Monday, June 26, 2017

Bài viết hay(5107)

Hổng biết chuyện "chụp mũ" có từ hồi nào nhưng đó là một bệnh hay lây và rất nan y trong xã hội VN.  VC chụp mũ cho bất kỳ ai là phản động hay Việt Tân là coi như tù cải tạo ngay. Bolsa chụp mũ VC cho bất kỳ ai khác ý kiến hay bất đồng quan điểm. Chụp mũ tạo ra chia rẻ, thù hằn. Chụp mũ chẳng giải quyết được gì nhưng người Việt thích chụp mũ người khác vô tội vạ. Đó là một vấn đề nan giải.
“Toàn tập chụp mũ”
Cách đây khoảng 2 tuần thì trên Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM đã đăng tải một bài báo tên là “Viện Phan Châu Trinh – một tổ chức đáng nghi ngờ” với những nội dung công kích những nhà trí thức, là những người trong những năm qua đã có những nỗ lực hằng ngày cống hiến cho xã hội, nhất là về lĩnh vực giáo dục, học thuật, văn hóa.Nếu nói về động cơ, bối cảnh, mục tiêu viết bài báo “Viện Phan Châu Trinh – một tổ chức đáng nghi ngờ” thì có lẽ không cần phải bàn nhiều thì cũng đã quá rõ và nội dung của nó rõ ràng là mang một sự thiên kiến rõ rệt. Tác giả bài viết này xin được phép tản mạn, mổ xẻ một vài chỗ trong khuôn khổ bài viết này và cũng xin có một số ý kiến riêng, nhận định riêng của bản thân.
Ngay ở phần đầu thì một trong những nội dung mà bài báo này nêu đó là việc các nhà trí thức của Viện Phan Châu Trinh đã lợi dụng tên tuổi của nhà tư tưởng Phan Châu Trinh và bài báo đã sử dụng từ “buôn bán cổ nhân” để thể hiện sự thiên kiến, cố tình có cái nhìn lệch lạc về công việc của các nhà trí thức, thể hiện sự “dán nhãn” ngay từ đầu của bài báo đối với họ. Thiết nghĩ một tổ chức bao gồm những nhà trí thức tình nguyện hợp tác, liên kết với nhau cùng làm công việc thúc đẩy, mở rộng văn hóa, giáo dục, học thuật của nước nhà và trong việc lựa chọn một biểu tượng vừa mang tính định hướng cho hoạt động, vừa mang tính khích lệ, cổ vũ cho mọi người thì trong lịch sử nước nhà về các danh nhân thì lựa chọn hình ảnh cụ Phan Châu Trinh là hoàn toàn hợp lý và hiển nhiên và nếu nói về lĩnh vực văn hóa – giáo dục thì tất cả đã thể hiện hết trong 3 vế “Khai Dân trí – Chấn Dân khí – Hậu Dân sinh” của cụ Phan Châu Trinh và tại sao phải Khai Dân trí trước rồi mới bàn đến hai cái kia ? Bởi lẽ nếu như không Khai Dân Trí trước mà lại Chấn Dân Khí trước thì sẽ hình thành những con người có thể có nhiệt huyết nhưng lại chưa được chuẩn bị đầy đủ về mặt tri thức, tâm thế phù hợp để chấn hưng, khai phóng cho đất nước (ai đã từng tham dự seminar Tư tưởng Triết học Phan Châu Trinh được tổ chức tại Sài Gòn cách đây 1 năm thì trong nội dung của buổi seminar đó cũng đã có đề cập đến vấn đề này). Những hoạt động của Viện – Qũy Phan Châu Trinh thì hoàn toàn đã rõ ràng, không hề có gì mập mờ, đối với Qũy Phan Châu Trinh thì Tôn chỉ hoạt động của Qũy đã được nêu rất rõ:
Khuyến khích, tôn vinh các công trình nghiên cứu đặc sắc thông qua các giải thưởng.
Hỗ trợ các hoạt động dịch thuật và Dự án Tủ sách Tinh hoa Thế giới.
Tổ chức đào tạo và phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam và Thế giới.
Chỉ cần thấy Tôn chỉ trên của Qũy Phan Châu Trinh thì hoàn toàn có thể nhận định rằng là những mục tiêu trên là gắn liền với mục tiêu Khai Dân trí của cụ Phan Châu Trinh và cùng với những hoạt động, tổ chức một cách hoàn toàn công khai, minh bạch và cùng với những kết quả, thành tựu đã tích lũy được kể từ khi thành lập thì có thể thấy hoạt động của Viện – Qũy Phan Châu Trinh là hoàn toàn lấy cảm hứng, tinh thần, tư tưởng của cụ Phan chứ không phải là lợi dụng tiền nhân nhằm một mục đích trục lợi nào đó và từ ngữ “buôn bán cổ nhân” này được nêu ra từ cái nhìn kỳ thị, chụp mũ đối với những nhà trí thức và công việc của họ.
Tiếp theo, cũng trong bài báo này thì đã có viết một nội dung là: “Qũy Phan Châu Trinh là một quỹ trao giải cho các sách hay được xuất bản hằng năm liên quan đến chủ đề nghiên cứu học thuật.Thế nhưng, quỹ này không trao hay khuyến khích các nghiên cứu học thuật có tính khoa học mà chỉ trao cho các nghiên cứu học thuật mang tính chính trị (có thể là bản thân công trình hoặc tác giả) mà toàn là những nhà chính trị “có vấn đề” với lịch sử cách mạng”.Rõ ràng nhận định trên là hoàn toàn sai lầm và cố tình chụp mũ, bởi lẽ nếu theo dõi các giải thưởng của Qũy Phan Châu Trinh qua các năm thì sẽ thấy Giải Sách Hay và Giải Thưởng Văn Hóa Phan Châu Trinh của Qũy Phan Châu Trinh được trao tặng cho các nhà nghiên cứu - dịch giả của những công trình học thuật đặc sắc, được đề cử, xét duyệt và đánh giá cao về chuyên môn mà những công trình này lại rất đa dạng về lĩnh vực chứ không hoàn toàn là chỉ thuần túy về chính trị như bài báo đề cập, có thể truy cập ngay vào trang web của Qũy Phan Châu Trinh để theo dõi thì sẽ thấy vẫn còn đó những thông tin về các giải thưởng được tổ chức và trao tặng qua các năm, Giải Sách Hay (từ năm 2011) và Giải Văn Hóa Phan Châu Trinh (từ năm 2008).Hơn nữa, cho dù là các công trình học thuật về lĩnh vực chính trị thì không phải là không có tính khoa học trong đó, bởi vì bản thân dịch giả hay nhà nghiên cứu nào khi thực hiện một công trình nào đó phải chịu trách nhiệm rất lớn về sự chuẩn mực về mặt kỹ thuật, phương pháp, dữ liệu được sử dụng để thực hiện công trình theo đúng những yêu cầu, không những thế mà còn phải có một tâm thế là phải đảm bảo về sự khách quan, không định kiến, luôn có tinh thần cầu thị, học hỏi, phê phán và chấp nhận sự phê phán v.v… đó là những nguyên tắc chung được đặt ra đối với một công trình học thuật, vì thế “tính khoa học” có ở mọi lĩnh vực học thuật, trong từng chi tiết và kể cả học thuật về chính trị cũng không ngoại lệ.
Theo quan điểm của tôi (tác giả bài viết này) thì bất cứ một công trình nào đó được ra đời thì trước tiên nó phải là một công trình đảm bảo tính khoa học chứ không phải là công trình có tính chất chính trị và kể cả công trình nghiên cứu liên quan đến chính trị thì nó vẫn phải đảm bảo tính khoa học thì nó mới là một công trình đúng nghĩa. Tuy nhiên, có thể thấy ở nội dung trên thì bài báo lại cố tình nhấn mạnh tính chính trị của một công trình nghiên cứu - dịch thuật hơn là tính khoa học của nó, tính chính trị ở đây không hiểu theo nghĩa là chủ đề - lĩnh vực của công trình mà chính xác hơn là được hiểu theo nghĩa là mức độ ảnh hưởng như thế nào đến vị thế chính trị của thế lực chính trị đang cầm quyền và các công trình học thuật khoa học được bài báo đề cập ở trên mà bài báo cho rằng đó là những công trình không được Qũy PCT khuyến khích, trao giải so với các công trình học thuật chính trị mà những công trình học thuật chính trị này lại “có vấn đề với lịch sử cách mạng”, từ nhận định này đã chứng tỏ bài báo có ý muốn nói rằng các công trình học thuật khoa học vốn dĩ không có nhiều ảnh hưởng đến chính trị và các công trình học thuật chính trị là rất có ảnh hưởng đến chính trị (thông qua từ khóa: “có vấn đề với lịch sử cách mạng”) và điều này càng thể hiện là đã tồn tại cái tư duy là chỉ cần sử dụng tính chính trị thôi để đánh giá tất cả các công trình khác, đến đây lại phát hiện ra một “tinh thần chụp mũ” đáng nghiêm trọng và tất nhiên là cũng cho thấy “tinh thần chụp mũ” này là song hành với “tinh thần phản khoa học”.
Có lẽ tác giả bài viết này chỉ phát hiện ra những điểm đáng chú ý như trên là thấy là cần phải có trách nhiệm lên tiếng, phê phán đối với bài báo đó mà thôi, còn những nội dung còn lại của bài báo thì cũng chỉ toàn là sặc mùi quy chụp một cách hồ đồ và chúng không đáng để đề cập thêm nữa.
Hiện Hữu Tác giả gửi tới Dân Luận

Người bán báo

Ở góc ngã tư đường Đồng Khởi và Mạc Thị Bưởi, có một người bán báo mù. 
Anh Cường đã đứng đó hơn 20 năm. Suốt thời gian ấy, anh chỉ bán báo Tây. Trên tay anh là những ấn phẩm đại diện cho cả nền báo chí thế giới: Time, The Economist, FT, New York Times... Anh phân biệt tờ báo bằng khổ của chúng, và tất nhiên, không biết trên đó có gì.
Ngay cả một người bán báo mù cũng có thể nói với bạn về sự đổi thay của thị trường báo chí thế giới. “Từ ngày có Internet đó”, anh than thở, “đâu còn ai đọc báo nữa đâu. Ngày xưa 10 khách thì giờ giảm còn 3”. Khi tôi nói chuyện với anh đầu năm ngoái, thì tỷ lệ sụt giảm doanh thu của thị trường báo chí lớn nhất thế giới - Mỹ - kể từ những năm 2000 cũng bằng đúng 70%. Người bán báo rong và The New York Times cùng trải qua một cơn lận đận.
Suốt nhiều năm, cứ mỗi lần đi qua quận 1, tôi lại dừng trước mặt anh mua một hai tờ báo. Bây giờ tất cả các nội dung đó đều có thể đọc trên mạng, nhưng tôi duy trì như một thói quen. Tôi cũng muốn giúp anh Cường. Gia đình bốn người nhà anh sống trong căn phòng trọ chỉ hơn 10 mét vuông. Hai đứa nhỏ, một đứa lớp 10, một đứa lớp 7, đều ngoan ngoãn và biết tự phụ giúp cha mẹ để kiếm tiền đi học. Tôi về suy nghĩ mãi, rồi quyết định sẽ không tặng tiền cho gia đình, mà xin cho đứa nhỏ suất học bổng tiếng Anh ở một trung tâm tốt. Đó là mong ước của nó - một mong ước rất đàng hoàng.
Những thay đổi của thời đại công nghệ, với những hạ tầng xuất bản mới, tạo ra nhiều khó khăn đáng kể cho hoạt động báo chí. Thời tôi mới vào nghề, có những tờ báo vẫn còn bán chạy tới mức tôi mua rồi, người bán báo rong còn đứng đợi. Họ nhẫn nại chờ tôi đọc xong, gạ đổi lấy một tờ khác rẻ hơn: “Anh cầm tờ này đọc thêm đi, rồi cho em tờ đó”. Rồi họ đem tờ báo cũ đi bán tiếp. 
Trong những năm sau đó, tất cả những hội thảo tôi dự, trong hay ngoài nước, về báo chí, đều chỉ xoay quanh một chủ đề “khó khăn”, “thách thức” và “đổi mới”. Điều này, độc giả hoàn toàn có thể sẻ chia: hạ tầng mạng xã hội cho phép bất kỳ nguồn tin nào cũng được xuất bản tin tức hoặc ý kiến lên Internet. Thị trường của báo chí truyền thống bị đe dọa mạnh, ngay từ trong thói quen dùng mạng của độc giả.
Những chiến lược được đề ra để cạnh tranh với mạng xã hội nhiều tới mức không thể trình bày hết trong một khuôn khổ bài viết này. Chỉ riêng số sách viết về chủ đề đó cũng có thể lập thành một thư viện.
Nhưng mỗi lần nhớ về những thách thức của báo chí, tôi lại nhớ người bán báo ở góc đường Đồng Khởi. Có một lần, tôi đi ngang qua trước mặt anh. Tôi chưa kịp chào, mới chỉ đang nói chuyện với vài người cạnh đó, anh Cường đã gọi. “Anh Hoàng nè”, anh gọi, rồi lần giở đống báo trên tay. Anh tìm ra một tờ FT, một tờ Time và một tờ The Economist, đưa cho tôi: “Báo của anh nè”.
Đó là ba tờ báo mà tôi đã mua của anh những lần vào Sài Gòn. Sáu bảy năm, mỗi năm tôi chỉ vào có một hai lần, và không phải lần nào cũng rẽ qua Đồng Khởi ủng hộ anh. Nhưng anh Cường vẫn nhớ giọng tôi, để nhận ra tôi giữa trung tâm quận 1, và đưa cho tôi ba tờ báo tôi hay đọc. Hóa ra là anh làm được điều đó với hầu hết khách hàng khác.
Cái cách anh dỏng tai nghe từng người đi qua, nhớ được từng khách hàng của mình dù không nhìn thấy họ, làm tôi nghĩ đến chính cái cách mà chúng tôi đi tìm và chăm sóc độc giả của mình.  
Các tờ báo có thể “bất lợi” hơn anh Cường ở mức độ nào đó, vì lượng độc giả tính bằng cả triệu, chứ không phải từng người bước qua. Nhưng với công nghệ, chúng tôi vẫn đang cố gắng hết sức để “lắng nghe” từng người một, thông qua thống kê, đọc từng bình luận, hay qua thói quen sử dụng ứng dụng VnExpress trên từng chiếc điện thoại, để tìm ra được độc giả của mình là ai, rằng mọi người mong chờ điều gì khi “rẽ qua” tờ báo của chúng tôi.
Sự thay đổi đáng kể nhất của báo chí trước các thách thức của thời đại, không phải là về nội dung, mà là về thái độ. Báo chí bây giờ phải tự đi tìm độc giả, và chăm sóc thói quen đọc của từng-người-một. Thời đại phát hành đồng nhất với số lớn, độc giả tiếp nhận bị động đã đi qua.
Hôm nay, ngày 21/6 là ngày của những người làm báo Việt Nam. Tôi kể câu chuyện của anh Cường trong ngày hôm nay, vì anh cũng là một phần của ngành xuất bản báo chí. Và quan trọng hơn, cái cách anh nhớ tên tôi, nhớ những tờ báo tôi đọc, dù không bao giờ nhìn thấy mặt khách hàng, gợi mở rất nhiều về thái độ “làm báo” trong thời đại khó khăn này.
Tôi coi đó như một lời hứa trong hôm nay.Đức Hoàng

Cú bấm nút 35 tỷ đô

Hôm qua, tại Quốc hội, Luật Du lịch (sửa đổi) đã được thông qua.
Một năm trước, tôi viết loạt bài phản ánh tình trạng nhiều hướng dẫn viên người Trung Quốc không chỉ hoạt động chui, mà còn ngang nhiên xuyên tạc lịch sử Việt Nam, thuyết minh với khách nước này rằng: “14 thế kỷ trước Việt Nam thuộc một bộ phận phía bắc Trung Quốc. Sau này Việt Nam độc lập rồi tự thành lập một quốc gia, nhưng vẫn là quốc gia phụ thuộc, phải triều cống cho Trung Quốc".
Ngay sau bài báo đầu tiên, một lãnh đạo Sở Du lịch Đà Nẵng gọi điện thoại cho tôi. Vị này muốn tôi phải giao tên, số điện thoại của người đã cung cấp những hình ảnh tư liệu này cho báo chí để họ “xử lý”.
Dĩ nhiên, tôi không làm điều đó. Vì đây là nguồn tin, tôi có trách nhiệm bảo vệ đến cùng. Tôi nói với ông rằng, tôi chỉ tiết lộ nguồn tin đó khi phải ra hầu tòa. Vị lãnh đạo Sở Du lịch tỏ thái độ “không còn gì để nói” với tôi. Nhưng tôi chấp nhận “sứt mẻ” mối quan hệ với một đơn vị quản lý, để đảm bảo nguyên tắc báo chí.
Đó là những “bằng chứng” mà các hướng dẫn viên Việt Nam đã mất hàng tháng trời bí mật ghi lại. Họ đã gửi các hình ảnh ấy cho cơ quan chức năng và chờ đợi nửa tháng, không thấy hồi âm, đành nhờ đến báo chí. Sau khi báo chí phản ánh, những hướng dẫn viên “chui” lần lượt bị cơ quan chức năng xác minh, xử phạt, nêu tên.
Năm 2016, lượng khách Trung Quốc chiếm khoảng 23% tổng lượt khách quốc tế đến Đà Nẵng, dẫn đầu thị trường. Những điểm tham quan đến nhà hàng hải sản luôn đông kín khách, đa số là người Trung Quốc. Bên cạnh những lợi ích từ thị trường khách này mang lại, Đà Nẵng gặp không ít phiền toái: Một vị khách Trung Quốc ngang nhiên đốt tiền Việt ngay trong quán bar; nhóm người Trung Quốc giật nón người bán hàng rong, bẻ thêm chuối khi đã thanh toán tiền... Những vụ việc này đã không được xử lý kịp thời, vì công an chỉ vào cuộc sau khi các khách du lịch này... đã về nước.
Việc thông qua Luật Du lịch (sửa đổi) được ví von là “cú bấm nút 35 tỷ đô”. Mục tiêu đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam là đến năm 2020, chúng ta sẽ đạt doanh thu từ 35 tỷ USD với lượng khách tăng 190%. Trong luật, đã có rất nhiều nỗ lực “cởi trói” cho hoạt động hướng dẫn và lưu trú; nhiều điểm tích cực cụ thể hóa chủ trương thúc đẩy du lịch Việt Nam - và biến nước ta thành điểm đến hàng đầu tại khu vực Đông Nam Á.
Nhưng nỗ lực “cởi trói” và thúc đẩy sự phát triển của du lịch, nếu thành công cũng đồng thời tạo ra nhiều vấn đề vi mô - điều cần đến sự phản ứng của các cơ quan quản lý địa phương. Một triệu khách có vấn đề của một triệu khách, mà hai triệu khách, chắc chắn sẽ có vấn đề của hai triệu khách. Luật sẽ không thể bao phủ được các tình huống thiên biến vạn hóa của thực tế, của những khách du lịch chui, hướng dẫn viên chui, với sự “thông minh” của các công ty lữ hành, những ứng xử với các vị khách từ khắp nơi đổ về...
Và lúc đó, chính sách sẽ chỉ tốt đẹp nếu nó đi kèm với sự tích cực của các địa phương, sự tự giác tham gia vào “bài toán 35 tỷ đô” của từng ủy ban, từng cán bộ.
Ông Nguyễn Sự - nguyên bí thư Hội An, điểm đến du lịch tấp nập nhất trong vùng - là người có nhiều kỷ niệm với khách du lịch. Năm 2014, khi Hội An siết vé tham quan, ông Sự kể với các nhà báo rằng đã “tức sôi máu” khi chứng kiến một khách Trung Quốc phun nước bọt xuống đất, lấy chân chà lên mà ưỡn ngực nói: đây là đất của họ, sao lại thu vé. Ông Sự bảo lúc đó đã muốn xắn tay áo đánh tay đôi mới hả giận.
Nhưng ông bí thư đã kiềm chế. Một thời gian sau, khi xem lại các vấn đề của việc bán vé tại phố cổ, ông đã... nhận lỗi về mình. Trước tình trạng thất thoát nguồn thu từ vé, cán bộ Hội An đã quá xăng xái trong “siết chặt” soát vé, khiến nhiều khách phật lòng. Ông Sự hứa thay đổi cách kiểm soát vé, thông tin đến người dân và du khách. Mục tiêu cao nhất là có nguồn thu để trùng tu di tích.
Đó chỉ là một ví dụ cho cách một nhà quản lý địa phương có thể dồn sức xử lý các bài toán vi mô, mà Luật không thể bao phủ. 35 tỷ USD kia sẽ thành sự thật, hay chỉ là mục tiêu xa vời, không chỉ phụ thuộc vào chính sách mà còn phụ thuộc vào thái độ của từng cán bộ như thế.
“Cú bấm nút 35 tỷ đô” sẽ bị kẹt - nếu trước các vấn đề của du lịch, điều đầu tiên mà một lãnh đạo sở muốn làm, là đòi biết nguồn tin để mà “xử lý”.Nguyễn Đông

Ngày của người giúp việc

Là người đứng đầu Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam, tôi thường xuyên nhận đăng ký xin nghỉ phép từ đồng nghiệp, với hàng chục lý do khác nhau.
Vì người lao động có quyền nghỉ phép hưởng nguyên lương, nên tôi chẳng bao giờ để ý tới những lý do mà họ nhắc đến. Cho đến một ngày, tôi nhận thấy một câu chuyện khá phổ biến: Họ phải ở nhà để trông con nhỏ vì người giúp việc nghỉ phép về thăm gia đình.
Điều này cũng không mấy ngạc nhiên. Bởi nhiều đồng nghiệp của tôi là nữ giới và còn khá trẻ. Đó cũng chính là hiện trạng của lực lượng lao động Việt Nam nói chung - tuổi đời trẻ và tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động ở mức cao (hơn 70%) so với nhiều quốc gia châu Á khác.
Khi nhiều phụ nữ đi làm, việc cân bằng giữa công việc và gia đình rất có thể trở thành một gánh nặng. Đáng buồn là, bất bình đẳng giới vẫn tồn tại khá phổ biến trong xã hội. Các cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình ở Việt Nam cho thấy phụ nữ vẫn phải gánh vác phần nhiều việc nhà so với nam giới. Trên thế giới, phụ nữ tiếp tục là người phải làm nhiều công việc gia đình không được trả lương.
Trong bối cảnh đó, người giúp việc gia đình, phần lớn là phụ nữ, đóng vai trò quan trọng không chỉ trong mỗi gia đình của chúng ta, mà còn đối với nền kinh tế và thị trường lao động.
Bản thân người giúp việc gia đình đã tham gia vào thị trường lao động. Họ đồng thời giúp những người phụ nữ khác trong độ tuổi lao động có thể làm những công việc đáng ra họ không thể đảm đương nổi, nếu vẫn phải gánh vác toàn bộ trách nhiệm gia đình.
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Việt Nam và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu, việc loại hình công việc này đang trở thành một đặc điểm quan trọng của thị trường lao động cũng là dễ hiểu. Từ đầu thế kỷ, số lượng người thuộc tầng lớp trung lưu, theo nghiên cứu của chúng tôi, đã tăng từ một triệu lên 13 triệu người. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Việt Nam dự kiến  có khoảng 350.000 lao động giúp việc gia đình vào năm 2020.
Nhưng trong xã hội, vẫn có một sự phân biệt đối xử với nhóm lao động quan trọng này.
Mới đây, tôi có cơ hội nói chuyện với một chị quê ở Hòa Bình. Khi tôi hỏi chị ấy có việc làm không, chị lắc đầu: "Em chỉ đang giúp việc ở một gia đình trên Hà Nội thôi, được 3 năm rồi”.
"Vậy giúp việc gia đình được trả lương không phải là một công việc hay sao?” - tôi tự nhủ.
Nhưng rồi, tôi nhớ ngay ra là trên thế giới, giúp việc gia đình thường không được công nhận là một nghề "thực sự". Ngay cả khi công việc này được công nhận, thì những kỹ năng nghề của họ cũng bị đánh giá thấp. Không ít người cho rằng khả năng làm việc nhà là thiên chức tự nhiên của phụ nữ, và những kỹ năng đó không cần phải học, và cũng không mấy giá trị. Điều này có nguồn gốc sâu xa từ nhận thức mang tính truyền thống và định kiến về vai trò của phụ nữ và việc nhà.
Chính việc đánh giá thấp công việc giúp việc gia đình đã dẫn tới mức lương thấp và điều kiện làm việc không đảm bảo cho những người làm nghề này.
Theo một báo cáo khác của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), hơn 40% người lao động giúp việc gia đình trên thế giới không được hưởng mức lương tối thiểu cho dù lương tối thiểu được áp dụng cho những nhóm lao động khác ở nước họ. Mặc dù tình hình ở Việt Nam khá hơn, vẫn tồn tại sự khác biệt lớn - chỉ 86,5% người lao động giúp việc gia đình được nhận lương tương đương mức lương tối thiểu trở lên, trong khi tỷ lệ này trên tổng số người lao động nói chung ở mức 95,2%.
Mức lương thấp của nghề giúp việc có liên quan đến hình thức đền bù bằng hiện vật vốn đã tồn tại từ nhiều đời nay dưới dạng cung cấp bữa ăn và chỗ ở. Việc đảm bảo cuộc sống cho người giúp việc thông qua những yếu phẩm đó, thay vì trả một mức lương đủ để họ có thể lo cho cuộc sống của chính mình và gia đình, đã và đang tiếp tục là cách làm phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.
Mức lương thấp của nghề giúp việc cũng liên quan đến việc thiếu thời giờ làm việc cố định, một đặc điểm chung ở nhiều nước trên thế giới. Vấn đề này càng nghiêm trọng hơn đối với những người giúp việc sống cùng với chủ nhà. Họ được kỳ vọng có thể sẵn sàng làm việc 24/7 để đáp ứng muôn vàn yêu cầu khác nhau của người sử dụng lao động và gia đình.
Giờ đây, khi nghĩ về người phụ nữ quê ở Hoà Bình nọ, tôi đã có thể hiểu vì sao chị ấy lại trả lời như vậy. Thường xuyên cảm thấy việc mình làm không có giá trị như việc của người khác, bị phân biệt đối xử trong xã hội, và nhận mức lương thấp, bản thân những người giúp việc như chị ấy có lý do để cho rằng đó không phải là những công việc "thực sự". Đây là một sự thật đau lòng cần được giải quyết.
Việt Nam đã có một bước tiến lớn trong việc tăng cường bảo vệ về pháp lý cho người giúp việc gia đình thông qua Bộ Luật Lao động năm 2012 và Nghị định 27 năm 2014. Các văn bản này đưa ra quy định về mức lương tối thiểu, đóng bảo hiểm, làm việc vào dịp lễ Tết, thời gian nghỉ ngơi tối thiểu và nghỉ phép hàng năm cho những người lao động trong nhóm này.
Việt Nam cũng đang xem xét phê chuẩn Công ước về Lao động giúp việc gia đình của ILO (Công ước 189) vào năm 2020. Công ước này được thông qua sáu năm trước đây, đánh dấu cột mốc quan trọng tăng cường bảo vệ cho 53 triệu người lao động giúp việc gia đình trên thế giới bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên được áp dụng riêng với loại hình lao động này. ILO đang sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trở thành quốc gia ASEAN thứ hai (sau Philippines) phê chuẩn công ước quan trọng này.
Nhưng chúng ta cũng không cần phải đợi tới lúc phê chuẩn. Sự thay đổi đó có thể bắt đầu ngay bây giờ, tại chính ngôi nhà của chúng ta.
Hôm nay, nhân kỷ niệm ngày ra đời của Công ước, và cũng là ngày Quốc tế Lao động giúp việc gia đình (16/6), tôi đã nhắc nhở bản thân và các đồng nghiệp - những người đang và từng thuê người làm giúp việc nhà - rằng, mọi người giúp việc gia đình đều nên được hưởng những quyền lợi giống như những người lao động khác. Chúng ta có chung nghĩa vụ biến ngôi nhà của mình thành nơi làm việc bình đẳng.
Dĩ nhiên, Chính phủ cần nỗ lực hơn nữa để bảo vệ tốt hơn những người lao động giúp việc gia đình. Nhưng đó cũng là trách nhiệm của chúng ta, của mỗi công dân và “người sử dụng lao động” giúp việc gia đình.
Lee Chang-heeGiám đốc ILO Việt Nam
Yên Bái Hôm Nay Có Gì Vui?
Hôm nay 26/6/2017 có gần 40 phóng viên báo chí từ Hà Nội đã lên Yên Bái để ghi nhận công cuộc đổi mới đang thành công rực rỡ trên phố núi, đồng thời ghi nhận và đưa tin vụ tống tiền Doanh nghiệp hết sức nghiêm trọng do một nhóm "diễn viên" thực hiện.
Khi đoàn xe phóng viên đường đột dừng lại ngắm tệ xá của Thiếu tướng Đặng Trần Chiêu, Giám đốc Công an tỉnh Yên Bái thì bị mấy đối tượng côn đồ chặn đầu xe, đuôi xe hỏi thăm và có hành vi chào đón thân thiện.

Tệ xá của Thiếu tướng Đặng Trần Chiêu, Giám đốc Công an tỉnh Yên Bái
Cũng trong ngày hôm nay Công an tỉnh Yên Bái đã họp báo để thông tin thêm về vụ việc nhà báo Duy Phong bị Công an TP Yên Bái bắt quả tang khi đang nhận tiền của doanh nghiệp.
Thượng tá Chu Văn Hải - phó trưởng phòng phụ trách phòng tham mưu Công an tỉnh Yên Bái, cho biết một ngày sau khi tạm giữ nhà báo Duy Phong, ngày 23-6 Công an TP Yên Bái đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam nhà báo này để điều tra hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo Điều 280 Bộ luật hình sự.
Các quyết định trên đã được Viện kiểm sát nhân dân TP Yên Bái phê chuẩn vào ngày 25-6.
Tại buổi làm việc, báo chí đặt ra rất nhiều câu hỏi về căn cứ để cơ quan công an ra quyết định khởi tố bị can nhà báo Duy Phong.
Tuy nhiên hầu hết các câu hỏi đều được ông Hải trả lời với nội dung giống nhau: Vụ việc đang trong quá trình điều tra nên chưa thể trả lời ngay, tài liệu đang trong quá trình điều tra chưa thể cung cấp.

Công an tỉnh Yên Bái đã họp báo về vụ việc nhà báo Duy Phong.
Tham dự họp báo lãnh đạo báo Giáo dục Việt Nam cho biết một nhân chứng đi cùng và chứng kiến việc nhà báo Duy Phong bị bắt đã tường trình lại vụ việc khẳng định giữa ông Phong và doanh nghiệp không có trao đổi gì về công việc.
Ngày 22-6, ông Phong có cuộc gặp một người bạn học và một giám đốc doanh nghiệp tại nhà hàng ở TP Yên Bái.
Sau khi nhậu say, ông giám đốc doanh nghiệp rút 50 triệu đưa nhưng nhà báo Duy Phong không nhận. Cũng theo tường trình của nhân chứng, vị giám đốc doanh nghiệp đã cố nhét tiền vào túi ông Phong và sau đó ít phút công an ập vào bắt.
Trả lời về độ xác thực của những thông tin trên, ông Hải nói: “Mục đích đưa và nhận tiền, sau này kết quả điều tra của cơ quan công an sẽ làm rõ. Với tài liệu điều tra ban đầu, cơ quan công an khởi tố nhà báo Duy Phong về tội lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, trong quá trình điều tra sẽ làm rõ mục đích nhận tiền”.
Hàng loạt thắc mắc được phóng viên đặt ra với Công an tỉnh Yên Bái: nhà báo Duy Phong có đang tìm hiểu viết bài gì về hoạt động của doanh nghiệp này không? Nhà báo có quan hệ từ trước hay đây mới là lần đầu gặp mặt?
Cơ quan công an có thu thập được tài liệu gì liên quan đến việc nhà báo gợi ý doanh nghiệp đưa tiền hay không? Vai trò của một nhà báo đang công tác tại đài truyền hình tỉnh là bạn của ông Duy Phong trong vụ án này như nào…
Tuy nhiên, ông Hải đều trả lời rằng vụ án đang trong quá trình điều tra nên chưa thể cung cấp thông tin gì.
Trước đó, có tin đồn trong tài khoản cá nhân của Nhà báo Lê Duy Phong có 10 tỷ đồng và nhiều khả năng là tiền chiếm đoạt của các doanh nghiệp. Nhưng hôm nay đại diện Viện Kiểm sát xác nhận chỉ có 1,6 tỷ. Như vậy tin đồn 10 tỷ là có ác ý. Lãnh đạo báo Giáo dục điện tử cũng cho biết trong số tiền 1,6 tỷ thì Phong vừa bán căn nhà xã hội được hơn 800 triệu.
Hôm nay các Phóng viên cũng đã tìm cách liên lạc với ông Thực - chủ doanh nghiệp đã khá vất vả mới nhét được 50 triệu đồng vào túi quần nhà báo Lê Duy Phong và nhớ rõ seri từng tờ tiền, nhưng không liên lạc được.
Ông Đỗ Viết Công, công tác tại Đài Truyền hình Yên Bái, bạn học khốn nạn của Phong sắp xếp cuộc ăn nhậu cũng tắt điện thoại và đóng facebook.

Yên Bái đang rất vui.
Nhà báo Nguyễn Huy Toàn (Truyền hình Công an Nhân dân)

No comments:

Post a Comment