vị có tính phồn vinh của quê hương.
Bóng dáng của chợ đầu làng, chợ huyện dưới cây đa to, quán nước chè, “dăm miếng cau khô, mấy lọ phẩm hồng”, mấy ông thợ nề đợi việc, ông thợ ngoã kiêm nghề kể chuyện, bà già hàng xén lắm điều… thật vẫn quen thuộc ở chợ Hà Nội.
Trương Quý còn mượn hơi hám của người nhà quê lồng vào ngôn ngữ của mình. Anh vẽ lại cảnh chợ Hà Nội như một phiên chợ quê của Đoàn Văn Cừ, vừa đầy ắp màu sắc vừa thấm đẫm chất ca dao trong từng con chữ của anh.
Các anh giai Sài Gòn can tội đi chợ Hàng Da lúc 10h sáng hỏi xem hàng mà không mua, bị cô hàng xinh tươi xỉa xói “mới sáng ra đã ám quẻ” rồi lại còn bị đốt vía. “Anh ơi, mua gạo em đi. Gạo em gạo quê đấy”, ơ hay, gạo không trồng ở quê thì cày đường nhựa Thủ đô mà gieo chắc. Thì bao năm ăn gạo kho mốc theo sổ, nay thì tiêu chuẩn quê – “hương đồng gió nội” lại là một định tính đầy tốt đẹp. Chỉ ở chợ ta mới gặp những giao thoa của đời sống các nơi phong phú như thế.

Sống động trong thế giới ảo

Tản văn Trương Quý có lẽ đặc sắc nhất khi tiếp cận thế giới tin học hay còn gọi là thế giới ảo. Trương đại ca có vẻ rất sành điệu trong bộ môn chit chat dữ lắm chàng mới có thể lăn xả vào các câu chuyện tình yêu trên mạng. Trong bài “Tình là cái tình chát” Trương Quý chứng tỏ sức trẻ của ngòi bút qua lời thoại đa dạng của dân lướt web chuyên nghiệp.
Tình là cái tình chát
Yêu qua mạng thì có gì mà phải rộn? Mười năm qua, tiến bộ về internet và các dịch vụ trên mạng đã phát triển không ngừng. Hãng Yahoo lừng danh với phần mềm chat của mình đã làm lễ kỷ niệm mười năm với nỗi lo bị các hãng khác cạnh tranh. Chát chít với hẹn hò nhau trên cõi ảo đã thành miếng đất hấp dẫn các nhà lập trình. Còn với dân văn phòng, đường yêu đương đã được mở rộng với những kênh thông tin hơn hẳn các cách thức cổ truyền.
Ngày xưa mùi mẫn ca chiều tan trường về, Điệp cùng Lan chung lối. Ngày nay có thể thủng thẳng mà kể: “Tôi quen meohoangtrenmang qua chat. Mèo hoang trên mạng, tôi gọi là mèo hoang, thường chat vào buổi trưa hoặc tối. Khi nàng chat với tôi trong giờ làm việc, tôi biết, mèo hoang đã thích tôi”.
Các kịch bản mà dân web thường sử dụng qua tản văn của Trương Quý trở thành tươi rói, hấp dẫn hẳn ra.
Thời nay, khi cô đơn lên ngôi từng ngày như lời bài hát nọ, ai cũng cần có bờ vai ảo để khóc vùi (giả vờ cũng được) cho quên ngày u ám nơi công sở. Lên mạng là sắm vai. Chị gái tôi, dân văn phòng 37 tuổi, hai mặt con, chôn chân nơi bàn giấy nhưng mang nick ‘vi vu như mây’; bạn tôi anh trai công sở lành hiền ngoan ngoãn, suốt đời làm theo chỉ đạo, gửi gắm khát vọng vùng lên bằng username ‘không vui không làm’. Đặt cho mình một cái tên mới trên mạng, tô vẽ cho mình những khung tính cách trên các diễn đàn, thực sự là những mơ ước về một con người mà những anh chị văn phòng muốn đạt được.
Cái mà Trương Quý gọi là nick nêm choáng váng thật ra là phản ứng của giới trẻ: không bao giờ bằng lòng với cái tên do cha mẹ đặt cho.
Một nickname pha dấm mắm tí ti tính tình dục như ‘zaihanoi’ hay ‘gaivanphong’ có thể làm số ít cau mày, nhưng sẽ làm đa số phải tò mò một chút. Cha mẹ đặt tên ta không hấp dẫn, ta phải gỡ gạc lại bằng cái nickname choáng váng.
Trương Quý ra vẻ rất thiện nghệ trong công việc vẽ lại những sinh hoạt mà người cầm viết trước anh chỉ vài thập niên đã trở nên lụ khụ. Anh len lỏi trong cộng đồng mạng để chìa ngón tay vào chỗ này hay bấm con chuột ở chỗ kia làm cho tản văn của anh sống động kỳ lạ.
Trương Quý sẽ còn đi xa hơn nữa. Với quỹ thời gian quá phong phú, con đường viết lách của anh hứa hẹn nhiều ngạc nhiên cho bạn đọc, nhất là người đọc ở lứa tuổi của anh, lứa tuổi không bao giờ chấp nhận điều gì đứng lại.Mặc Lâm, biên tập viên RFA

No comments:

Post a Comment