Monday, June 26, 2017

Bài viết hay(5106)

Rất khó giữ được chữ Tín khi mà ai nấy chạy theo đồng tiền, bất chấp tất cả. Từ khi qua Mỹ đến nay, thú thật là tui không dám tin ai. Dễ tin là chết chắc. Nhiều người cho rằng làm ăn với Mỹ trắng đáng tin cậy hơn với người Việt và đáng sợ nhất là Rệp, Đài Loan, TQ. Thực ra Mỹ trắng cũng có người tốt, kẻ xấu và ở đâu cũng có những thằng điếm lưu manh "thầy chạy". Bài học 30/4/75 khiến tui không tin ở Mỹ nữa cho dù ai cũng bảo tui là không có Mỹ thì đừng hòng chống Cộng thành công. Mỹ đã bắt tay với VC rồi thì liệu bạn có dám tin Mỹ nữa không?

Chữ Tín

Ngày mới về nước, gia đình tôi từng rất bối rối khi bị yêu cầu phải gửi hết đồ đạc trước khi bước vào siêu thị mua sắm.
Sự việc còn rối rắm hơn, khi chúng tôi mua đồ và thanh toán xong. Vừa bước đi vài bước, lại bị bảo vệ kiểm tra túi đồ của mình xem có khớp với hóa đơn không thì mới được đi về. Lúc đó, chúng tôi đã phản đối, vì cho rằng làm như thế vừa mất thời gian, vừa thiếu tôn trọng khách hàng. Anh bảo vệ chỉ nói đó là quy định mà không giải thích tại sao.  
Phải sau khi đã về nhà, thảo luận một khúc, chúng tôi mới hiểu ra: Bảo vệ làm thế là để tránh việc thu ngân thông đồng với khách hàng mang đồ ra khỏi siêu thị. Chúng tôi hơi ngốc nghếch sau nhiều năm ở nước ngoài, không hiểu ra quy trình này. Nó quá xa lạ và gây sửng sốt.
Bài học tôi rút ra sau sự kiện đó, là niềm tin trong xã hội đang thiếu hụt trầm trọng.
Sau này, mỗi khi phải làm gì đó liên quan đến giấy tờ, như xin học cho con chẳng hạn, tôi để ý thấy trên hồ sơ của mình lúc nào cũng chi chít dấu đỏ. Những giấy tờ tôi dùng trước đây cũng thế, bao giờ cũng phải có ít nhất một dấu đỏ đóng trên đó thì mới đáng tin. Còn không có dấu đỏ là không có giá trị.
Tôi bắt đầu đặt ra câu hỏi, vì sao hồ sơ giấy tờ hành chính ở nhà bao giờ cũng đỏ rực những con dấu? Vì quy trình nó thế, hay vì người ta không tin nhau, phải có con dấu thì mới đáng tin? Không có dấu đỏ, thì lời nói của anh, chữ ký của anh, dù rành rành ra đó, cũng không có chút giá trị nào cả.
Nhưng oái ăm ở chỗ, quy trình chặt chẽ thế, nhiều dấu đỏ thế, mà chưa ở đâu tôi thấy giấy tờ văn bằng giả nhiều như ở đây. Người ta có thể rao bán những thứ giấy tờ văn bằng giả công khai trên mạng, trong các tờ rơi dán trên tường, có cả điện thoại và tên người liên hệ đàng hoàng.
Ám ảnh về con dấu mạnh mẽ đến mức luật doanh nghiệp cho phép bỏ con dấu khi giao dịch mà trên thực tế, sau gần hai năm triển khai, tôi chưa thấy đơn vị nào dám bỏ con dấu. Các văn bản doanh nghiệp trình lên vẫn được yêu cầu phải đóng dấu thì mới có hiệu lực.
Điều này trái ngược hoàn toàn với những giấy tờ hành chính tôi đã sử dụng khi còn ở nước ngoài, nơi tôi hiếm khi nhìn thấy những con dấu. Tất cả chỉ là một chữ ký tay. Dù đó là giấy tờ quan trọng đến mức nào đi chăng nữa, chỉ cần người hữu trách ký vào là đủ.
Trong các giao dịch thông thường tôi còn không cần phải ký. Chỉ cần in văn bản ra và gửi đi là xong. Nhiều trường hợp còn không cần văn bản, gọi điện là đủ. Sau này tôi hiểu rằng đó là cơ chế hậu kiểm. Điều này trái ngược hoàn toàn với cách tiền kiểm kỹ càng quá đáng, đến mức không tin, không quản được thì cấm, mà tất cả chúng ta đều quen thuộc.
Ở những nơi mà tôi đã đi qua, những nơi người ta ít đóng dấu đỏ lên các văn bản như thế, thì đều là những đất nước giàu có hơn đất nước của tôi.
Tìm hiểu thêm thì tôi hiểu ra rằng, ở những nơi đó, niềm tin đang được sử dụng như một thứ vốn xã hội. Khi người ta tin nhau thì người ta không mất thời gian công sức để kiểm tra và đề phòng nhau, vì thế mà người ta tiết kiệm được nguồn lực, và người hợp tác với nhau hiệu quả hơn.
Điều này giúp cho năng suất lao động của cả xã hội tăng lên. Niềm tin vì thế đang hoạt động như một thứ vốn đặc biệt. Nhờ có loại vốn này mà xã hội vận hành hiệu quả hơn. Còn ở ta, có cả một bộ máy hùng hậu ăn lương để chỉ làm một việc là kiểm tra lẫn nhau. Và cũng một bộ máy hùng hậu khác, tìm cách qua mặt nhau. Vì thế mà mất thời gian, vì thế mà kém hiệu quả.
Làm sao để tăng thứ vốn xã hội này? Tất nhiên, là bất cứ việc gì giúp tăng niềm tin. Trong đó, quan trọng nhất là niềm tin của nhân dân và chính quyền, niềm tin của người dân với tương lai của đất nước họ, và niềm tin giữa người với người trong xã hội trong mọi sinh hoạt hàng ngày.
Để gia tăng niềm tin đó thì những người đang cầm giữ kỷ cương của đất nước, những quan chức, phải gương mẫu trước hết. Nếu người trên không khả tín thì sao có thể đòi hỏi người dưới đáng tin?
Hẳn các doanh nhân đã hiểu rất rõ giá trị của điều này, khi họ đặt chữ Tín lên trên hết. Những doanh nhân biết giữ chữ Tín luôn coi lời nói chính là chữ ký của mình. Chỉ cần nói ra và xác nhận với nhau là đủ, không cần đến việc phải ký kết, lại càng không cần đến việc phải đóng dấu.
Mà ngẫm ra, câu chuyện về vai trò của niềm tin và chữ Tín không chỉ đúng với giới doanh nhân. Trong Đông Tây kim cổ, các chính trị gia thường bị dân chúng ghét, chủ yếu là vì họ không giữ được chữ Tín, nói một đằng làm một nẻo, chứ không phải vì họ kém tài năng hay thiếu hấp dẫn.  Như thế, niềm tin là vốn liếng của xã hội. Chữ Tín vốn liếng của cá nhân. Xã hội có niềm tin thì sẽ phát triển.
Nhưng cho đến lúc này, nếu bạn đã đi làm hợp đồng mua bán nhà, vì không có con dấu cá nhân, ngay tại phòng công chứng, bạn vẫn sẽ phải... điểm chỉ vào bên cạnh chính chữ ký của mình. Một thái độ cực đoan về việc đảm bảo niềm tin.
Và thậm chí đã đến mức như thế, dấu điểm chỉ nhiều lúc cũng không đủ để người ta tin nhau.Giáp Văn Dương

Bộ trưởng nhận trách nhiệm

Chất vấn của Quốc hội là một trong những hoạt động chính trị được truyền hình trực tiếp từ rất sớm ở Việt Nam.
Quyết định này vào năm 1994, đã đưa diễn biến các cuộc giám sát tối cao bằng hỏi - đáp từ trong phòng họp ra ngoài xã hội. 
Bắt đầu từ đó, các bộ trưởng đều ý thức rõ khi đăng đàn, họ không chỉ phát biểu với gần 500 đại biểu Quốc hội, mà có thể là trước hàng triệu người thông qua truyền thông. Lời ăn tiếng nói của họ lúc đó là không thể biên tập. 
Nhiều năm tường thuật các phiên chất vấn, tôi ghi chép dày đặc trong sổ tay của mình nội dung trả lời cũng như phong cách của các bộ trưởng. Và rất nhiều trong số đó, là những lời nhận trách nhiệm.
Tôi nhớ sự thẳng thắn của Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển. Tháng 12/2004, khi giải đáp câu hỏi của đại biểu về bê bối quota dệt may, ông Tuyển không ngần ngại nhận trách nhiệm cá nhân và cho biết ông đã gửi báo cáo kiểm điểm đến Bộ Chính trị.
Nhưng tôi cũng nhớ màn “nhận trách nhiệm” của Bộ trưởng Văn hoá Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh. Nó nhiều lần khiến hội trường vang lên những tiếng cười. Đặc biệt, khi ông Tuấn Anh “xin nhận trách nhiệm trước Quốc hội về những gì chưa làm được, trách nhiệm của tôi là truyền đạt lại cho bộ trưởng kế tiếp”, nhiều người không chỉ cười mà còn ngỡ ngàng. 
Nếu Quốc hội thống kê về những lần xin nhận trách nhiệm của các vị bộ trưởng trong nhiều nhiệm kỳ qua, danh sách hẳn sẽ rất dài. Nhưng sẽ không có nhiều buổi chất vấn mà tất cả bộ trưởng cùng nhận trách nhiệm, như hôm qua. 
Lần đầu tiên đăng đàn ngày 13/6, Bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường và Bộ trưởng Văn hoá Nguyễn Ngọc Thiện sau khi nhập cuộc đều nhận trách nhiệm ngay về những tồn tại thuộc lĩnh vực quản lý của mình. 
Bộ trưởng Thiện, trong ít phút phát biểu trước khi nhận các câu chất vấn, đã chủ động đề cập một số sự việc ồn ào liên quan đến Cục Nghệ thuật biểu diễn và Tổng cục Du lịch. “Đây là bài học sâu sắc đối với công tác quản lý nhà nước của ngành, là Bộ trưởng tôi xin nhận trách nhiệm”, ông nói.
Ngồi trên ghế nóng trả lời chất vấn, Bộ trưởng Văn hoá chia sẻ về một sức nóng khác, là dư luận xã hội. Vì vậy khi trả lời những vấn đề mà báo chí “nói mạnh” thời gian qua, như câu chuyện xung quanh khu du lịch Sơn Trà, ông đã xin Quốc hội cho thời gian để “giải trình thật rõ”. Điều này có thể hiểu, vì thông điệp mà Bộ trưởng đưa ra không chỉ với các đại biểu mà còn với đông đảo người dân có điều kiện xem truyền hình trực tiếp, hoặc đọc báo sau đó.
Nói cách khác, theo Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, đây là vấn đề không chỉ các đại biểu Quốc hội quan tâm, “tôi theo dõi trên mạng, đi gặp taxi, xe ôm, hàng nước cũng hỏi về Sơn Trà”.
Không gian xã hội với các kênh phản ánh suy nghĩ của người dân ngày càng đa dạng hơn, hiện đại hơn, và mối quan tâm của họ cũng phong phú hơn chuyện mưu sinh đời thường. Điều này đang tỏa sức nóng đến các chính khách. 
Những vấn đề mà các bộ trưởng hôm nay phải “nhận trách nhiệm”, từ nông sản cho đến cấp phép bài hát, đều là những cơn sóng trong dư luận thời gian vừa qua.
Trách nhiệm của các bộ trưởng trước hết là trách nhiệm chính trị, và chế tài của nó là mức độ tín nhiệm của Quốc hội hoặc của cử tri. Nhưng sẽ là bất hợp lý nếu danh sách nhận trách nhiệm cứ dài ra thêm mãi mà không có một sự thay đổi nào rõ rệt trong chế tài xử lý.
Với các hạ tầng truyền thông mới, có thể, trong thời gian tới, cái danh sách ấy sẽ dài thêm và dài nhanh hơn. Công chúng có cơ hội nghe thêm nhiều lời nhận trách nhiệm từ các vị tư lệnh ngành. Không có gì ngạc nhiên khi ngay trong sáng nay, ngày 14/6, lại có thêm một bộ trưởng nữa đứng ra "nhận trách nhiệm". Đó là Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, khi bà nhận lỗi về tình trạng "mua thuốc dễ như mua rau".
Có thể nhiều người sẽ hài lòng chỉ với việc nghe thêm nhiều lời “nhận trách nhiệm”. Cũng có thể, nhiều người khác sẽ tự hỏi: “Rồi sao?”.Võ Thành

Nóng - phẳng - chật

Trong những ngày diễn ra kỳ họp giữa năm của Quốc hội, Hà Nội trải qua đợt nắng nóng kỷ lục.
Hàng xà cừ cao lớn xanh mướt trên phố Hoàng Diệu - nơi đoàn xe chở đại biểu đi qua mỗi ngày, không ngăn nổi cái hầm hập phả lên từ mặt đường nhựa. Trên nghị trường, hàng loạt vấn đề nóng cũng được đặt lên bàn làm việc. Ba trong số đó, có thể gọi tên là nóng bức, bằng phẳng và chật chội.
Cảm giác đi bộ trên mặt đường nhựa hầm hập của phố Hoàng Diệu lúc vào toà nhà Quốc hội, giúp tôi thêm thấm thía khi nghe một đại biểu đến từ Tây Nguyên chia sẻ lo lắng về tình trạng phá rừng. Bà Ksor Phước Hà - Phó trưởng công an thị xã Ayun Pa (tỉnh Gia Lai) - nói trong phiên thảo luận sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng: “Con người đang vật vã, hổn hển vì một cá nhân trưởng thành phải hít khoảng 3 triệu lít ôxy mỗi năm, tìm đâu ra đủ lượng ôxy này khi nhà nhà điều hòa, người người xe máy, ôtô…”.
Theo bà, ở Việt Nam, mỗi năm xảy ra 7.000 vụ phá rừng, 20.000 vụ vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép. “Thực ra đây mới là con số công khai”, bà nói thêm.
Không chỉ với vùng cao nguyên đất đỏ, sự nóng bức môi trường sống còn diễn ra ở nhiều nơi khác. Người ta từng ví von việc con người phát triển kinh tế, nếu lạm dụng quá mức mẹ thiên nhiên thì sẽ như cỗ xe lắp máy móc cũ kỹ. Ở đâu xe càng tăng tốc thì ở đó khói bụi xả ra càng nhiều.
Tiếp theo là chật chội. Dân số trên 90 triệu người và nằm trong nhóm các nước có mật độ cao nhất thế giới, sự bùng nổ nhu cầu khi thu nhập được cải thiện đã dẫn đến những điểm nghẽn hạ tầng. Và đến lượt việc xây cất hạ tầng lại gặp khó vì quy mô dân số này.
Chỉ riêng dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cần đến trên 23 nghìn tỷ đồng (tương đương hơn một tỷ USD) chỉ để giải phóng mặt bằng, bồi thường, tái định cư. Chính phủ cho biết có tới 4.730 hộ gia đình, cá nhân với khoảng 15.000 nhân khẩu và 26 tổ chức sẽ phải di dời.
Tương tự với dự án đường cao tốc Bắc Nam, trong giai đoạn 2017-2020, để làm 713 km thì các địa phương phải giải tỏa khoảng 3.523 ha với hơn 8.000 hộ dân bị ảnh hưởng và 2.100 hộ tái định cư; kinh phí cho công việc này chưa kể làm đường là trên 13 nghìn tỷ đồng. Nếu làm toàn tuyến với chiều dài 1.372 km, tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lên đến trên 27 nghìn tỷ đồng.
Trong khi đó, nhiều đại biểu Quốc hội than phiền, đang có hình ảnh tương phản giữa chật chội và thông thoáng. Cụ thể là sân golf cạnh sân bay Tân Sơn Nhất.
Sự tương phản trên đặt ra vấn đề lớn về quản lý quy hoạch. Việt Nam còn có kế hoạch làm đường sắt cao tốc và nhiều dự án hạ tầng lớn khác, sự chật chội nếu hôm nay không được quy hoạch và quản lý tốt, chi phí ở ngày mai sẽ vô cùng đắt đỏ.
Cuối cùng là bằng phẳng. Ngày nay, có tới 1/3 điện thoại Samsung bán ra trên toàn cầu được sản xuất tại Việt Nam. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, thiết bị của công ty này được đưa vào ghi chú khi Uỷ ban kinh tế thẩm tra báo cáo thường niên của Chính phủ, đơn giản vì nó chiếm tỷ lệ lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu quốc gia.
Đây chỉ là một trong rất nhiều ví dụ cho thấy nền kinh tế Việt Nam đã tham gia mạnh mẽ vào chuỗi giá trị của “thế giới phẳng”. Sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ và quá trình mở cửa, hội nhập ở Việt Nam, giờ đây không còn là câu chuyện xa lạ. Vấn đề chỉ là ta đang ở chỗ nào trong chuỗi giá trị toàn cầu đó và nỗ lực được đến đâu.
“Nóng, phẳng, chật” là cách diễn đạt của nhà báo Thomas Friedman về những yếu tố nổi trội mà thế giới ngày nay đang phải đối diện - trong cuốn sách cùng tên vào năm 2008 của ông. Sự nóng lên của trái đất và dân số tăng nhanh, đòi hỏi một chiến lược sử dụng năng lượng hiệu quả và bảo vệ môi trường sống được đặt lên bàn nghị sự ở tầm quốc gia, mà ông gọi là “Mã xanh”. Mã xanh gồm 3 phần: Điện sạch; Sử dụng năng lượng hiệu quả và Bảo vệ môi trường.
Việt Nam dường như không là ngoại lệ. Nhưng khi “nóng, phẳng, chật” đã được đặt lên bàn nghị sự - không phải lần đầu tiên, mà là liên tục qua các cuộc họp - vẫn chưa thấy nó được hệ thống hóa thành một vấn đề mang tính xuyên suốt. Từng vấn đề nhỏ lẻ được nêu ra, với từng bộ, rồi nếu nó được xử lý - điều không phải lúc nào cũng may mắn diễn ra - thì cũng chỉ xử lý cục bộ.  
Thậm chí nếu không nhắc, hẳn nhiều người cũng quên rằng chúng ta cũng đã có một bộ “Mã xanh”. Đó là Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, được thủ tướng ký năm 2012.
Bây giờ nhìn lại văn bản ấy, thấy hàng loạt tiêu chí đã “xếp kho”. Ví dụ như, trong chiến lược quốc gia mới phê duyệt cách đây 5 năm, chúng ta đặt ra tỷ lệ che phủ rằng vào năm 2020 là 45%. Sau 4 năm, tỷ lệ này còn chưa nổi 41%. Vài ngày trước, một Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp được phê duyệt đã đặt mục tiêu “phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42%”.
Hoặc những “chiến lược” mà có lẽ sẽ không thể thành sự thật, như là loại bỏ công nghệ độc hại ở các làng nghề vào năm 2020, hay là khi mua xe công sẽ ưu tiên xe hybrid vào năm 2017...
“Nóng, phẳng, chật” chắc sẽ còn phải lên bàn nghị sự ở nhiều kỳ họp nữa.Võ Văn Thành

No comments:

Post a Comment