Wednesday, June 28, 2017

Bài viết hay(5113)

Một anh từ trong nước qua Mỹ thăm con du học ở Cali đã nói thẳng với tui: TQ đái cũng ngập VN, khỏi cần đánh đấm gì ráo trọi. VN mới có vài chiếc Kilo thì làm gì có khả năng chọi được TQ mà mấy ông cứ đòi VC phải đánh TQ? Sau bao năm đánh nhau, bây giờ VC hổng muốn cầm súng đánh giặc nữa mà chỉ thích cầm tiền đốt chơi; đứa nào ngu mà đi ngược lại lợi ích của CSVN là chết chắc. Có ngon thì các anh về nước mà lật đổ VC đi chứ đứng ở Bolsa mà dóc mỏ hoài, hèn lăm. Tui nghe mà nín như ...nín địt! Thiệt tình mà nói là tui cũng bế tắc, chưa có lời giải. Chờ Trump ư? Khi nào tập đoàn Trump không còn muốn làm ăn ở TQ nữa thì may ra... 30/4/75 nhắc tui phải nhớ bài học khi đồng minh bỏ chạy!

Vận mệnh, an nguy của VN qua một số thông tin xác thực

Việc Trung Quốc đã triển khai khoảng 40 tàu và máy bay vận tải Y-8 đến khu vực khai thác dầu của Việt Nam tại Bãi Tư Chính, sau khi Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc - Thượng tướng Phạm Trường Long - đã cắt ngắn chuyến thăm Việt Nam từ ngày 18 đến 19/6/2017 và bất ngờ rời Hà Nội vào chiều tối ngày 18/6 mà không công bố nguyên nhân được rộ lên. Trên một số trang mạng, facebooker trong đó có cả facebooker rất nổi tiếng có cho rằng sự kiện này có liên quan đến mỏ khí Cá Voi Xanh mà Việt Nam chuẩn bị khai thác là không chuẩn xác. Xin gửi đến những bạn đọc quan tâm đến vận mệnh, an nguy của đất nước một số thông tin xác thực để hiểu rõ hơn.
clip_image002
Bản đồ phân lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên Biển Đông.

1. Từ mỏ khí Cá Voi Xanh

Mỏ khí Cá Voi Xanh (Blue Whale) thuộc lô 118 nằm cách bờ biển miền Trung khoảng 100 km về phía Ðông, thuộc vùng biển Ðà Nẵng, Quảng Ngãi và Quảng Nam nhưng lại sát cái vạch “lưỡi bò” tức đường 9 đoạn mà Trung Quốc ngang ngược lập ra để tuyên bố chủ quyền Biển Ðông. Tháng 5/2011, Exxon Mobil (Hoa Kỳ) đã khoan ba giếng tại lô 118, hai giếng tìm thấy khí. Ðây là mỏ khí được coi là lớn nhất Việt Nam thời điểm hiện tại ước có trữ lượng thu hồi tại chỗ khoảng 150 tỉ mét khối. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã lên tiếng đe dọa Việt Nam cũng như các công ty dầu khí quốc tế tham gia dò tìm, khai thác dầu khí tại vùng biển Việt Nam vì dính “lưỡi bò” nên các hoạt động của Exxon Mobil đã khựng lại.
Ngày 12/07/2016, Tòa Trọng tài Quốc tế ở The Hague (Hà Lan) tuyên bố bác bỏ yêu sách đường “lưỡi bò” ngang ngược phi lý của Bắc Kinh do bị Philippines kiện. Tranh thủ “thiên thời, địa lợi” đó nên Việt Nam đã kiên quyết tiến hành: Ngày 26/3/2017 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Exxon Mobil (Mỹ) và tỉnh Quảng Nam đã ký kết thỏa thuận hợp tác đầu tư dự án mỏ khí Cá Voi Xanh. Đây là một dự án điện khí lớn nhất Việt Nam có vốn đầu tư xấp xỉ 10 tỉ USD. Theo kế hoạch thỏa thuận giữa các đối tác, Tập đoàn Exxon Mobil sẽ đầu tư 1 giàn đầu giếng để xử lý tách nước ngoài khơi; 2 cụm khai thác ngầm, mỗi cụm có 4 giếng khai thác và một đường ống dài khoảng 88 km nối vào bờ biển Chu Lai. Trên bờ, PVN sẽ đầu tư một nhà máy xử lý khí; một nhà máy điện 2 tổ máy, công suất mỗi tổ máy khoảng 600-700 MW. Cả hai nhà máy xử lý khí và điện trên sẽ đặt tại Khu kinh tế mở Chu Lai (thuộc xã Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam). Các nhà máy trên dự kiến vận hành vào năm 2023.
Mỏ khí Cá Voi Xanh nằm gần với bán đảo Sơn Trà, nơi mà Trung đoàn Radar 351 (Vùng 3 Hải quân) đặt radar giám sát bờ biển - Coast Watcher 100 - tối tân nhất thế giới hiện nay. Nó có thể phát hiện các tàu thuyền di chuyển ngoài giới hạn đường chân trời với khả năng giám sát bờ biển liên tục 24 giờ/ngày liên tục trong 365 ngày mà không cần bảo trì. Mọi biến động của một khu vực rộng lớn từ đảo Hải Nam (Trung Quốc) đến quần đảo Hoàng Sa và một phần Trường Sa đều hoàn toàn xác định chính xác được vị trí từng con tàu một với độ tin cậy cao hơn cả vệ tinh. Mặt khác Cá Voi Xanh là vị trí rất gần đất liền và chỉ cách đảo Lý Sơn gần 20 hải lý, tất cả đều nằm trong tầm hỏa lực của pháo bờ biển và tên lửa của Việt Nam nên Trung Quốc chỉ dám đánh võ mồm mà chưa dám “ho he” hành động gì trên thực địa cả.

2. Đến Lô 136/03 khu vực Bãi Tư Chính

Sau khi xâm chiếm được các thực thể ở Trường Sa của Việt Nam năm 1988, Trung Quốc cho rằng họ có “chủ quyền lịch sử” ở đây vì nó nằm gần rìa tây nam của đường chín đoạn mà Trung Quốc tự thể hiện trên Biển Đông. Đến năm 1992, Trung Quốc đã ra giấy phép cho phép thăm dò dầu khí ở lô mà chúng gọi là Vạn An nằm trong một khu vực được quốc tế gọi là Vanguard Bank (tức là Bãi Tư Chính) thuộc Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc tranh giành tài nguyên ở một vùng biển cách bờ biển của họ xa như vậy. Dù nó nằm cách bờ biển Trung Quốc hơn 650 hải lý (khoảng 1200 km) và chỉ cách Việt Nam 200 hải lý. Khi tàu Trung Quốc tìm cách khảo sát khu vực hồi năm 1994, Việt Nam đã đưa tàu hải quân ra ngăn chặn. Rồi khi Việt Nam đưa giàn khoan ra nơi này, đến lượt Trung Quốc tìm cách ngăn trở. Cả hai bên đều chưa khai thác gì được ở đây.
Hồi năm 1996, công ty Benton Oil and Gas, tiền thân của Harvest Natural Resources của Mỹ, đã mua lại quyền thăm dò lô “Vạn An” với giá 15 triệu USD. Harvest không bao giờ có thể triển khai khai thác lô này. Do thuộc chủ quyền của mình nên Việt Nam cũng đặt mục tiêu thăm dò khai thác của lô này và trao quyền cho công ty Talisman của Canada và ExxonMobil của Hoa Kỳ. Trung Quốc xem đây là hành động “xâm phạm chủ quyền của chúng”. Vì vậy 5/2011 Trung Quốc đã cho một đội tàu cá ra ngăn trở và cắt cáp một tàu thăm dò địa chất của Talisman đang hoạt động trong khu vực. Tuy nhiên, Talisman - ExxonMobi vẫn tiếp tục hoạt động bất chấp bị quấy nhiễu và hiện đang khoan ở một lô mà Việt Nam gọi là 136/03.
Tháng 7/2014 Brightoil, một công ty niêm yết tại Hồng Kông có nhiều quan hệ với giới lãnh dạo chính trị cao cấp ở lục địa, mua quyền khai thác đối 2,5 triệu hecta đáy biển từ công ty Harvest Natural Resources với giá chỉ 3 triệu USD. Tuy nhiên, kể từ khi Brightoil được trao quyền thăm dò ở đây, Bắc Kinh đã gây hấn trở lại. Hồi cuối tháng 10/2014, tàu Hải Dương 4 của Trung Quốc được bốn tàu khác hộ tống đã thám sát địa chất ở lô này trong vòng hai tuần lễ. Lãnh đạo Việt Nam dường như đã quyết định không đối đầu với Trung Quốc để hàn gắn những đổ vỡ trong quan hệ song phương do sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 gây ra.
Sau nhiều năm trời được phía Việt Nam cùng chung sức và bảo vệ, Talisman - Exxon Mobil vẫn kiên trì khảo sát địa hình, khoan thăm dò dầu khí và cuối cùng đã phát hiện có dầu ở phía nam Lô 136/03 thuộc khu vực Tư Chính - Vũng Mây. Trữ lượng dầu hoàn toàn có đủ để khai thác thương mại. Chính vì vậy mà Trung Quốc tức tối yêu cầu Việt Nam ngừng các hoạt động khai thác dầu tại lô 136/03. Đó cũng chính là một trong những nhiệm vụ nặng nề mà Phạm phải gánh vác trong chuyến công du sang thăm Việt Nam.
Lô 136/03 hoàn toàn nằm trong Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là chuyện đương nhiên, rồi mất bao nhiêu năm đầu tư tiền của công sức hơn nữa lại có lợi ích Mỹ đứng sau mà nay đã tìm thấy dầu trong lúc nền kinh tế khó khăn, ngân sách ngày càng thâm thủng thì không bao giờ Việt Nam chấp nhận ngừng các hoạt động khai thác cả. Cho dù kể cả đó là tối hậu thư của Trung Quốc đi chăng nữa. Đây cũnh chính là nguồn cơn khiến Trung Quốc đã triển khai khoảng 40 tàu và máy bay vận tải Y-8 đến khu vực khai thác của Việt Nam để quấy phá và cản trở gây nên xung đột hiện nay.
Vùng đặc quyền kinh tế của người khác mà Trung Quốc tự sang đi bán lại nhiều lần nay lại đòi đuổi chủ của nó đi nơi khác thì kể cũng lạ trên đời. Nếu ai mà chấp nhận điều đó thì có lẽ là kẻ điên.
clip_image004
Tên lửa đất đối hải Shaddock, đây là loại tên lửa mà Liên Xô (trước đây) chỉ bán riêng cho Việt Nam, nó là một loại tên lửa chống hạm khá mạnh và có sức công phá lớn và có khả năng chống tàu chiến hạng nặng kể cả tàu sân bay. Hiện nay Việt Nam đã tự mình sản xuất được loại tên lửa này chiều dài tên lửa 11,7 m; nặng 4,8 tấn; đường kính 880 mm; sải cánh dài 2,6 m; tốc độ gấp 2,5 tốc độ âm thanh; tầm bắn xa nhất là 550 km. Shaddock là tổ hợp tên lửa chống hạm có tầm bắn xa nhất Đông Nam Á hiện nay và cũng là loại duy nhất của Hải quân Việt Nam có thể vươn tới Trường Sa.
clip_image006
Bản đồ hoạt động và thăm dò khai thác dầu khí của các Công ty dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên Biển Đông.
Hoàng Tuấn Minh(blog Tễu)

Nhà nước kiến tạo phát triển có thực sự phù hợp với Việt Nam?

…điều phù hợp hơn với Việt Nam là tiến hành tự do hóa nền kinh tế, tiến tới một nền kinh tế thị trường tự do. Song song với đó là tự do hóa chính trị…
Gần đây ở Việt Nam nói nhiều đến mô hình nhà nước kiến tạo phát triển, coi đó là lựa chọn hợp lý cho sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện tại. Trong bài viết này chúng tôi muốn đưa ra một số đánh giá riêng về mô hình này, xem nó có phù hợp với Việt Nam hay không.
Trong lịch sử, xét về mức độ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để thúc đẩy phát triển, thì có ba mức độ sau: không can thiệp, can thiệp hoàn toàn, và can thiệp một cách có giới hạn.
- Phần lớn các nước phương Tây theo đuổi chính sách không can thiệp vào nền kinh tế mà để cho nó vận hành theo các nguyên tắc của thị trường tự do. Nhà nước chỉ đi củng cố các nguyên tắc này, như bảo vệ quyền tư hữu, tự do kinh doanh, chống độc quyền.

- Trong khi đó, các quốc gia theo chế độ cộng sản lại lựa chọn các can thiệp hoàn toàn vào nền kinh tế, hay nói đúng hơn là loại bỏ thị trường, để cho nhà nước kiểm soát toàn bộ nền kinh tế từ kế hoạch, sản xuất, đến phân phối.
- Ngoài ra, có một số quốc gia công nghiệp mới NICs, áp dụng cách tiếp cận trung gian, tức cho phép nhà nước can thiệp một cách có chủ đích vào thị trường, tập trung nguồn lực cho một số ngành phát triển mũi nhọn để tạo ra lợi thế trên thị trường thế giới, qua đó thúc đẩy phát triển nhanh chóng. Và các nhà nước theo đuổi chính sách như vậy được gọi là nhà nước kiến tạo phát triển.
Có thể nói rằng ngày nay, sau sự thất bại của Liên Xô và các nước Đông Âu, thì ngày nay không ai còn tin vào mô hình kế hoạch hóa tập trung nữa.
Mô hình thị trường tự do chắc chắn mang lại sự phát triển như chúng ta thấy ở các nước phương Tây, tuy nhiên nó thường không đạt được sự phát triển cao như từng xảy ra ở các nước công nghiệp mới NICs. Đó là bởi vì nhà nước của họ chiu áp lực từ công chúng (họ là các nền dân chủ), do đó không thể thực thi các chính sách lớn, và dài hạn. Nói điều này không có nghĩa rằng, dân chủ không tốt cho phát triển. Dân chủ tốt cho phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển này còn phải đi cùng với các giá trị khác như bảo vệ các quyền và tự do của người dân. Một điều chắc chắn là các nước dân chủ, thị trường tự do có sự phát triển bền vững, và không trải qua các thảm họa kinh tế như từng xảy ra ở các mô hình khác, bởi đơn giản là họ luôn chịu sự giám sát của người dân, họ theo đuổi các chính sách vừa phải, được điều chỉnh liên tục, và dựa trên các nền tảng chắc chắn như quyền tư hữu, tự do kinh doanh.
Tuy nhiên, trước sự thành công kinh ngạc của các nước công nghiệp mới NICs, với vai trò quan trọng của nhà nước trong việc can thiệp vào thị trường, khiến cho nhiều quốc gia đang phát triển xem xét lựa chọn mô hình này thay vì mô hình thị trường tự do, và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thành công của các nhà nước kiến tạo phát triển, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đó là sự tự trị của nhà nước trong việc làm chính sách, và thực thi chính sách. Khi nhà nước không chịu áp lực từ công chúng, họ có thể theo đuổi các chính sách dài hạn có lợi cho phát triển, và nếu các chính sách này đúng đắn, việc thực thi chính sách tốt, thì chắc chắn sẽ dẫn đến thành công. Điều này giải thích tại sao sự thành công của mô hình nhà nước kiến tạo phát triển chỉ tập trung vào các nước Đông Bắc Á với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, và gần đây là Trung Quốc. Bởi đây là khu vực có truyền thống nhà nước mạnh, tự trị. Tuy nhiên, vai trò này của nhà nước chỉ có ý nghĩa khi quốc gia đang phát triển ở tầm thấp, phát triển theo kiểu bắt trước. Khi quốc gia phát triển cao hơn, dựa trên sự sáng tạo, thì nó đòi hỏi một môi trường tự do và đảm bảo hơn. Và lúc đó không còn con đường nào khác là phải trở lại với mô hình thị trường tự do, nhà nước rút lui khỏi thị trường, chỉ đóng vai trò bảo vệ các nguyên tắc của thị trường như tư hữu, tự do kinh doanh. Đây là điều đã xảy ra với Hàn Quốc, Đài Loan, và Nhật Bản trong giai đoạn phát triển sau đó.
Rõ ràng rằng, Việt Nam không thuộc về khu vực Đông Nam Á, mà thuộc về khu vực Đông Bắc Á, với các giá trị văn hóa tương đồng. Và tương tự như vậy, Việt Nam cũng có một nhà nước mạnh. Do đó, rất dễ hiểu vì sao nhiều người lại ủng hộ Việt Nam theo đuổi mô hình nhà nước kiến tạo, nhằm theo đuổi mục tiêu phát triển nhanh chóng đất nước. Tuy nhiên, có một số thực tế này cần phải nhìn nhận.
- Thứ nhất, không phải đến nay Việt Nam mới sử dụng mô hình nhà nước kiến tạo. Từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã bắt trước mô hình kinh tế của các nước Đông Bắc Á, như của Hàn Quốc, Trung Quốc. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong việc dẫn dắt, mà xương sống là các tập đoàn kinh tế, các quả đám thép đã thất bại ở Việt Nam. Việt Nam đã không thể tạo ra các Chaebol như Daewoo, Hyundai, Samsung của Hàn Quốc, mà đã tạo ra các Vinashin, Vinashinlines.
- Thứ hai, từ sự thất bại của các tập đoàn kinh tế nhà nước, từ việc không đóng góp gì của nó cho sự phát triển, cho thấy rằng, sự phát triển của Việt Nam trong mấy chục năm qua đến từ kinh tế tư nhân, từ sự tự do hóa nền kinh tế quốc gia.
- Thứ ba, để theo đuổi mô hình nhà nước kiến tạo phát triển, đòi hỏi nhà nước phải có năng lực làm chính sách, và sự tự trị rất lớn. Sự tự trị này không phải chỉ trước đòi hỏi của người dân, mà còn từ các phe nhóm lợi ích. Thứ nhất, rõ ràng rằng năng lực làm chính sách và thực thi chính sách của Việt Nam là có vấn đề, bởi trong khi Trung Quốc, Hàn Quốc có thể thành công với các mô hình tương tự, còn ta thì không. Thứ hai, nhà nước Việt Nam có sự tự trị rất lớn trước dân chúng, tuy nhiên điều này không đúng với các nhóm lợi ích. Việc các nhóm lợi ích chi phối vào chính sách dường như đang nổi lên là vấn đề quan trọng nhất trong nền chính trị quốc gia. Việt Nam có một nhà nước mạnh nhưng không hiệu quả, và ngày càng trở thành một nhà nước thân hữu, tham nhũng. Với một nhà nước như vậy, việc trao cho một quyền lực và sự tự trị quá lớn sẽ chỉ dẫn đến thảm họa kinh tế, như đã xảy ra.
Từ những thực tế trên, ta thấy rằng Việt Nam không nên theo đuổi cái gọi là nhà nước kiến tạo phát triển. Việc ủng hộ điều này chỉ tạo ra tính chính danh cho nhà nước trong việc can thiệp vào nền kinh tế và xã hội, ngăn chặn quá trình tự do hóa đang diễn ra. Điều phù hợp hơn với Việt Nam là tiến hành tự do hóa nền kinh tế, tiến tới một nền kinh tế thị trường tự do. Song song với đó là tự do hóa chính trị, tiến tới thiết lập các nền tảng cho sự phát triển bền vững như quyền tư hữu, cũng như các cơ chế kiểm soát quyền lực để ngăn chặn làm quyền, qua đó ngăn chặn tham nhũng, quản lý yếu kém. Tốt nhất, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hãy để cho xã hội được tự do phát triển.Nguyên Minh
Tác giả gửi tới Dân Luận

Xấu như... nợ xấu

Kỳ vọng việc xử lý nợ xấu sẽ giúp thu lại số tiền đúng như giá trị sổ sách, thì cũng giống như chuyện cổ tích cục chì đổi kim cương.
clip_image002
Cũng đã khá lâu rồi, kể từ khi Công ty Quản lý Tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) ra đời, những nhận định về viễn cảnh nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam mới dõng dạc và tự tin đến vậy. Hơn 600.000 tỉ đồng nợ xấu bỗng dưng được coi như một nguồn lực còn đang bị bỏ phí. Nếu chúng được xử lý trong 5 năm, như người ta từng đặt kỳ vọng vào VAMC, mỗi năm sẽ có 120.000 tỉ đồng đưa vào lưu thông. Tưởng như, người ta đã tìm ra cây đũa thần, phủi sạch những vết nhơ xấu xí của nợ xấu, trả nó về với giá trị ban đầu. Có điều, bài toán kinh tế không đơn giản như vậy.

Nợ xấu đang ở đâu?

Lạc quan là điều rất cần thiết với bất cứ chủ thể kinh tế nào, để họ có thể bình tĩnh đối diện và xử lý một cách sáng suốt vấn đề đang gặp phải. Thế nhưng, nếu chỉ nhìn vấn đề dưới lớp sương mù hồng nhạt, sự lạc quan nói trên có thể dẫn tới những hệ lụy khôn lường. Có lẽ, đó là lý do khiến cho những chuyên gia kinh tế như PGS.TS. Lê Cao Đoàn, Viện Kinh tế Việt Nam, chưa bao giờ hết lo ngại về thực trạng nợ xấu Việt Nam, ngay từ khi VAMC được ra đời với biết bao kỳ vọng.
Câu hỏi đầu tiên mà vị chuyên gia đặt ngược lại với NCĐT khi trao đổi về vấn đề này là: “Nợ xấu là gì?”. Rồi ông tự trả lời, đó là nợ không thanh toán được, hay nói cách khác, tín dụng nhàn rỗi và tín dụng đầu tư đã được sử dụng không hiệu quả, ngoài việc không sinh ra được lợi nhuận để trả lợi tức cho người gửi tiền và người đầu tư còn gây ra tình trạng mất một phần hoặc toàn bộ số vốn ban đầu. Nói cách khác, nguồn lực tín dụng, dòng máu của doanh nghiệp đã được phân bổ sai địa chỉ. Đối với một nền kinh tế lành mạnh, cây gậy thị trường và cây gậy chính sách sẽ ngay lập tức điều chỉnh lại để dòng tiền đi đúng hướng. Nếu sự lệch lạc kéo dài nhiều năm mà nợ xấu vẫn tiếp tục phát sinh, đó là biểu hiện của một nền kinh tế không bình thường.
Vậy vấn đề của Việt Nam phải được hiểu như thế nào? Theo nhận định của ông Lê Cao Đoàn, trong nhiều năm qua, doanh nghiệp có rất nhiều nợ xấu vẫn hiên ngang tồn tại. Sự phi lý được đẩy tới cao điểm khi Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) vẫn đề nghị cho phép lùi cổ phần hóa Đạm Ninh Bình cho đến khi dự án lỗ cả ngàn tỉ đồng và thậm chí đã phải ngừng sản xuất... có lãi.
“Doanh nghiệp có nợ xấu vẫn được cứu chữa để tiếp tục tồn tại và tiêu tiền, nghĩa là tiếp tục sản sinh ra thêm các khoản nợ xấu hơn. Họ trở thành những lực lượng chiếm dụng nguồn lực quốc gia. Đây là hệ quả của nền kinh tế có hai bộ phận, thị trường và phi thị trường, trong đó ưu thế rất tiếc lại nằm về khu vực phi thị trường’’, vị chuyên gia nói.
clip_image004
Nhận định của vị chuyên gia giúp làm sáng tỏ hơn câu hỏi “Bộ phận kinh tế nào là nguyên nhân gây ra nợ xấu?”. Trả lời tại cuộc họp báo chính thức ngày 17.5.2017, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông khẳng định, nợ xấu nằm ở khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa rất thấp. Gần 1 tháng sau, khi phát biểu trước Quốc hội trong phiên thảo luận về Dự thảo Nghị quyết Xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng lại nói trong số tổng nợ xấu nội bảng và nợ xấu bán cho VAMC thì nợ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm khoảng gần 64%; nợ của các doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 6,3% tổng dư nợ.
Những nhận định dường như không hoàn toàn thống nhất nói trên vẫn chứng tỏ sự thật, doanh nghiệp gây ra nợ xấu là những doanh nghiệp tư nhân lớn và doanh nghiệp nhà nước. Khi sự giàu lên nhanh chóng của nhiều doanh nghiệp dựa chủ yếu vào việc khai thác những lợi thế về đất đai, tài nguyên... với đầy những nghi ngờ về lợi ích nhóm, doanh nghiệp thân hữu, nhận định của vị chuyên gia là rất đáng suy ngẫm.
Vị chuyên gia nhấn mạnh thêm: ‘‘Không có ngân hàng nào cho những doanh nghiệp vay để làm ăn thua lỗ cả. Thực trạng đang diễn ra khiến người ta buộc phải nghi ngờ có cả chuyện móc nối, thỏa hiệp, khiến những khoản nợ xấu phát sinh thêm và ngày càng xấu hơn’’.

Cục chì đổi viên kim cương

Một vấn đề cũng cần được làm rõ là kỳ vọng thu 600.000 tỉ đồng từ việc xử lý nợ xấu. Con số này thể hiện giá trị trên sổ sách cả các khoản nợ xấu, cho nên, rất dễ hiểu, khi bán theo giá thị trường, giá trị chắc chắn sẽ giảm đi. Đó là chưa kể những khoản nợ do VAMC nắm giữ mà chưa xử lý được lên tới hơn 300.000 tỉ đồng và một lượng không nhỏ trong đó là nợ thuộc nhóm 5, khó có khả năng thu hồi. Dù có tái hiện câu chuyện cổ tích cục chì đổi viên kim cương thì cũng khó có khả năng việc xử lý nợ xấu sẽ giúp thu lại số tiền đúng như giá trị sổ sách.
Từ những phân tích trên, ông Lê Cao Đoàn cho rằng, Việt Nam phải suy nghĩ rất kỹ về cách thức vận hành của dòng tín dụng. Gói nợ xấu lại để thoát được nợ và để doanh nghiệp yên tâm kinh doanh hay đưa ra những biện pháp kỹ thuật để xử lý các thứ tài sản liên quan tới nợ xấu sẽ không thể chặn được vòng xoáy nguy hiểm của nợ xấu. Việc đầu tiên cần làm, theo vị chuyên gia, là phải xử lý kiên quyết và dứt điểm những tồn tại ở các doanh nghiệp nhà nước. Cuộc tái cấu trúc nền kinh tế phải tạo ra một nền kinh tế thị trường lành mạnh thật sự và chúng ta cũng không còn nhiều thời gian để chần chừ.
Thêm nữa, theo thông tin về kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2017 từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 5, tăng trưởng tín dụng đạt 6,53%, cao hơn cùng kỳ các năm trước (năm 2016 đạt 5%, năm 2015 đạt 4%). Đây được coi là điều bất thường trong bối cảnh ảm đạm của kinh tế Việt Nam, khi tính trung bình trong quý I/2017, 10 doanh nghiệp thành lập thì có tới 9 doanh nghiệp phá sản. Tại diễn đàn Quốc hội, vấn đề đẩy tín dụng để đạt mục tiêu tăng trưởng đã được đặt ra và bàn luận, nghĩa là nguy cơ dòng tiền không đổ vào đúng địa chỉ cần phải được tính đến.
Quan trọng hơn, nếu tín dụng tăng trưởng nóng mà không đổ vào sản xuất sẽ khiến doanh nghiệp đã khó càng khó hơn vì sẽ phải vay với lãi suất rất cao. Không thể để doanh nghiệp phải lựa chọn vay lãi suất cao để tồn tại hay chết, như điều đã từng xảy ra trong cuộc chạy đua lãi suất huy động những năm 2010-2012. Nhiều chuyên gia cho rằng, thời điểm trên là dấu mốc cho chuỗi phá sản hàng loạt của doanh nghiệp Việt. Kịch bản này nhất thiết không được lặp lại.
Phải nhắc lại thông tin tại diễn đàn Quốc hội, một vị đại biểu đến từ một ngân hàng lớn đã thông báo, trong số nợ xấu khổng lồ nói trên, số tiền của ngân hàng thực chất chỉ có 10%, 90% còn lại là tiền của dân. Quả thật, xử lý nợ xấu không chỉ là để bảo vệ cho hoạt động tín dụng mà bảo vệ cho chính người dân. Và nếu không làm được, hậu quả là gì ai cũng có thể hình dung.Hoàng Hạnh
Nhịp Cầu Đầu Tư

Đồng Tâm, hệ quả một biện pháp phi pháp lý


clip_image002
Công an lạy tạ dân làng Đồng Tâm sau khi được phóng thích ngày 22 tháng Tư. (REUTERS/Kham)

Như mọi người đã biết, vào khoảng trung tuần tháng 4-2017, khoảng 6000 người dân thuộc xã Đồng Tâm, Huyên Mỹ Đức thuộc ngoại thành Hà Nội, đã bắt giữ khoảng một trung đội cảnh sát cơ động đến cưỡng chế giải tỏa dất đai của họ, để cho tập đoàn viễn thông quân đội (Viettel) sử dụng làm ăn kinh tế.
Sau gần một tuần những nhân viên công lực thi hành lệnh cưỡng chế mới được nhân dân thả ra, khi Phó Bí thư kiêm Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội là Nguyễn Đức Chung, ngày 22-4-2017 đích thân đến Xã Đồng Tâm điều đình và ký vào giấy cam kết gồm hai điểm chính: (1) Trong 45 ngày sẽ xem xét và giải quyết việc sử dụng đất đai cho quân đội, an ninh quốc phòng theo đúng pháp luật; (2) và “không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với nhân dân xã Đồng Tâm”, với sự chứng kiến của luật sư và các đại biểu quốc hội.
Thế nhưng, nay theo báo chí trong nước hôm 13/6 đưa tin rằng cơ quan cảnh sát điều tra (Công an Hà Nội) đã khởi tố vụ án hình sự liên quan việc bắt giữ 38 người thi hành công vụ tại thôn Hoành (xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức) để điều tra về tội ‘bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật’ (theo điều 123 Bộ luật Hình sự) và ‘Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (theo điều 143 Bộ luật Hình sự)”. Quyết định bất ngờ này, khiến người dân xã ngoại thành Hà Nội “phẫn nộ” và thu hút sự quan tâm của công luận trong và ngoài Việt Nam.
Theo nhận định của chúng tôi, thì đây là hệ quả tất nhiên của một biện pháp phi pháp lý được thực hiện bởi một viên chức đứng đầu chính quyền địa phương không có thẩm quyền tư pháp (công tố quyền) là ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội. Đúng ra khi điều đình với tập thể nhân dân xã Đồng Tâm, Ông Chung chỉ có thẩm quyền giải quyết nguyên nhân đưa đến việc người dân bắt giữ người thi hành công vụ là cam kết (1) “Trong 45 ngày sẽ xem xét và giải quyết việc sử dụng đất đai cho quân đội, an ninh quốc phòng theo đúng pháp luật”; nhưng không được quyền cam kết (2) là “Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với nhân dân xã Đồng Tâm”, vì khởi tố hay không là thẩm quyền của cơ quan tư pháp (là công an Hà Nội trong hiện vụ). Do đó đứng về mặt tư pháp cam kết (2) của ông Nguyễn Đức Chung là vô hiệu, đưa đến hệ quả dây chuyền sau đây về mặt thực tế.
1- Hệ quả một là nếu đã đem lại hiệu quả nhất thời giúp nhà cầm quyền địa phương giải cứu được con tin và giải tỏa được một tình huống bạo động có thể lan rộng bằng biện pháp thương lượng chứ không trấn áp bằng sức mạnh của công an quân đội; nhưng lại đưa đến hậu quả tai hại về mặt tôn trọng pháp luật nhà nước, tạo ra một tiền lệ đưa đến việc nhân dân sau này có thể bắt giữ người thi hành công vụ mỗi khi cần con tin để buộc nhà cầm quyền phải quan tâm giải quyết các yêu sách của mình.
2- Hệ quả hai, do từ hậu quả tai hại trong hệ quả 1, cơ quan tư pháp có thẩm quyền công tố (là công an Hà Nội trong hiện vụ) không thể làm ngơ trước một hành vi phạm pháp tập thể (bắt giữ người thi hành công vụ…) nên đã phải “khởi tố vụ án hình sự” dựa trên các Điều 123 và 143 Bộ luật Hình sự hiện hành.
3- Hệ quả ba, do từ việc “khởi tố vụ án hình sự” trong hệ quả 2 đã đưa đến hậu quả làm mất uy tín của chính quyền, bị coi là “lừa bịp nhân dân” để thoát hiểm, đã vi phạm lời cam kết của người đứng đầu chính quyền địa phương là Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung.
4- Từ ba hệ quả trên đã dẫn đến hệ quả thứ tư là sự mâu thuẫn gây mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và nhà cầm quyền CSVM về cách thức và biện pháp giải quyết các mâu thuẫn giữa nhân dân nói chung và các tập thể nhân dân cá biệt nói riêng.
Thực ra, cả bốn hệ quả trên đã không phải chỉ xảy ra lần đầu ở xã Đồng Tâm, mà trong quá khứ đã từng xảy ra ở một số nơi khác… Nhà cầm quyền cũng đã từng giải quyết theo sách “mềm nắn, rắn buông” để thoát hiểm, bằng bất cứ biện pháp nào, với bất cứ thủ đoạn gian trá nào theo phương châm “cứu cánh biện minh cho hành động”. Nghĩa là tạm “lùi một bước” để sau đó “tiến hai bước”.
Đây cũng là những hệ quả tất nhiên của chủ trương, đường lối, chính sách cai trị của chế độ độc tài toàn trị cộng sản tại Việt Nam bao lâu nay.Vì trong chế độ này, Đảng CSVN cầm quyền không dựa vào uy tín mà dựa vào các công cụ chuyên chính là công an quân đội để trấn áp, cai trị dân. Vì vậy, Đảng và nhà cầm quyền CSVN không sợ mất uy tín (vì có uy tín đâu mà sợ mất). Do đó, Đảng và nhà cầm quyền CSVN đã không ngần ngại sử dụng mọi thủ đoạn gian trá, lừa lọc, tàn ác trong mọi tình huống đối với người dân bị trị, vì biết rằng thân phận người dân như cá nằm trên thớt, cuối cùng cũng chẳng làm gì được trước bạo quyền.
Mặt khác, nhà cầm quyền trong chế độ độc tài toàn trị CSVN bao lâu nay không cai trị bằng pháp luật mà cai trị bằng nghị quyết hay nghị luật của một đảng độc quyền thống trị. “Đảng là pháp luật, pháp luật là Đảng ta”! Đồng thời nguyên tắc phân quyền tam lập ở các nước dân chủ vẫn chưa được Đảng và nhà cầm quyền CSVN chấp nhận. Vì vậy, không chỉ trong vụ việc Đồng Tâm, người đứng đầu nhà cầm quyền Hà Nội đã có hành động vượt quyền là “Cam kết không khởi tố nhân dân xã Đồng Tâm”, để rồi nay chính ông an Hà Nội dưới quyền ông lại “lật lọng” ra lệnh “Khởi tố thành vụ án hình sự đối với nhân dân Đồng Tâm”. Trước đây nhiều vụ việc đã xảy ra và sau này, các vụ việc tương tự sẽ tiếp tục xảy ra, ngày nào Việt Nam còn tồn tại chế độ độc tài toàn trị cộng sản, với những hệ quả như vừa phân tích trình bày.
Chúng tôi xin mượn lời nói của cố Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu để gửi đến nhân dân trong nước thay lời kết, là “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” để cảnh giác và luôn luôn cảnh giác để không bị lừa bịp mà thiệt hại đến nhân thân.Thiện Ý

Những hiểm họa Trung Quốc tại Việt Nam đã được ngăn chặn như thế nào?

LTS.

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn của mình đối với những người đã đồng hành với tôi suốt bao năm qua. Ngoài ra, tôi cũng muốn qua đây để truyền đi một thông điệp rằng, công cuộc cứu nước nhà khỏi âm mưu thôn tính của Trung Quốc không bao giờ là vô vọng, và đó là trách nhiệm chung của mọi người dân VN, cả trong lẫn ngoài hệ thống hiện hành.

CSVN sớm muộn gì cũng sụp đổ, nhưng nếu đất nước rơi vào tay Trung Quốc thì sẽ rất lâu, hoặc thậm chí là không bao giờ chúng ta có thể giành lại được đất nước, vì thế việc chống lại bè lũ Hán tặc cướp nước, Việt gian bán nước và ngăn chặn những hiểm hoạ “made in China” tại VN là điều hết sức cấp bách và cần thiết.

- Lê Anh Hùng

Xưa nay, nhiều dự án không hợp lòng dân bị công chúng phản đối mạnh mẽ nhưng rốt cuộc chúng vẫn cứ được triển khai như thể không có chuyện gì xẩy ra với nhà cầm quyền Việt Nam. Vì thế có lẽ ít ai tin một “nhà báo lề dân” lẻ loi như tôi lại có thể góp phần khiến 8 dự án liên quan đến Trung Quốc bị dừng lại - tất cả đều nhờ những bài báo được đăng tải trên VOA. Dưới đây là danh sách cụ thể các dự án đó.
1) Ngày 11/02/2014, VOA đăng bài “Báo động: Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Quảng Trị”. Bài báo đưa tin, Cty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam (một công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi hàng đầu Việt Nam, trước đây thuộc C.P. Group của Thái Lan, nhưng đã bị Trung Quốc thâu tóm từ năm 2011) sắp được giao hơn 96ha đất, kéo dài hơn 2km dọc theo bờ biển, gần cảng Cửa Việt, để thực hiện dự án sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Tại thời điểm đó, chủ đầu tư gần như đã thoả thuận xong việc đền bù với chính quyền địa phương và người dân có đất thuộc diện thu hồi. Sau khi bài báo được đăng, người dân địa phương biết là có mấy đoàn từ Hà Nội về tìm hiểu và cuối cùng dự án đã bị huỷ. (Ngày 1/3/2014, trang nguyentandung.org đăng bài “Trung Quốc đang có âm mưu gì ở Quảng Trị?”, trong đó họ sử dụng cả thông tin lẫn 2 bức ảnh từ bài báo của tôi trên VOA mà không ghi nguồn).
2) Ngày 20/04/2015, VOA đăng bài “Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hiểm hoạ mất nước”. Bài báo cho biết, trong 4 dự án nhà máy nhiệt điện tại Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân thì có đến 3 dự án rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Đặc biệt, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 lại do 2 Cty Trung Quốc làm chủ đầu tư; còn nhà máy lớn nhất là Nhiệt điện Vĩnh Tân 3 thì do Cty Cổ phần Năng lượng Vĩnh Tân 3 làm chủ đầu tư, mà Cty này gồm 3 cổ đông, trong đó cổ đông lớn nhất, chiếm 49% cổ phần, là Cty OneEnergy Ventures Ltd. của Trung Quốc.
Đầu tháng 6/2015, gần hai tháng sau khi bài báo được đăng, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã giao EVN thay chủ đầu tư dự án Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 3. (Mặc dù vậy, ngày 18/7/2015, nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1, với hai doanh nghiệp Trung Quốc nắm đến 95% cổ phần, vẫn được khởi công, mở đường cho đội quân phương bắc cắm chốt lâu dài tại khu vực xung yếu này).
3) Ngày 07/09/2015, VOA đăng bài “Khu nghỉ dưỡng Bãi Chuối - Hải Vân: mưu đồ thâm độc của Trung Quốc?”. Theo bài báo, ngay từ năm 2009 tỉnh Thừa Thiên - Huế đã cấp 100ha đất ở khu vực Bãi Chuối cho Cty TNHH MTV Bãi Chuối để xây dựng khu nghỉ dưỡng. Bãi Chuối thuộc khu vực đèo Hải Vân, một khu vực đặc biệt trọng yếu về an ninh quốc phòng. Tổng giám đốc Cty TNHH MTV Bãi Chuối là người Hoa.
4) Ngày 08/10/2015, VOA đăng bài “Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Lăng Cô - Thừa Thiên Huế?”. Bài báo cho biết, ngoài 100ha đất trên đèo Hải Vân, Công ty TNHH MTV Bãi Chuối còn được giao 200ha để thực hiện dự án khu nghỉ dưỡng ở Lăng Cô. Khu vực dự án nằm ngay cạnh bờ biển, cách đường quốc phòng chạy quanh núi Hòn Dòn (nơi có kho vũ khí của Bộ Quốc phòng) khoảng 1km, cách Cảng Chân Mây chừng 4km, cách đèo Phú Gia trên QL 1A hơn 1 km, và cách đèo Hải Vân khoảng 7km.
Điều đáng nói là Cattigara One Ltd., công ty mẹ của Cty TNHH MTV Bãi Chuối, là một công ty ma do Bắc Kinh lập ra ở Singapore rồi lấy pháp nhân Singapore để dễ dàng được giao đất dự án ở những khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng.
Sau khi hai báo báo trên được đăng, cả hai dự án của “nhà đầu tư” Cattigara One Ltd. đều bị tạm dừng.
5) Ngày 09/12/2015, VOA đăng bài “Hiểm hoạ Trung Quốc ở Bình Định”. Theo bài báo, ngoài ba doanh nghiệp Trung Quốc tại Khu Kinh tế Nhơn Hội, hiểm hoạ “made in China” ở đây còn tiềm ẩn trong một đại dự án dầu khí sắp triển khai. Ngày 2/12/2014, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải quyết định bổ sung Dự án Tổ hợp Lọc hóa dầu Nhơn Hội (Victory) vào Quy hoạch phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến 2015 và định hướng đến 2025. Đây là dự án do Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT) làm chủ đầu tư, vốn đầu tư giai đoạn 1 lên tới 22 tỷ USD. Theo kế hoạch, dự án được khởi công vào quý I năm 2017 và vận hành quý I năm 2021.
Pailin Chuchottaworn - Chủ tịch kiêm CEO PTT - là một người Thái gốc Hoa, trong khi các tỷ phú người Hoa ở Thái Lan thường liên hệ mật thiết với Bắc Kinh. Đại dự án nằm trên diện tích hàng ngàn ha này hoàn toàn có thể trở thành một Formosa Hà Tĩnh thứ 2 ở địa bàn chiến lược Nam Trung Bộ, bởi việc sang nhượng cổ phần vừa không thể cấm đoán, vừa khó kiểm soát, trong khi PTT chỉ thu xếp được 5/22 tỷ USD tổng vốn đầu tư. Ngoài ra, dự án còn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải - “cha đẻ” của hàng loạt hiểm hoạ Trung Quốc như Formosa Hà Tĩnh, Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân hay 264 ngàn ha rừng đầu nguồn, v.v. - bất chấp những quan ngại của giới chuyên gia về tình trạng “bội thực” các nhà máy lọc dầu cũng như nguy cơ ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế thấp của chúng.
Đến cuối tháng 7/2016, UBND tỉnh Bình Định đã quyết định loại bỏ dự án.
6) Ngày 5/4 và 11/4/2016, VOA đăng bài “Chuyện chỉ có ở VN: Dự án nhiệt điện hàng tỷ USD được giao cho một công ty chuyên doanh… mực in!!!” và bài “Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Trung tâm Nhiệt điện Sông Hậu?” Hai bài báo đã vạch trần “nhóm lợi ích Tàu” trong bộ máy đã phù phép để giao một dự án nhiệt điện lên tới 3,5 tỷ USD tại một vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng cho một công ty chuyên kinh doanh mực in của Malaysia.
Ngày 20/4/2016, trang quochoi.org và trang nguyentandung.org đã đăng hai bài (i) Những khuất tất đằng sau dự án Nhiệt điện Sông Hậu 2 (Kỳ 1), và (ii) Bóng ma Trung Quốc trong dự án Nhiệt điện Sông Hậu 2 (Kỳ 2). Cả hai bài này đều bê gần như nguyên xi 2 bài trên VOA của tôi.
Ngày 10/5/2016, tức một tháng sau khi VOA đăng 2 bài điều tra nói trên và được nhiều trang mạng khác đăng lại, Dân Trí đăng bài “Một doanh nghiệp mực in được làm nhà máy điện 2000 MW?“. Bài viết đã lấy một số thông tin từ hai bài trên của tôi. Kể từ đấy, cái tên TOYO INK cùng dự án nhiệt điện Sông Hậu 2 hoàn toàn biến mất trên truyền thông. Dự án coi như đã bị khai tử.
7) Ngày 29/05/2016, VOA đăng bài “Báo động: Người Trung Quốc đã lập căn cứ sát nách Cửa Việt - Quảng Trị”. Bài báo cho biết Trung Quốc lại đang lập một căn cứ khác sát nách cảng Cửa Việt thông qua thủ đoạn núp bóng người Việt để thâu tóm một doanh nghiệp thuỷ sản ở địa phương - đó là Chi nhánh Quảng Trị của Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế tại thôn Phú Hội, xã Triệu An, huyện Triệu Phong.
Sau khi bài báo đăng, hoạt động xây dựng của doanh nghiệp Trung Quốc trá hình kia đã bị dừng lại.
Ngày 18/4/2017, tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đồng ý với kiến nghị của tỉnh Kiên Giang về việc thu hồi chủ trương đầu tư dự án nhiệt điện Kiên Lương.
(Nếu có thể kể thêm thì ngày 21/09/2016, VOA còn đăng bài “Hiểm hoạ Trung Quốc trọng dự án thép Cà Ná”. Dự án sau đó đã bị tạm dừng vào tháng 4/2017. Kết quả này là nỗ lực chung của cả cộng đồng; tôi chỉ là người phân tích những hiểm hoạ về mặt an ninh quốc phòng tiềm ẩn trong dự án).
Tất nhiên, những gì trên đây không phải là toàn bộ âm mưu của Trung Quốc ở Việt Nam. Nhiều âm mưu của họ khi tôi phát hiện ra thì dự án vỏ bọc của nó hoặc đang được thực hiện hoặc thậm chí đã hoàn thành và đi vào hoạt động.
Đó là (i) dự án khu du lịch nghỉ dưỡng và sòng bài rộng đến 30ha trên bãi biển Sơn Trà - Điện Ngọc và ngay trước mặt sân bay quân sự Nước Mặn của Silver Shores, một công ty ma của do Trung Quốc lập ra ở Hồng Kông và mở chi nhánh ma ở Mỹ rồi lấy pháp nhân Mỹ để đầu tư vào Đà Nẵng - bài “Ai đã ‘rước’ một công ty TQ trá hình vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng?” (sau khi bài báo được đăng, chính quyền Đà Nẵng cùng truyền thông nhà nước mới vào cuộc và phát hiện ra người Trung Quốc đã thâu tóm hàng trăm lô đất xung quanh hòng biến khu vực này thành một “China Town”); (ii) ba dự án của Trung Quốc tại Khu Kinh tế Nhơn Hội trong bài “Hiểm hoạ Trung Quốc ở Bình Định”; (iii) dự án Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 2 trong bài “Báo động: Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải sắp trở thành căn cứ của Trung Quốc”; (iv) dự án Nhà máy Giấy Lee&Man Việt Nam trong bài “Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam: một Formosa Hà Tĩnh mới ở đồng bằng sông Cửu Long?”; (v) dự án toà nhà Capital Garden tại 102 Trường Chinh, Hà Nội trong bài “Thêm một âm mưu hiểm độc của tình báo Hoa Nam ở Hà Nội?”; (vi) dự án khu nghỉ dưỡng và sòng bài Hồ Tràm Strip trong bài “Hồ Tràm Strip: hiểm họa Trung Quốc trong một đại dự án mờ ám” (đây là một dự án vô cùng tinh vi, quỷ quyệt - Bắc Kinh đã lập một công ty ma ở Canada rồi lấy pháp nhân Canada để cùng một nhà đầu tư mạo hiểm của Mỹ đầu từ vào Hồ Tràm, một vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng tại Bà Rịa - Vũng Tàu, theo kiểu “hồn Trung Hoa, da Mỹ-Canada”); (vii) dự án xây dựng bến số 3 cảng Chân Mây ở Thừa Thiên - Huế trong bài “Hải cảng chiến lược Chân Mây sắp rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc?”.
Dĩ nhiên, các ông chủ Trung Nam Hải còn nhiều âm mưu tinh vi quỷ quyệt trên dải đất hình chữ S nữa mà chúng ta chưa phát hiện ra, còn bản thân tôi thì không phải lúc nào cũng có điều kiện tiếp cận hiện trường các dự án.
Việc một số trang mạng nhà nước trá hình sử dụng bài của tôi rồi đăng dưới tên “bạn đọc” là bằng chứng cho thấy trong bộ máy có những tiếng nói “đồng thanh tương ứng” với tôi. Và đó chính là những tiếng nói đã góp phần ngăn chặn những hiểm hoạ “made in Zhongnanhai” sau khi VOA đăng tải các bài viết mang tính cảnh báo kia.
Dù vậy, những gì họ làm được vẫn còn xa mới tương xứng với trách nhiệm của họ hay đòi hỏi của nhân dân. Vì quyền lợi cá nhân ích kỷ của họ mà những hiểm hoạ như Formosa Hà Tĩnh vẫn tiếp tục lơ lửng trên đầu dân tộc, đe doạ sự tồn vong của giống nòi, cho dù “tác giả” của nó cùng hàng loạt hiểm hoạ Trung Quốc khác đã bị tôi vạch trần trong một vụ tố cáo công khai và đúng pháp luật hơn 9 năm qua nhưng đến nay vẫn chưa được nhà chức trách giải quyết đúng pháp luật.Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo

No comments:

Post a Comment