Tuesday, June 27, 2017

Bài viết hay(5110)

Tui đang ở xứ tự do, dân chủ #1 TG. Khi giá xăng, giá điện, giá nước, giá thực phẩm tăng, tui có quyền phản đối không nhỉ? Tui phải đóng thuế hàng năm trong khi cái thằng đang làm Tổng Thống của nước Mỹ lại trốn thuế gần 1 tỷ usd; vậy tui có quyền phản đối không nhỉ? Tại sao cùng làm công chức mà tui phải làm nhiều việc hơn, job khó hơn mà thằng Tàu, thằng Rệp lãnh lương cao hơn nhưng lại không phải làm việc gì hết, không chịu trách nhiệm gì hết mà boss vẫn ưu ái? Công dân hạng hai như tui phản đối thì ai thèm nghe mà phản đối làm gì cho ...mệt! Bởi vậy đừng mơ mộng viễn vông về một xã hội bình đẳng khi mà bàn tay còn có ngón ngắn, ngón dài. Đời là thế.

Nỗi xấu hổ của ngành tư pháp

Nguyễn Đức Thùy Dung và Trương Hồ Phương Nga trước tòa.
Vụ án giữa hoa hậu Trương Hồ Phương Nga, Nguyễn Đức Thuỳ Dung (bạn của Nga) và Cao Toàn Mỹ ngày càng lộ ra nhiều điểm ly kỳ. Diễn biến mới nhất, Lữ Minh Nghĩa, người sống chung với Nguyễn Đức Thuỳ Dung 4 năm, đã phản cung, khẳng định Nga – Mỹ có quan hệ tình cảm, mọi lời khai trước đây tại cơ quan điều tra đều theo kịch bản của Nguyễn Mai Phương. Sáng nay, Lữ Minh Nghĩa đã nộp bằng chứng thông cung là 5 lá thư viết trên nilon gửi ra ngoài trại giam và giám thị trại giam là người chuyển thư. Theo Lữ Minh Nghĩa, Nguyễn Mai Phương còn giữ một số thư.
Hiện đã có các dấu hiệu không thể rõ ràng hơn về hành vi nguỵ tạo chứng cứ, thông cung, mớm cung, nhằm vu khống Trương Hồ Phương Nga. Toà án nhân dân TP.HCM đã triệu tập Nguyễn Mai Phương. Tuy nhiên, cần thiết phải triệu tập thêm điều tra viên – người đã ghi lời khai giống hệt giữa Cao Toàn Mỹ và Trương Hồ Phương Nga, có lợi cho Cao Toàn Mỹ. Giám thị trại giam – người chuyển thư cũng phải bị triệu tập. Thậm chí, còn phải làm rõ có hay không sự cấu kết giữa Cao Toàn Mỹ và nữ kiểm sát viên - đại diện cho cơ quan kiểm sát giữ quyền công tố tại toà, với dấu hiệu “nhắc bài” cho Cao Toàn Mỹ ngay tại toà án.
Đến giờ, đây không còn đơn thuần là một vụ án tình – tiền, hay vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản như cáo buộc của Viện Kiểm sát Nhân dân TP.HCM. Đây là một vụ án điển hình cho thực trạng tồi tàn của ngành tư pháp VN, khiến người dân không còn tin vào cơ quan điều tra và ngày càng mất niềm tin vào công lý.
Tôi không khai vì tôi sợ cơ quan điều tra huỷ hết chứng cứ…
Tôi không khai vì tôi không tin tưởng cơ quan điều tra, viện kiểm sát…
Những câu nói như thế chẳng khác nào cái tát vào mặt ngành tư pháp. Thật xấu hổ và nhục nhã.
Không biết bao nhiêu vụ việc người dân đã kêu bị ép cung, bị ép ký vào biên bản lời khai, không biết bao nhiêu tiếng kêu oan khuất của người dân rơi vào vô vọng, không biết bao nhiêu án oan đã xảy ra, không biết bao nhiêu tự do đã bị cướp mất và những người vô tội lâm vào cảnh tù đày… Thử hỏi, bây giờ còn bao nhiêu người dân đặt niềm tin vững chắc vào các cơ quan thực thi pháp luật ở đất nước này?
Tiền, tất nhiên rất quan trọng. Nhưng liệu những đồng tiền bẩn thỉu, những đồng tiền có được từ việc cướp đi quyền được sống bình thường, những đồng tiền có được từ hành vi có thể coi là tội ác, thì những đồng tiền ấy có thể giúp họ sống một cuộc đời như một con người được không? Khi có tiền bằng việc chà đạp mầm thiện và gieo trồng cái ác, thì chính những con người ấy, dù đang đang có trong tay quyền lực, cũng bị cầm tù bởi lương tâm của một con người. Trừ trường hợp, họ không còn là một con người…
Tôi hi vọng, những đắng cay ấy sẽ không là kết cục của vụ án mà tôi nói bên trên. Bởi, nếu đến như vậy mà người ta vẫn bất chấp, thì còn gì? Xã hội này chẳng còn gì nếu như niềm tin sụp đổ.Bạch Hoàn
Khi Thủ Phạm “Diệt Chủng Báo Chí” Được Khen Thưởng
Dân Luận: Chuyện không có gì phải ầm ĩ :D Ông Trương Minh Tuấn còn là bậc thầy của ông Trương Mạnh Sơn về thành tích "diệt chủng báo chí" cơ!

Trương Mạnh Sơn nhận bằng khen từ Bộ trưởng Trương Minh Tuấn.
Cựu Đại sứ CHXHCNVN tại CH Czech Trương Mạnh Sơn được đích danh Bộ Trưởng TT &TT Trương Minh Tuấn tặng bằng khen và kỷ niệm chương ngày 23/6 tại trụ sở của Bộ biểu dương thành tích: "Vì sự nghiệp thông tin và truyền thông" cho cựu Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại CH Séc Trương Mạnh Sơn, nhiệm kỳ 2013 - 2017.
Sự việc này khiến không ít người Việt hiện đang làm báo và kể cả những người không làm báo phải thốt lên: lâu rồi mới được xem hài kịch. Người thâm trầm hơn thì nói: ngài Bộ Trưởng Trương Minh Tuấn trao vương miện hoa hậu cho… Thị Nở và khen bài thơ dân gian “Con Cóc” là tuyệt phẩm trong kho tàng văn học Việt Nam. Bài viết dưới đây xin được đi vào một vài sự kiện một nét chấm phá về cựu Đại Sứ Trương Mạnh Sơn trong nhiệm kỳ của ông tại CH Czech.
Vốn là người có gốc gác làm công tác Đảng không phải là dân ngoại giao chuyên nghiệp, tư duy giáo điều đã trở thành một tế bào không thế thiếu trong máu của ông. Trước khi sang CH Czech đảm nhiệm vai trò sứ giả, ông đã tuyên bố: tôi sang sẽ “chấn chỉnh” báo chí cho đúng luồng!? Không rõ “luồng” ở đây là luồng nào? Và cũng không rõ, ông có biết báo chí bên này là báo chí tư nhân trong một quốc gia tôn trọng quyền tự do báo chí? Não trạng tuyên giáo từ những thập niên 60 sống dai trong ông, sống ngoan cố trong ông mà ông không ý thức được ông đang tồn tại trong một thế giới phẳng với thông tin đa chiều. Dưới lăng kính “Ếch Nằm Đáy Giếng” nên góc nhìn của ông chỉ bằng cái vung mà không ý thức được trời xanh là vô cùng.
Việc đầu tiên khi ông sang là cắt toàn bộ kinh phí mua báo năm (kể cả tờ chính thống An Ninh Thế Giới). Chắc ông nghĩ cứ đánh vào kinh tế là báo chí Việt Ngữ tại CH Czech sẽ “anh dũng hy sinh”. Sai ngay từ nước cờ đầu bởi lẽ, những người làm báo đâu có cần số tiền còi mua báo năm của Đại Sứ Quán. Hơn thế nữa, ngoài báo giấy chúng tôi còn có báo mạng với lượng truy cập không hề nhỏ. Ông sử dụng đại diện Việt Nam Thông Tấn Xã, Đài Tiếng Nói Việt Nam và một số trang báo “bảo hoàng hơn vua” để tụng ca ông trong một bản hợp xướng mà người điều khiển mù nhạc và các nhạc công sử dụng nhạc cụ quá kém. Việt Nam TTX – Đài Tiếng Nói Việt Nam với một giàn nhân viên tiêu tốn tiền thuế của nhân dân không nắm bắt được những sự kiện của quốc gia sở tại, không hiểu về luật pháp CH Czech…nó giống hệt câu chuyện “Thằng Mù Xem Voi” trong cổ tích.
Không muốn liệt kê “thành tích vì sự nghiệp thông tin & truyền thông” mà Bộ Trưởng phong cho ông. Chỉ muốn nhắc lại việc đối ngoại trên các kênh báo chí do ông chỉ đạo đã “im hơi lặng tiếng” trước sự kiện tác giả Ondrej Kossina đăng trên “Haló Noviny” cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng Sản Czech và Monrava (KSCM). Trong bài viết của mình tác giả hoàn toàn viết theo lập trường của nhà cầm quyền Bắc Kinh biến kẻ cướp thành nạn nhân, và nạn nhân thành kẻ đi xâm lược. Trước một bài báo “nặng tình đồng chí anh em” như vậy. Song ngài Đại Sứ “khả kính” và các “Vệ Tinh Truyền Thông” của ngài bỗng hóa câm và chỉ có các tờ báo giấy, báo mạng “ngoài luồng” lên tiếng phản đối. Có thể hiểu ngài được tặng bằng khen, kỷ niệm chương phải chăng là sự hóa câm này!? Đó là chưa tính tới việc khi ngài về công tác tại Việt Nam đã gọi điện sang yêu cầu các nhân viên dưới quyền mình bẳng mọi giá phải ngăn chặn của biểu tình của cộng đồng người Việt trước Sứ quán Trung Quốc tại Praha ngày 11 tháng 5 năm 2014!? Tất cả những bài “bào chữa” “lên tiếng” của Việt Nam Thông Tấn Xã thường trú ở CH Czech đều “bắn vuốt đuôi” và đi sau phản ứng nhanh nhạy của các trang thông tin trái chiều phi chính thống. Nhưng sau khi cuộc biểu tình thành công với số lượng người tham gia hơn 2 nghìn người, trong cuộc đón tiếp ông Trương Minh Tuấn (lúc đó mới là Thứ Trưởng). Ở cuộc gặp mặt ngài cho chiếu Video Clip cuộc biểu tình với ngầm ý đây là “thành tích” của Sứ quán, mà ngài là người đứng đầu. Tình yêu tổ quốc, căm thù quân xâm lược không phải là cái để kể công, điều thiêng liêng này ẩn trong máu mỗi người Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Cái cách của ông Trương Mạnh Sơn khiến người ta nhớ nhân vật Lý Thông trong chuyện Thạch Sanh. Người có nhân cách, lòng tự trọng không bao giờ hành xử như thế. Hành động đó vừa khả ố, trơ trẽn, trâng tráo, gian manh, gần cống rãnh hơn văn minh không xứng tầm một sứ giả đại diện cho một quốc gia, không xứng đáng hậu duệ của những sứ giả như Giang Văn Minh, Lê Văn Thịnh, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Công Nhuận… để lại tiếng thơm cho hậu thế.
Vẫn chưa hết và cũng không muốn dài dòng, những người quan tâm tới cộng đồng chưa quên âm mưu “đảo chính” mà ngài giật dây đưa kiến nghị lên chính phủ CH Czech để bãi chức Tiến Sĩ Phạm Hữu Uyển đại diện cho dân tộc thiểu số (những người Séc gốc Việt) để đưa người của mình vào. Hành động đó của ngài đã thất bại một cách nhục nhã vì sự thiếu hiểu biết cộng với thái độ can thiệp thô thiển công việc nội bộ của chính quyền sở tại. Cách ứng xử của cựu Đại Sứ Trương Mạnh Sơn phải thẳng thắn mà nói rằng: kém nhất, phản cảm nhất, tệ hại nhất trong các đời Đại Sứ. Và nếu có “Giải Mâm Xôi Vàng” (Golden Raspberry Awards hay Razzies) không thuộc về điện ảnh mà thuộc về ngoại giao thì cựu Đại Sứ Trương Mạnh Sơn xứng đáng với giải thưởng này.
“Thành Tích” vẻ vang như vậy mà ông Nguyễn Duy Nhiên Chủ Tịch Hội Người Việt Nam tại CH Czech còn “bốc thơm” là niềm tự hào cho cộng đồng người Việt!? Không rõ ông Nhiên đã tham khảo ý kiến của hơn 60 ngàn người Việt đang sinh sống tại CH Czech hay chưa? Tôi còn nhớ khi ông trúng cử (một cuộc bầu cử đã biết trước kết quả). Ông xuống bắt tay tôi nói: chúng mình vẫn là bạn nhé.
Một câu nói mà tôi phải kìm không thì nôn ra mất, vì nội hàm của nó là: tôi lên “chức cao” rồi đấy. Nhưng chúng mình vẫn là bạn. Xin lỗi, tôi chỉ quen biết ông thời vợ chồng ông bán quần áo ở Plzen chứ không phải bạn. Những người tôi gọi chữ bạn không có người như ông, hãnh tiến, háo danh, xu nịnh là cái mà tôi khinh bỉ nhất.
Để kết thúc bài viết này, tôi xin trích dẫn câu nói của mấy người bạn: có thể ông Trương Minh Tuấn cùng họ với ông Trương Mạnh Sơn nên mới khen thưởng theo kiểu “mẹ hát con khen”. Tôi thì nghĩ khác: chuyện này để cười cho vui. Có gì đâu mà phải ầm ĩ?Lĩnh Nam /Dân Luận
Đèn xanh đã được bật, giá điện sẽ tăng!
Trước đây, một trong những lý do được Bộ tài chính đưa ra cho việc tăng khung thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu là: Tỷ lệ thuế trên một lít xăng dầu của Việt Nam vẫn kém Hàn Quốc, Campuchia, giá bán cũng thấp hơn Singapore, Hồng Kông, Lào... Và sắp tới giá xăng dầu sẽ tăng, dự kiến là khoảng sẽ tăng thêm 5000 ngàn đồng/lít.
Dù việc tăng giá gặp rất nhiều phản đối từ người dân, doanh nghiệp nhưng trong lúc này nhà nước không có lựa chọn nào hơn để giải bài toán thâm hụt ngân sách. Nói thẳng ra, mục đích tăng giá xăng là nhằm bù đắp ngân sách.
Ngày 21/6 tại buổi làm việc của Tổ công tác của Thủ tướng với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) để kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng giao cho EVN. Đại diện Bộ tài chính ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn – thứ trưởng, cho rằng hiện cơ chế tài chính, cơ chế giá đang đi ngược lại mục tiêu sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia. Bởi giá điện của ta hiện nay khoảng 7,38 cent/kWh, thấp hơn khu vực và các nước G7. Ngoài ra ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công Thương cũng nói: “Quan điểm của tôi là giá có thể cao, tăng có thể lớn nhưng phải rõ ràng vì sao...”

Thứ trưởng Bộ Tài Chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn.
Xin hỏi ông Thứ trưởng Bộ tài chính, giá điện thấp hơn khu vực và các nước G7, vậy ông có biết thu nhập của người dân các nước đó bao nhiêu và của người dân nước ta là bao nhiêu? Tôi chắc rằng với vị trí Thứ trưởng Bộ tài chính ông biết, biết rất rõ. Nhưng ông chỉ nói một nửa sự thật để lập lờ, hòng đánh lạc hướng, nhằm dọn đường dư luận để chuẩn bị cho việc tăng giá điện.
Theo tôi được biết, G7 (viết tắt tiếng Anh Group of Seven) bao gồm các nước, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh và Hoa Kỳ. Thu nhập bình quân đầu người: Mỹ 57,045.56 USD, Canada 45,981.99 USD, Pháp 41,396.01 USD, Đức 46,165.86 USD, Nhật 38,797.39 USD, Ý 35,228.02 USD. Trong khi Việt Nam chỉ có 5,983.24 USD, chưa bằng số lẻ của họ. Còn so với các nước trong khu vực, Việt Nam chỉ hơn mỗi Lào và Campuchia. Nếu là một người có hiểu biết chẳng ai lại so sánh một cách khập khiểng như vậy cả. Trừ khi có lý do khác.
Xét cho cùng, các vị nói vòng vo, chẳng qua mục đích cuối cũng chỉ là nhằm vào túi tiền của người dân. Kiểu làm này như ông tiến sĩ Vũ Đình Ánh ví von “Người ta nói thu thuế cũng như vặt con vịt, vặt càng nhiều lông thì càng tốt, nhưng đừng để nó kêu to nhất, hay chết đi". Nhưng con vịt nó khác con cừu, bởi loài cừu nuôi để lấy lông, chẳng ai nuôi vịt lấy lông bao giờ.
Tiếp đến xin hỏi ông Thứ trưởng Bộ công thương, thế nào là rỏ ràng. Ngành điện đã bao giờ minh bạch rõ rằng các khoảng thu, chi chưa ? Hàng chục ngàn tỷ đồng ngân sách thất thoát có ai chịu trách nhiệm chưa?
Nói về ngành điện, đó là ngành độc quyền của nhà nước, nên nhà nước có tăng giá bao nhiêu thì người dân không có sự lựa chọn. Và họ cũng không có thói quen phản ứng, phản đối. Báo chí, dư luận có ồn ào một thời gian rồi cũng lắng xuống. Chính vì vậy năm nào, họ cũng nhai đi nhai lại điệp khúc “lỗ” và đề xuất tăng giá. Còn nguyên nhân“lỗ” thì EVN và các quan chức cứ ởm ờ, lờ đi không rỏ ràng với dân bao giờ.
Trước kia, EVN đầu tư ngoài ngành như động sản, chứng khoán, lập doanh nghiệp… dẫn đến thua lỗ hàng chục ngàn tỷ đồng. Ngoài ra, các khoản chi phí xây biệt thự, chung cư, đi nước ngoài và thậm chí sân chơi thể thao cũng tính vào giá điện. Thất thoát nhiều tiền đến như vậy lấy gì để bù nếu không tăng giá điện. Nhưng nếu tăng giá quá cao để bù lỗ trong một lần thì sẽ bị người dân phản ứng, cho nên họ chọn cách chia ra nhiều lần tăng. Trong vòng 10 năm hơn 10 lần tăng giá điện: Giá điện năm 2007 chỉ 842 đồng/kWh thì nay đã là hơn 1.600 đồng/kWh. Trong đó, lần tăng mạnh nhất là 15,28% vào ngày 1/3/2011; mức tăng thấp nhất là 5%/lần trong 4 đợt tăng giá từ 20/12/2011-1/8/2013. Lần tăng gần đây nhất là 7,5% từ ngày 16/3/2015. Và đầu năm đến nay nhiều tín hiệu cho thấy, giá điện sẽ tăng.
Đó là chưa kể, lương thưởng ngành điện rất cao. Trung bình khối văn phòng khoảng 30 triệu đồng/tháng. Riêng cấp lãnh đạo thu nhập trên 100 triệu đồng/tháng. Thử hỏi, làm ăn thua lỗ vậy nguồn nào mà chi lương khủng đến như thế?
Trong lịch sử loài người, hiếm thấy một chính quyền nào có cái kiểu làm ăn kinh tế như vậy cả. Không lo tính toán làm ăn sao cho hiệu quả, chỉ luôn nghĩ cách để móc túi người dân. Hết tăng thuế phí, lại tăng giá dịch vụ, phải chăng chỉ có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mới như vậy?
Đèn xanh đã được bật, sắp tới giá điện rồi sẽ tăng, cùng với việc tăng giá xăng dầu, mọi chí phí tăng theo, trong khi đồng tiền mất giá, cuộc sống người dân sẽ khó khăn hơn, bi đát hơn.Định An
Nét u uẩn của linh hồn Nga
Lời Giới Thiệu của người dịch: Bài ký này lấy từ Secondhand Time (Thời đại cũ), cuốn sưu tập các câu chuyện kể miệng thời hậu Nga Sô-viết, do Svetlana Alexievich (giải Nobel Văn học 2015) biên tuyển, nhà Random House xuất bản tháng Năm, 2016. Người kể câu chuyện của chính mình là Olga Karimova, nữ nhạc sĩ bốn mươi bảy tuổi. Bản tiếng Anh, “Trick of the Russian Soul” do Bela Shayevich chuyển ngữ từ tiếng Nga, đã xuất hiện trên Mục Readings, Harper’s Magazine, June 2016, tt. 11-14.
(Theo lời kể của Olga Karimova)
Nếu không vì anh, hẳn tôi chẳng bao giờ kết hôn lần nữa. Lúc đó, tôi đang có mọi thứ: một đứa con, việc làm, tự do… Đột nhiên Gleb xuất hiện… vụng về, mù dở, thở hụt hơi kinh niên. Anh vừa trải qua mười hai năm tù trong các trại lao động khổ sai của Stalin. Họ bắt anh khi anh mới là cậu bé mười sáu tuổi. Cha anh, một quan chức cao cấp của đảng, bị hành quyết, và mẹ anh bị đông cứng tới chết trong một thùng phuy nước lạnh.
Hẳn mọi người đã ngó chúng tôi và hỏi:
“Đó có phải là ông nội của chị không? Hay cha chị?”
Tôi hai mươi tám. Tôi luôn luôn mặc váy ngắn. Về sau, kể từ khi chúng tôi sống chung, anh ngày càng đẹp trai ra. Tôi nghĩ mình biết bí quyết ấy – nó là chiếc cửa chỉ có thể mở bằng tình yêu. Nửa đêm chợt thức, tôi tự hỏi, “Mình đang làm cái gì đây?” Tôi cảm thấy tôi điên rồ. Tại sao anh? Tại sao đặc biệt anh? Đàn bà Nga yêu thích việc tìm thấy những đàn ông bất hạnh này. Bà nội tôi yêu người này nhưng bị cha mẹ gả cho người khác. Bà thật sự không thích người đó, bà chẳng muốn sống với người đó chút nào! Bà quyết định rằng, trong nhà thờ, khi linh mục hỏi bà có đồng ý kết hôn với người đàn ông này không, bà sẽ nói không. Nhưng linh mục đang say rượu, nên thay vì hỏi bà câu lý ra phải hỏi, ông chỉ nói, “Con hãy cư xử tử tế dịu dàng với người này, chân anh ta đã bị đông lạnh trong chiến tranh.” Sau đó, bà chỉ có một chọn lựa là kết hôn với người đàn ông đó. Đó là cách bà nội tôi trải qua cuộc đời còn lại của mình với ông nội tôi, “Hãy cư xử tử tế dịu dàng với người này, chân anh ta đã bị đông lạnh trong chiến tranh.”
Hết thảy đàn ông của chúng tôi là người tử đạo. Tất cả họ đều bị hội chứng, hoặc từ chiến tranh hoặc do nhà tù, hoặc từ cuộc sống trong các trại lao động khổ sai. Chiến tranh và trại tù là hai từ ngữ quan trọng nhất trong tiếng Nga – những từ ngữ thật sự Nga! Đàn bà Nga chưa bao giờ có được người đàn ông bình thường. Đàn bà Nga tiếp tục chữa thương những người đàn ông đó, đối xử với họ như những anh hùng, đồng thời cứu vớt họ như con cái. Cho tới hôm nay, đàn bà Nga vẫn tiếp tục giữ vai trò ấy. Liên bang Sô-viết đã sụp đổ, giờ đây chúng tôi có những nạn nhân của sự sụp đổ một đế chế!
Gleb không ưa bị hỏi. Anh làm ra vẻ bạo dạn, thói quen của người tù đang che giấu mọi sự nghiêm trọng đằng sau những câu nói giỡn. Anh không bao giờ nói tới tiếng “tự do” – mà luôn luôn là “chỗ bên ngoài”. Vào những khoảnh khắc hiếm hoi, anh kể chuyện. Nhưng anh kể chúng một cách linh hoạt, rất háo hức, và tôi chỉ cảm thấy niềm hạnh phúc của anh rút ra từ đó. Giống như khi anh đăt bàn tay mình lên những mảnh lốp xe phế thải rồi cột chúng vào đôi ủng nỉ, và anh rất hạnh phúc có được những mảnh vụn ấy lúc tù nhân bị chuyển trại. Vào một thời điểm khác, họ có nửa ba-lô khoai tây. Và tại nơi nào đó ở bên ngoài, trong khi họ đang lao động, có ai đó cho anh một khoanh thịt to. Đêm ấy trong phòng đun nước nóng, họ nấu xúp, và thật ngon lành, rất tuyệt vời. Khi nhà cầm quyền phóng thích anh, họ đưa anh tiền – bồi thường thiệt hại cho cha anh. Họ bảo anh:
“Chúng tôi nợ anh ngôi nhà và đồ đạc trong nhà.”
Nợ được dứt điểm bằng một số tiền khá nhiều. Anh mua một bộ vét-tông mới, áo sơ-mi mới, đôi giày mới và máy chụp hình. Rồi anh đi tới nhà hàng National ngon nhất Moscow. Ở đó, anh gọi các món ăn đắt tiền nhất trên thực đơn, rượu cô-nhắc, và cà phê với món tráng miệng làm riêng theo ý mình. Sau bữa ăn, khi bụng no nê, anh nhờ người nào đó chụp cho anh một bức ảnh trong khoảnh khắc hạnh phúc nhất cuộc đời. Anh nhớ lại:
“Lúc quay về căn hộ của mình trong chúng cư, anh bắt gặp anh đang nghĩ rằng mình không cảm thấy hạnh phúc chút nào. Trong bộ đồ vét đó, với chiếc máy ảnh đó… tại sao ở đó chẳng có chút hạnh phúc nào? Ngay khoảnh khắc đó, những lốp xe và bữa xúp trong phòng đun nước nóng lại trở về với anh.”
Chúng tôi thường tự hỏi: cái gì làm nên hạnh phúc?
Anh sẽ chẳng buông bỏ những năm tháng của mình trong các trại tù để đổi lấy bất cứ cái gì trên trần đời; anh cũng chẳng thay đổi điều gì về cuộc đời mình. Đó là gia tài bí mật của anh. Anh bị bỏ tù từ khi anh mười sáu tuổi cho tới khi anh gần ba mươi. Tôi hỏi anh:
“Nhưng sẽ ra sao nếu họ chẳng bao giờ bắt anh?”
Anh nói giỡn, để tránh trả lời:
“Hẳn anh sẽ là một gã ngố trong chiếc xe thể thao màu đỏ chót.”
Chỉ tới phút cuối, vào thời điểm tận cùng, khi anh ở trong nhà thương, phải chăng đó mới là lần đầu tiên anh thành thực bày tỏ:
“Nó giống như khi em đi vào rạp hát. Từ chiếc ghế của mình nơi khán giả, em xem một truyện thần tiên tuyệt vời – dàn trang trí tỉ mỉ, diễn viên xuất chúng, ánh sang huyền ảo– nhưng khi em đi vào hậu trường, ngay lúc vừa bước chân qua khỏi cánh gà, em thấy những tấm ván bể, những miếng dẻ, những bức sơn dầu bỏ dở, những chai rượu vodka rỗng, những mẩu thức ăn rơi vãi. Ở đó không có truyện thần tiên; nó tối tăm, nhớp nhúa. Nó giống như chuyện anh bị đem vào hậu trường, em hiểu không?”
Chuyến trở về nhà của anh, anh đi xe lửa giường tầng. Con tàu mất hai tuần lễ xuyên Nga. Suốt thời gian đó, anh nằm đó, ở mặt giường tầng trên, sợ bước xuống. Anh chỉ đi ra ngoài hút thuốc, vào ban đêm. Anh sợ bạn đồng hành sẽ cho mình cái gì đó ăn, và anh sẽ ứa nước mắt kể cho họ nghe mọi sự, rồi họ sẽ khám phá ra anh là người đã về từ các trại lao động khổ sai. Các bà con xa của anh đón anh vào nhà. Họ có một cô con gái trẻ. Anh ôm chào cô, và cô ứa nước mắt. Có cái gì đó về anh… Anh là người quá đỗi cô đơn, ngay cả với tôi.
Anh hãnh diện nói với mọi người:
“Giờ đây tôi có một gia đình.”
Anh yêu chuộng cuộc sống gia đình đều đặn của chúng tôi. Nhưng nỗi sợ – bất kể mọi thứ, nỗi sợ, anh không biết làm thế nào sống mà không có nó. Anh thức giấc giữa đêm, người mướt mồ hôi, sợ rằng mình sẽ không hoàn thành cuốn sách (anh đang viết cuốn sách về cha mình), sợ rằng mình sẽ không kiếm được mối dịch thuật mới (anh là dịch giả kỹ thuật từ tiếng Đức), sợ rằng mình sẽ không có khả năng chu cấp cho gia đình. Giả như tôi đột ngột bỏ anh, điều gì sẽ xảy ra? Trước tiên là sợ hãi, rồi tới hổ thẹn vì sợ hãi. Anh đã sống sót trong các trại tù, nhưng trong đời sống dân sự bình thường, một công an cảnh sát đi vượt qua người anh cũng đủ làm anh lên cơn đau tim.
Tôi cho rằng chúng tôi gặp may. Đó là thời điểm quan trọng: perestroika![1]. Nó làm mọi người hân hoan. Tự do hiện hữu trong không khí chúng tôi thở. Giấc mơ trọng đại nhất của anh nay thành sự thật: chủ nghĩa cộng sản sụp đổ. Đây là thời gian của hy vọng lớn lao. Các nhà đối lập của thập niên Sáu mươi [2] – dân chúng có thể bàn tán bất cứ điều gì họ muốn về những vị đó, nhưng tôi, tôi yêu mến hết thảy các vị. Phải chăng lúc đó chúng tôi quá ngây thơ lãng mạn? Đúng! Anh xem báo suốt cả ngày. Sáng sớm, anh chạy ra sạp của Nhà xuất bản Công đoàn cạnh nhà chúng tôi, cầm theo cái túi lớn dùng đi chợ. Anh lắng nghe đài phát thanh và xem truyền hình không ngừng. Lúc đó, mọi người rất điên khùng. Tự do! Từ ngữ ấy tự nó làm ta say. Tất cả chúng tôi lớn lên trong samizdat [3] và tamizdat [4] Hẳn bạn từng nghe cách chúng tôi trò chuyện! Mọi người thường nói rất nhiều! Trong khi tôi nấu bữa trưa hoặc bữa tối, anh ở bên tôi, đọc báo cho tôi nghe: “Susan Sontag [5]: chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa phát-xít khoác bộ mặt người. Còn cái này nữa… nghe đây…” Đó là cách chúng tôi đọc Berdyayev, Hazek. Chúng tôi đã sống như thế nào trước khi có những cuốn sách và những tờ báo ấy? Nếu chúng tôi đã biết … thì có lẽ mọi sự sẽ khác. Jack London có viết truyện về hiện tượng này. Ai cũng có thể sống gò buộc trong chiếc áo bó, vì ai cũng có thể chịu đựng và quen dần với cái áo bó. Và thậm chí bạn vẫn có thể mơ mộng trong lúc bị bó chặt. Đó là cách chúng tôi đã luôn luôn sống. Vậy giờ đây chúng tôi sẽ sống như thế nào? Tôi không biết, nhưng tôi mường tượng rằng tất cả chúng tôi sắp sửa sống hưng thịnh. Trong thâm tâm, tôi chẳng có chút hoài nghi nào.
Khi tôi biết anh bị ung thư, suốt đêm tôi trằn trọc, đầm đìa nước mắt. Tới sáng, tôi chạy tới nhà thương gặp anh. Anh ngồi trên thành cửa sổ, vàng võ và rất hạnh phúc. Anh luôn luôn hạnh phúc mỗi khi cuộc đời anh thay đổi. Trước tiên nó là các trại tù, kế đến là lưu đày, sau đó là tự do, và rồi như thế này. Cái chết chỉ là một thay đổi khác của tình cảnh.
“Có phải em sợ anh sắp chết?”
“Phải.”
“Vậy thì, trước hết, anh không bao giờ hứa với em rằng anh sẽ bất tử. Kế đó, nó sẽ không sớm như thế đâu!”
“Anh chắc chắn chứ?”
Như thường lệ, tôi tin anh. Tôi liền lau nước mắt và tự thuyết phục mình rằng thời gian sẽ cứu giúp anh lần nữa. Từ đó trở đi tôi không khóc… cho tới tận giờ cuối, tôi không khóc… Tôi đến khu bệnh xá mỗi buổi sáng. Đó là thời điểm tái tạo cuộc sống thường lệ của chúng tôi. Chúng tôi đã thường sống ở nhà, và giờ đây, chúng tôi sống trong nhà thương. Chúng tôi trải qua sáu tháng nữa bên nhau trong khu bệnh ấy.
Anh không còn đọc nhiều. Anh thường xuyên kể chuyện cho tôi nghe hơn. Anh biết kẻ trước kia tố giác anh. Cậu thiếu niên đó từng sống trong nhóm học tập tại Trụ sở Thanh niên Tiền phong. Hoặc người ta đã buộc anh làm, hoặc chính Gleb đã tự ý làm – anh đã viết một bức thư phê phán Stalin và biện hộ cho cha anh, một kẻ thù của nhân dân. Khi thẩm vấn, người hỏi cung đưa cho anh thấy bức thư đó.
Suốt đời mình, Gleb sợ rằng kẻ tố giác anh phát hiện ra anh đã biết. Khi có người nói với anh rằng người tố giác anh về sau có đứa con bị thương tật, anh lại đâm lo: phải chăng đó là quả báo? Thậm chí trong một khoảng thời gian ngắn, người tố giác anh và chúng tôi cùng sống trong một khu phố. Đôi bên thường chạm mặt nhau trên đường phố, trong cửa hàng. Chúng tôi cất tiếng chào nhau. Sau khi Gleb qua đời, tôi kể chuyện đó cho một người bạn chung của cả hai, cô ấy không tin nổi:
“N. sao? Chẳng thể nào! Cậu ấy luôn luôn ca ngợi Gleb.”
Tôi liền nhận ra rằng lý ra mình chẳng nên nói gì cả. Lý do hết sức đơn giản: biết những việc ấy thì nguy hiểm. Các cựu tù chung trại chỉ thỉnh thoảng mới ghé lại; anh không đi tìm họ. Mỗi khi họ tới, tôi thường cảm thấy lạc lõng, như thể họ đến từ một nơi mà tôi không hiện hữu. Họ biết nhiều về anh hơn tôi biết. Tôi thấy anh đã có một kiếp sống khác; nó cũng làm tôi nhận ra rằng phụ nữ có thể kể lại những trải nghiệm nhục nhã của mình, còn đàn ông thì không. Phụ nữ dễ dàng biểu lộ những đau thương vì ở một nơi nào đó sâu thẳm trong lòng họ, họ đã được chuẩn bị để chịu đựng bạo lực – thí dụ như chuyện giao cấu. Mỗi tháng phụ nữ bắt đầu một chu kỳ mới. Những chu kỳ ấy… thiên nhiên luôn phù trợ nàng. Phần lớn những phụ nữ từng là tù nhân trong các trại lao động khổ sai đều độc thân. Tôi ít gặp những cặp vợ chồng mà cả hai đều từng ở tù. Những bí mật của trại tù không gắn bó mà chia cách. Các bạn đồng trại của anh gọi tôi là “bé con.”
Đối với anh, việc sắp chết chẳng mới mẻ gì. Anh không sợ cái chết nhỏ nhen này. Các đại bàng hình sự trong trại thường lấy cướp bánh mì của tù nhân, rồi đánh bài thua hết; tù nhân bị buộc phải ăn nhựa đường trộn với đá dăm. Vô số người chết theo cách đó vì dạ dày của họ bị trét cứng. Còn anh, những lúc ấy ngừng ăn, chỉ uống.
Từ ngưỡng cửa, tôi ngoái nhìn anh; anh vẫy tay chào. Khi tôi quay lại mấy giờ sau, anh hoàn toàn chẳng biết gì nữa. Có vẻ anh đang năn nỉ ai, “Rán đi. Rán nữa đi.” Nhưng cuối cùng anh ngưng bặt, và chỉ nằm đó. Thêm ba ngày nữa, tôi cũng quen dần tình cảnh đó. Anh ở đó, nằm đó, và tôi ở đây, sống đây. Người ta mang vào cho tôi một cái giường, kê kế bên anh. Tiêm thuốc cho anh qua đường tĩnh mạch là việc rất khó; máu anh đang vón cục. Tôi phải cho phép bác sĩ ngưng chữa trị. Rồi anh và tôi bị bỏ lại một mình. Không còn máy móc, không còn bác sĩ, không còn ai tới xem xét chúng tôi nữa. Tôi nằm xuống bên anh. Trời lạnh. Tôi chui vào chăn anh, thiếp ngủ. Khi thức giấc, trong chốc lát tôi nghĩ chúng tôi đang ngủ ở nhà… Tôi sợ không dám mở mắt. Khi mắt mở ra, tôi nhớ chính xác mình đang ở đâu. Tôi bắt đầu lo về anh. Tôi ngồi dậy, đặt bàn tay lên mặt anh. “À, à…” anh nghe ra tôi. Cơn hấp hối bắt đầu, và tôi ngồi ở đó. Giữ bàn tay anh, tôi lắng nghe tiếng đập cuối cùng của trái tim anh. Sau đó, tôi ngồi với anh như vậy trong một thời gian. Rồi tôi gọi y tá, và cô ấy giúp tôi thay áo cho anh. Ánh sáng xanh nhạt, màu xanh anh ưa thích. Tôi hỏi cô:
“Tôi có thể ở đây không?”
“Dĩ nhiên được. Cứ ở lại. Chị không sợ sao?”
Ở đó có gì mà sợ. Tôi biết anh giống như người mẹ biết đứa con của mình. Tới sáng, anh tuyệt đẹp… Nỗi sợ trút thoát khuôn mặt anh, cơn căng thẳng biến mất, mọi điên cuồng của cuộc đời đã tiêu tan. Và tôi bắt đầu để ý tới những đường nét phong nhã và thanh lịch của anh – gương mặt của một hoàng tử! Đó chính mới là anh thật sự! Anh thật sự là như vậy!Svetlana Alexievich Nguyễn Ước chuyển ngữ Dịch giả gửi tới Dân Luận
________________________________
Chú thích của người dịch:
[1] perestroika: Tái cấu trúc; cải cách; đổi mới, một phong trào chính trị ở Nga Sô-viết từ thập niên 1980 tới 1991, dưới thời Mikhail Gorbachev. Nó song hành với glanost (cởi mở; công khai).
[2] the Sixties dissidents: Các nhà phản kháng thời băng rã ở Nga Sô-viết trong thập niên 1960, thế kỷ 20. Họ gồm trí thức, văn nghệ sĩ, họa sĩ….
[3] samizdat: Văn bản của người phản kháng, tự xuất bản và bí mật lưu hành trong nước thời Nga Sô-viết.
[4] tamizdat: Văn học và tài liệu cấm, chỉ trích chính quyền, được lén mang ra khỏi nước và lưu hành trên diễn đàn quốc tế.
[5] Susan Sontag (1933–2004), người Mỹ, nhà văn, nhà phê bình, đạo diễn phim, giáo sư và nhà hoạt động chính trị.
Nguồn: Bài Trick of the Russian Soul, Mục Readings, Harper’s Magazine, June 2016, tt. 11-14.

No comments:

Post a Comment