Thursday, June 29, 2017

Bài viết hay(5118)

Nhìn tấm ảnh chụp mẹ và 2 con của Mẹ Nấm cầm tấm bảng kêu gọi trả tự do cho mẹ Nấm, bạn có xúc động không? Nếu không thì tui xin lỗi phải nói thẳng: Bạn mắc bệnh vô cảm rồi đó. Đất nước ta ngày càng khốn nạn hơn, dân tộc ta ngày càng hèn hơn bởi vì ngày càng có nhiều người vô cảm hơn. Chúng ta sống ích kỷ lâu nay nên ...quen rồi, mặc kệ nó, ai chết mặc bây miễn sao tao sống phây phây là OK. Chỉ khi nào mình rơi vào hoàn cảnh khốn nạn như mẹ Nấm thì mình sẽ thấy sự vô cảm là tàn nhẫn, phũ phàng, độc ác. CSVN vỗ tay cười khoái trá khi chúng nó thấy cả dân tộc này hèn nhát, vô cảm, cúi đầu lòn trôn và đi bằng 2 đầu gối. Hãy đứng dậy làm người đi, những ai còn nghĩ mình là người Việt Nam. Đừng để đến khi thằng Tàu ngồi lên đầu mình thì ..too late! Mẹ Nấm ở tù vì lên tiếng thay cho chúng ta đó.

Việt Nam nên trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho nhà hoạt động nhân quyền Mẹ Nấm

Nhà cầm quyền Việt Nam nên ngay lập tức trả tự do vô điều kiện cho nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một blogger dưới bút danh Mẹ Nấm, Ân xá Quốc tế (Amnesty International) và Người Bảo vệ Quyền Dân sự kêu gọi. Cô là một tù nhân lương tâm, đang bị giam giữ và bị xét xử chỉ vì những hoạt động ôn hoà của mình nhằm quảng bá và bảo vệ nhân quyền.
clip_image002
Mẹ và hai con cô Quỳnh. (Hình: Internet)

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh ​​sẽ bị đưa ra xét xử bởi Toà án Nhân dân tỉnh Khánh Hòa trong phiên sơ thẩm dự kiến vào ngày 29/6/2017 với cáo buộc “tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 của Bộ luật Hình sự của Việt Nam và phải đối mặt với án tù từ ba đến 20 năm nếu bị kết án. Phiên xét xử của cô được tiến hành khi tình hình nhân quyền ở Việt Nam đang xấu đi, với số vụ bắt giữ gia tăng, hạn chế tự do đi lại, đe doạ và bạo lực chống lại các nhà bảo vệ nhân quyền và các nhà hoạt động chính trị, cũng như đàn áp quyền tự do ngôn luận nói chung.
Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đồng sáng lập Mạng lưới Blogger Việt Nam độc lập vào tháng 12/2013. Cô là một người mẹ có hai con, nhiều lần bị quấy nhiễu, bắt giữ và thẩm vấn về các hoạt động ôn hòa của cô, và đã bị ngăn cản không được xuất cảnh. Cô đã hoạt động nhân quyền và đấu tranh đòi công lý trong hơn 10 năm và là một blogger nổi tiếng. Các vấn đề mà cô viết nhằm yêu cầu Chính phủ minh bạch và giải trình về vi phạm nhân quyền, bảo vệ môi trường và thúc đẩy các quyền quy định trong Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người (UDHR). Năm 2015, Người Bảo vệ Quyền Dân sự đã trao giải thưởng Người Bảo vệ Quyền Dân sự cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Năm 2017, cô được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh vắng mặt như một trong 13 người Phụ nữ Can đảm Quốc tế.
Sau khi bị bắt vào ngày 10/10/2016, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị biệt giam cho đến ngày 20/6/2017, khi cô được gặp luật sư của mình lần đầu tiên. Cô vẫn chưa được phép gặp các thành viên trong gia đình. Việc giam giữ trong trại giam có thể tạo điều kiện cho việc tra tấn và đối xử tàn nhẫn hoặc trừng phạt, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác. Ngoài ra, quyền liên lạc kịp thời với luật sư và chuẩn bị biện hộ là một phần thiết yếu của quyền được xét xử công bằng.
Bắt giữ: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị bắt vào lúc 10 giờ sáng ngày 10/10/2016 tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Cô đã bị bắt giữ bởi lực lượng an ninh trong khi đi cùng với một nhà hoạt động đã tìm cách đòi quyền được thăm con trai cô trong một nhà tù địa phương. Lực lượng an ninh đã còng tay cô và đưa cô đến nhà của cô, nơi họ lục soát và theo thông tin của các phương tiện truyền thông do Nhà nước kiểm soát, cảnh sát đã tịch thu nhiều khẩu hiệu phản đối vụ gây ô nhiễm môi trường của Formosa, một doanh nghiệp đã xả chất thải độc hại ra biển, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi hải sản và sinh kế của người dân ở nhiều tỉnh miền trung của Việt Nam. Sau khi lục soát kết thúc, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị đưa đi và từ đó bị giam giữ.
Cáo buộc: Các cơ quan truyền thông do nhà nước kiểm soát cho biết vào tháng 10/2016 rằng Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị bắt vì các hoạt động trên Facebook và các phương tiện truyền thông xã hội khác, bao gồm viết, post và chia sẻ bài viết và nội dung video phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước. Các báo cáo cũng đặc biệt trích dẫn một tài liệu mà cô đã chia sẻ trên Facebook với 31 người đã chết trong khi bị giữ và bị thẩm vấn trong đồn công an. Cảnh sát nói rằng tài liệu này “gây phương hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội”.
Hành vi phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước nằm trong Chương XI của Bộ luật Hình sự năm 1999 của Việt Nam, trong đó có nhiều điều khoản rộng và không rõ ràng về cáo buộc “xâm phạm an ninh quốc gia”. Tuy nhiên, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị bắt và buộc tội chỉ vì đã thực hiện một cách ôn hòa quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm của mình, như quy định tại Điều 19 của UDHR và Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là một quốc gia thành viên.
Điều 19 của ICCPR cho phép hạn chế một số hạn chế về tự do biểu đạt vì những lý do cụ thể bao gồm cả bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, tuy nhiên việc hạn chế cẩn phải cân xứng với mục đích hợp pháp và theo luật định.
Các hoạt động của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh không thuộc hạn chế quyền tự do ngôn luận quy định tại Điều 19, cũng không phải là các hoạt động thuộc cáo buộc cần thiết hoặc tương xứng với mục tiêu bảo vệ an ninh quốc gia. Ủy ban Nhân quyền, cơ quan chuyên trách giám sát việc thực hiện ICCPR, đã nêu trong Bình luận chung về Điều 19 (số 34) rằng những hạn chế như vậy không được viện dẫn để hạn chế vận động nhân quyền (đoạn 23) hoặc Ngăn chặn các nhà bảo vệ nhân quyền phổ biến thông tin về lợi ích công cộng hợp pháp (khoản 30).
Ngày 14/10/2016, Zeid Ra’ad Al Hussein, Cao ủy Nhân quyền LHQ kêu gọi Chính phủ Việt Nam “tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo luật nhân quyền, xóa bỏ những cáo buộc này chống lại cô Quỳnh và trả tự do ngay cho cô”. Ông lưu ý rằng Điều 88 của Bộ luật Hình sự Việt Nam “quá rộng và không xác định được” và “có thể kết tội bất kỳ công dân Việt Nam nào khi họ bày tỏ ý kiến, để thảo luận hoặc để chất vấn Chính phủ về các chính sách của Chính phủ”.
Giam giữ và quyền tiếp cận luật sư: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị tạm giam kể từ khi bị bắt vào ngày 10/10/2016 và không được tiếp cận với luật sư cho đến ngày 20/6/2017. Điều 9 của ICCPR quy định rằng việc giam giữ trước xử án không phải là một quy tắc chung cho những người đang chờ xét xử và rằng bất cứ ai bị bắt giữ hoặc giam giữ về cáo buộc hình sự đều phải được đưa ra trước khi xét xử trong một khoảng thời gian hợp lý hoặc được giải phóng. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã không có cơ hội để thách thức tính hợp pháp của việc bị giam giữ tại tòa, theo yêu cầu của Điều 9, và không có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị bào chữa cho mình (chỉ được tiếp xúc với luật sư ít hơn 10 ngày trước phiên xử).
Theo một ý kiến ​​được thông qua vào ngày 25/4/2017, Nhóm Công tác về Bắt giữ Độc đoán kết luận rằng việc giam giữ Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trái với một số điều khoản của UDHR và ICCPR (liên quan đến việc bắt giam độc đoán, tự do ngôn luận và xét xử công bằng) và do đó là độc đoán. Nhóm Công tác cho rằng biện pháp khắc phục phù hợp là giải phóng ngay Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và trao cho cô quyền yêu cầu bồi thường theo luật pháp quốc tế.
Quyền được xét xử công bằng: Như đã nêu ở trên, quyền của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đối với việc xét xử công bằng đã bị vi phạm bởi thời gian giam giữ lâu dài và không được tiếp cận với luật sư trong thời gian đủ dài để chuẩn bị đầy đủ biện pháp biện hộ của cô ấy. Ngoài ra, cô bị truy tố về tội vi phạm quyền tự do ngôn luận và không phù hợp với luật và tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền.
Chúng tôi kêu gọi các nhà chức trách Việt Nam trả tự do cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh ngay lập tức và vô điều kiện. Ngoài ra, cô cần được cung cấp quyền được biện hộ cho vụ bắt giữ và giam cầm bất hợp pháp của cô ta.
Chúng tôi kêu gọi Chính phủ Việt Nam sửa đổi phần an ninh quốc gia của Bộ luật Hình sự để đưa nó phù hợp với luật và tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền. Cuối cùng, chúng tôi kêu gọi Chính phủ kiềm chế không hình sự hóa cho tội phạm và khởi tố người dân vì đã thực hiện quyền tự do ngôn luận một cách ôn hòa và tôn trọng và bảo vệ quyền được xét xử công bằng.
Bối cảnh Việt Nam: Ân xá Quốc tế đã ghi lại thông tin về ít nhất 90 người đang bị tước quyền tự do mà tổ chức này coi là tù nhân lương tâm, bao gồm các blogger, người hoạt động công đoàn và quyền đất đai, nhà hoạt động chính trị, người hoạt động về quyền tự do tôn giáo và quyền người dân tộc thiểu sốvà những người hoạt động nhân quyền và công bằng xã hội. Họ bị kết án trong những phiên tòa xét xử không công bằng hoặc bị tạm giữ trước khi xét xử, chỉ vì thực hiện quyền con người một cách ôn hoà. Điều kiện nhà tù trong Việt Nam rất khắc nghiệt, thiếu lương thực và chăm sóc sức khoẻ kém không tuân thủ các yêu cầu tối thiểu quy định trong các Quy tắc Tối thiểu của Liên hợp quốc về Đối xử với Tù nhân (các quy tắc của Nelson Mandela) và các tiêu chuẩn quốc tế khác. Các tù nhân lương tâm đã bị giam riêng biệt như là một hình phạt trong một thời gian dài và đã bị đối xử tàn bạo, bao gồm đánh đập bởi các tù nhân khác mà cai ngục không can thiệp.
Bản PDF: https://www.amnesty.org/download/Documents/ASA4166162017ENGLISH.pdf(Bản dịch của Vũ Quốc Ngữ)

Việt Nam khiêu khích quốc tế về nhân quyền

Sau khi Ngân hàng Quốc tế và Quỹ Tiền tệ Quốc tế ngừng cho Việt Nam vay lãi suất ưu đãi, thúc hối Việt Nam phải trả các khoản nợ đúng hạn. Nhà cầm quyền Việt Nam lập tức có những hành động trấn áp nhân quyền, một cách cố tình gây chú ý của quốc tế.

Ví dụ như vụ gần đây nhất là tước quốc tịch Việt Nam của giáo sư Phạm Minh Hoàng và trục xuất ông khỏi Việt Nam ngay khi Chủ tịch nước ký lệnh tước quốc tịch. Đây là một vụ việc trắng trợn, vô nhân đạo mà nhà cầm quyền Việt Nam làm một cách có chủ ý rõ ràng.
Chúng ta đều thấy rằng giáo sư Phạm Minh Hoàng từ khi ra tù đã mấy năm, ông về nước sinh sống từ năm 2000. Gần 20 năm sống ở quê hương, cuộc sống và gia đình ông đã gắn bó tại quê nhà. Giá như nhà cầm quyền tước quốc tịch ông lúc xử tù mấy năm trước lại đi một lẽ. Đằng này đợi đến mấy năm sau, tưởng mọi thứ yên bình thì họ ra quyết định tước quốc tịch Việt Nam của ông. Ngay sau đó họ nhanh chóng dùng vũ lực bắt cóc ông và tống ông lên máy bay. Một chuỗi hành động phi nhân tính, phi luật pháp được họ công khai thực hiện là nhằm ý đồ cho quốc tế thấy họ, như thể nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẵn sàng học theo Bắc Hàn ăn vạ quốc tế.
Liên tiếp chưa đầy nửa năm, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt hàng loạt những người hoạt động ôn hoà, trong đó có những phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ. Một sự chưa từng có trong lịch sử cộng sản Việt Nam, lẽ ra phải dấu việc bắt giữ thì một trang dư luận viên của chính phủ là trang vietnamthoibao.org còn thống kê số người bị bắt do bất đồng chính kiến.
Tất cả nói lên một điều, cộng sản Việt Nam đang bế tắc trong quan hệ với phương Tây và đang làm mình mẩy để gây chú ý. Không có gì đổi chác, nhà cầm quyền buộc dư luận quốc tế áp lực lên những nguyên thủ quốc gia của họ, để khi gặp gỡ tiếp xúc, những nguyên thủ quốc gia này phải cất tiếng nhắc nhở Việt Nam vi phạm nhân quyền. Qua đó chính khách Việt Nam có cái để mà nói chuyện xin xỏ, nhờ vả.
Một phần nguyên nhân nữa là chủ trương xây dựng quyền lực của Đảng CSVN của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, là một kẻ giáo điều bảo thủ, ông Trọng căm thù sự tự do, dân chủ từ những đòi hỏi của người dân. Dưới thời ông Trọng làm Tổng Bí thư, xuất hiện nhiều dư luận viên cuồng tín hơn bao giờ hết, những vụ dư luận viên thẳng tay đánh người đấu tranh đều được công an bảo vệ, che đỡ. Từ khi ông Trọng có nhiều quyền lực, các cuộc đàn áp ngày càng dã man đã khiến làn sóng dân chủ, phong trào dấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo xuống đi trông thấy, các hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự đều bị bóp nghẹt và giảm đi rất đáng kể. Cho đến nay nhiều hội đoàn, nhóm chẳng còn thấy hoạt động mạnh như trước, có nhóm im bặt hoàn toàn.
Sử dụng đàn áp và bắt bớ để làm con bài trong quan hệ với phương Tây đã thành lỗi thời, hoặc những kẻ cầm quyền bây giờ chưa đủ trình độ để chơi những lá bài như vậy. Tuy nhiên dù không đạt được thoả thuận với phương Tây, cộng sản Việt Nam cũng thành công đáng kể trong việc làm giảm đi nhiều những hoạt động của các nhóm, tổ chức xã hội dân sự.
Nhưng thành công ấy, chỉ có lợi cho cá nhân những kẻ thích độc tài, thích quyền lực tuyệt đối như Nguyễn Phú Trọng. Còn thiệt hại cho đất nước khá lớn, vì ảnh hưởng đến chuyện hợp tác với các cường quốc kinh tế tiến bộ.
Đảng Cộng sản Việt Nam cần phải có một tư duy mới rộng rãi và thoáng hơn để tạo ra những quan hệ với các cường quốc, làm tiền đề cho đất nước phát triển. Việc đặt trọng tâm vào chuyện dùng bạo lực để củng cố chế độ độc tài, sống bằng cách bán tài nguyên, phần tài sản của nhà nước cho những nhà đầu tư ở một vài nước châu Á lân cận không phải là giải pháp lâu dài.
Muốn thế Trung ương Đảng CSVN cần phải sớm loại bỏ Nguyễn Phú Trọng, vật cản lớn nhất trong quá trình phát triển đất nước.
Đối với những nhà hoạt động đấu tranh ở Việt Nam, cũng nên nhận ra rằng khi phong trào phát triển, có những hoạt động mạnh mẽ cũng là lúc Chính phủ Việt Nam vay được tiền nước ngoài nhiều, và cũng có nhiều những hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam và các cường quốc khác. Cho nên việc phong trào đấu tranh bị sút giảm không có gì đáng buồn, bởi theo lẽ nào đó nó cũng tỷ lệ với việc cộng sản Việt Nam đang vào thế khó khăn.


Làm kinh tế: Quân đội “Vì mình quên nhân dân”!

Với người dân mảnh đất nghìn đời ông cha để lại nuôi sống bao thế hệ nhưng khi quan chức, đại gia “khát” thì muốn hay không cũng phải giao nộp, ai cưỡng lại sẽ bị cưỡng chế bằng bạo lực: đánh đập, bắt giam, bỏ tù, khủng bố tinh thần, bị xã hội đen rình rập hành hung, truy sát, bị chính quyền tước đoạt quyền công dân… Thế mà nhóm lợi ích quân đội lấy 157,6 ha đất vàng ở sân bay Tân Nhất, 117ha ở sân bay Gia Lâm, rất nhiều ha ở sân bay Bạch Mai (Hà Nội), Nha Trang,... thuộc đất an ninh quốc phòng kinh doanh kiếm lợi, mặc cho Nhà nước thiếu đất phục vụ quốc kế dân sinh.
clip_image002
Ảnh: Quy hoạch sân bay Tân Sơn Nhất trước 1975.

Tuy nhiên, đó không phải là những trường hợp lẻ loi mà là “truyền thống” của nhóm lợi ích quân đội.
Những năm 1980 ngành hàng không VN (HKVN) vẫn là đơn vị quân đội (Từ năm 1990 HKVN mới thành ngành kinh tế dân sự). Lãnh đạo Tổng cục HK dân dụng (TCHKDD) khi đó là ông thiếu tướng không quân Trần Mạnh đề nghị Nhà nước dân sự hóa ngành HKDD để phát triển ngành kinh tế mới mẻ này. Năm 1985-1986, Bộ Quốc phòng yêu cầu Tổng cục HKDD giao sân bay Gia Lâm, các biệt thự thuộc đất dự trữ trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất quản lý (bao gồm nhiều ha), sân bay và đội trực thăng ở Vũng Tàu cho Bộ Quốc phòng nhưng lãnh đạo Tổng cục HKDD không đồng ý. Sau đó nghe nói phái viên của cấp trên nhiều lần xuống Tổng cục HKDD vận động nhưng vẫn không không thành.
Tình cờ, đầu năm 1987, chúng tôi đăng bài “Vật tư rơi vào tay ai” ở báo Hàng không Việt Nam đấu tranh với một số cán bộ TCHKDD được chia đất rộng, lấy quỹ phúc lợi xây nhà hoành tráng trong khi CBNV ăn ở rất cực khổ. Không ngờ việc “phạm thượng” này được Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng ủng hộ nhiệt liệt. Khá nhanh chóng, vụ việc cỏn con này được điều tra ráo riết, rùm beng và cuối cùng Tổng cục trưởng Trần Mạnh bị kỷ luật cách chức, giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất Phan Tương ủng hộ ông Trần Mạnh việc này còn bị đi tù (bằng lý do không rõ ràng)... Thay thế ông Tổng cục trưởng Trần Mạnh là ông Hoàng Ngọc Diêu.
Ngay sau khi có Tổng cục trưởng mới, mọi yêu cầu bàn giao đất đai, tài sản mà Bộ Quốc phòng đã đề nghị trước đó được ký bàn giao chóng vánh. Sau này mọi người mới đặt câu hỏi: Phải chăng mấy anh “tép” báo Hàng không Việt Nam bất ngờ được ủng hộ, “tôn vinh” chỉ vì đã vô tình tạo ra cái cớ để Bộ Quốc phòng đoạt đất đai, tài sản ngành HKDD? Bằng chứng là sau khi lấy xong những “mục tiêu” kia thì các ngôi nhà sai phạm mà Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương tuyên bố tịch thu, xử lý vẫn tại vị đến ngày nay.
Từ những năm 1995 khi Mỹ bãi bỏ cấm vận, ngành vận tải HK luôn phát triển hai con số nhưng đất đai ở các sân bay vẫn phần lớn thuộc Bộ Quốc phòng quản lý lại bỏ hoang hoặc sử dụng sai mục đích do hoạt động máy bay quân sự ngày càng “teo tóp”. Tại sân bay Gia Lâm thỉnh thoảng mới có vài ba chuyến bay lên, xuống, dù quá lãng phí hạ tầng, nhưng tác dụng có lẽ chủ yếu chỉ để “giữ đất”?
Đã được phân bổ quá ít đất sau chiến tranh những quyết định trên của Bộ Quốc phòng lại càng cản trở nhu cầu phát triển của ngành HKDDVN. Năm 1987 hoạt động hàng không dân dụng ở Gia Lâm phải chuyển ngay lên Nội Bài giữa “đồng không mông quạnh” làm cho việc đi lại của hành khách, hoạt động HK vô cùng khó khăn, vất vả. Sau khi HKDD rút đi, hầu hết đất dự trữ của sân bay này được quân đội chia cho cán bộ làm nhà ở, doanh nghiệp làm nhà xưởng, sân golf nhà hàng, khách sạn… kinh doanh. Năm 2010, sân bay Nội Bài quá tải nên ngành HKDD lập dự án sửa sang chuyển hoạt động các máy bay nhỏ ATR 72 về Gia Lâm tạo thuận tiện cho hành khách nhưng cũng không “thỏa thuận” được với bên quân sự, mặc dù lúc này, sân bay nằm trong quy hoạch mạng sân bay dân dụng đã được Thủ tướng CP phê duyệt. Đến nay, sân bay Gia Lâm chỉ còn trơ đường băng, đường lăn, sân đỗ chứa được mấy máy bay, mỗi tuần èo uột vài chuyến bay lên xuống, vô cùng lãng phí.
Tại Tân Sơn Nhất, sau năm 1975 vẫn còn hiện trạng quy hoạch sân bay rất hợp lý thông minh: Những khu đất dự trữ đồng thời tạo tĩnh không thoáng cho máy bay hoạt động chính quyền VNCH xây dựng các biệt thự nhà cấp 3 hai tầng tiện nghi, hiện đại với 200-300 m2 sử dụng, mỗi biệt thự cách nhau vài trăm mét có đường nhựa liên thông giữa rừng cây cổ thụ. Những biệt thự này dành cho phi công, CBNV làm việc, nghỉ ngơi và làm nhiệm vụ giữ đất, môi trường trong lành, giảm ô nhiễm không khí, tiếng ồn cho sân bay….
Thế nhưng, sau khi Bộ Quốc phòng thu của sân bay TSN thì tất cả những biệt thự và khuôn viên liền phân phát cho các tướng, tá làm nhà ở, bán chác… Dư luận kháo nhau cán bộ nọ, kia tự dưng kiếm hàng chục tỷ ngon ơ. Phần lớn các khu phố như Hồng Hà, Cửu Long, Bạch Đằng… ở quận Tân Bình hiện nay chính là khu đất sân bay TSN trước đó. Bên những khu đất dự trữ còn lại của sân bay phía quân sự quản lý cũng diễn ra tương tự. Đất dự trữ sân bay ba bề, bốn bên bị quân đội và dân lấn chiếm.
Năm 2007 Tân Sơn Nhất quá tải sân đỗ, nhiều chuyến bay đến phải bay vòng vèo trên không chờ đợi, ngành HKVN đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ cho quy hoạch sang phía đất quân sự nhàn rỗi 30ha làm 30 chỗ đỗ nhưng phía quân sự “không thỏa thuận”. Cũng từ đó nhóm lợi ích quân đội không biết làm cách nào mà khiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các cơ quan liên quan âm thầm cho phép họ làm các công trình thương mại trong sân bay, mặc cho Tân Sơn Nhất ngày càng quá tải như hiện nay.
Tại sân bay Vũng Tàu, sau năm 1975 Tổng cục HKDD vẫn tổ chức những chuyến bay thương mại Sài Gòn - Vũng Tàu và năm 1986 thành lập ở đây cơ sở bay trực thăng phục vụ bay dầu khí. HKDDVN đã mua hai máy bay Puma của Pháp chuyên bay biển phục vụ chuyên chở người, trang thiết bị giữa giàn khoan và đất liền… Thế nhưng, vào năm 1988-1989, Bộ Quốc phòng thu mất công ty trực thăng và cả sân bay với diện tích đất dự trữ mênh mông. Từ đó, diện tích đất sân bay Vũng Tàu bị lấy dần và nay nhà cửa đã vây kín, tỉnh Bà Rịa lại đang lên kế hoạch di dời sân bay đi chỗ khác với dự chi hàng tỷ đô la.
Việc quân đội lấy 157,6ha đất ở sân bay TSN, 117ha ở Gia Lâm, sân bay Vũng Tàu, đội trực thăng bay dầu khí của HKDDVN đã cản trở không thương tiếc sự phát triển HKDDVN. Việc quân đội lấy hơn 200 ha đất của dân xã Đồng Tâm nhưng 36 năm không sử dụng, không trả cho dân cũng chứng tỏ sự vô trách nhiệm, vô lương tâm với dân. Tướng tá quân đội, quan chức đã có lương, bổng lộc còn dân chỉ có mảnh đất sinh tồn mà họ nỡ giữ đó để đầu cơ lãng phí nay còn sử dụng luật, lệ… để trấn áp dân.
Quân đội làm kinh tế không chỉ kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước do cạnh tranh không bình đẳng, sòng phẳng, minh bạch, môi trường lý tưởng cho tham nhũng, làm tê liệt sức chiến đấu của quân đội mà còn hết sức thất sách nếu có chiến tranh. Hiện nay nếu chiến tranh xẩy ra thì kẻ thù tha hồ đánh phá cả vào các cơ sở kinh tế nhưng mang danh quân sự trong đó có đội trực thăng bay dầu khí, sân bay Vũng Tàu, Tân Sơn Nhất... Đặc biệt quân đội làm kinh tế, kinh doanh thì tất nhiên không thể giữ được chức năng bảo vệ tổ quốc nữa vì quy luật: lơi nhuận, tiền trên hết!
Nó chứng tỏ quân đội không còn “vì nhân dân quên mình” nữa mà là “vì mình quên nhân dân”.Nguyễn Đình Ấm

CẢM NHẬN BÀI VIẾT CỦA ÔNG VŨ NGỌC HOÀNG VỀ “TỰ DIỄN BIẾN” – “TỰ CHUYỂN HÓA”

Theo thiển nghĩ của người viết bài này, trước hết phải nói rằng cụm từ “tự diễn biến, tự chuyển hóa” bản thân nó chẳng hề mang ý xấu, ý tiêu cực nào cả! Cũng như dạo chiến tranh và sau chiến tranh hễ cứ nói đến hai từ “lãng mạn” trong văn học nghệ thuật là nhiều vị lại giẫy nẩy lên và bắt mọi người phải ngoắc thêm vào sau hai từ nữa là “cách mạng” cho... yên tâm. Thế cái lãng mạn trong “Truyện Kiều”, trong “Tây Tiến” thì gọi là lãng mạn gì nhỉ?

Nội dung cốt lõi bài của ông Vũ Ngọc Hoàng là bàn về khái niệm “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Ông đã rất sâu sắc trong tư duy, khi trao đổi về vấn đề này với cách tiếp cận khoa học, mạch lạc, dễ hiểu! Từ đó, đã chỉ ra rằng trong mọi nguyên nhân của sự thay đổi thì nguyên nhân chủ quan, nội tại là quyết định.

Liên Xô và khối XHCN tan rã sụp đổ chủ yếu là do “tự diễn biến, tự chuyển hóa” đấy chứ! Có xe tăng, đại bác nào của Mỹ và NATO khai hỏa đâu! Mà nếu Mỹ, NATO dùng vũ lực thì chưa chắc Liên Xô và khối Đông Âu đã sụp đổ nhanh như thế, có khi Mỹ và NATO còn bươu đầu sứt trán ấy chứ!

Ý của ông Vũ Ngọc Hoàng còn sâu sắc ở chỗ này: Chính Đảng và Nhà nước Việt Nam đã buộc phải “diễn biến và chuyển hóa” khi đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, tức là buộc phải “đổi mới”! Rõ ràng quá trình “diễn biến và chuyển hóa” là tự nhiên như một quy luật khách quan, tốt hay xấu là tùy thuộc kết quả và góc tham chiếu mà thôi. Điều hấp dẫn và thú vị khi đọc các bài viết của ông, hầu như chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản, phổ thông, nhưng duới một góc nhìn mới, sắc sảo, mạnh dạn, thẳng thắn hơn và có gì đó rất khác với nhiều người ở cương vị và lĩnh vực tương đương.

Tuy nhiên, là người đã từng giữ ngôi vị thứ hai (Phó ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng), ông Vũ Ngọc Hoàng vẫn tỏ ra điềm tĩnh không để cho ngòi bút của mình trượt đi theo cảm xúc. Bởi thế, đọc các bài viết của ông, người đọc cảm nhận rất rõ sự thông tuệ mà bình dân, tự tin mà khiêm nhường của tác giả. Đó chính là bản lĩnh của một người đã từng đứng ở tâm điểm của những dòng xoáy các trào lưu tư tưởng chính trị.

Sống trong dân, trong tổ chức, nhiều đảng viên cùng chung suy nghĩ chưa thấy ai phát hiện ra hiện tượng, hay cụm từ “Tự diễn biến, tự chuyển hóa” mà chỉ được biết nó trở thành một chủ trương hành động chính trị xã hội, khi đọc các văn bản của Đảng.
Nhiều người có chung nhận định, cách diễn giải hình thù cụ thể của “Tự diễn biến và tự chuyển hóa”, nếu không phân tích làm rõ một cách biện chứng, thuyết phục thì rất nguy hiểm bởi vì:
- Chỉ là cái mũ người (nhóm) này chụp cho người (hay nhóm) kia trong cuộc đấu đá nội bộ.
- Cái thuật ngữ này chỉ là “nhát ma” những người hay “sợ ma”!
- Nếu Đảng tự diễn biến, tự chuyển hóa để khắc phục những yếu kém đang cản trở sự phát triển xã hội, để phục vụ nhân dân thực chất hơn, tốt hơn thì lại có ý nghĩa tích cực, là cái mà người dân mong đợi.

1. Nhận xét chung

- Bài viết về “Từ diễn biến-tự chuyển hóa” 6/2017 của ông Vũ Ngọc Hoàng khá dài 4.550 từ. Các nội dung trong bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng được phân tích thuyết phục: (1) Sự sụp đổ nhà nước XHCN Liên Xô và các nước Đông Âu là không tránh khỏi bởi lý luận khô cứng khuyết tật và mô hình nhà nước, hệ thống quản trị thiếu khoa học; (2) Quản trị quốc gia lấy vũ trang (quân đội, công an) làm công cụ chính thì đó là biểu hiện của chế độ độc tài toàn trị. Đó là những bài học và luận cứ thực tiễn chúng ta cần tiếp thu.
- Phương pháp diễn đạt phân tích, phản biện vấn đề có tính logic cao trong khuôn khổ lý luận mang tính thực tiễn và xã hội học (chưa phải lý luận triết học) diễn ra trong một chế độ nhà nước do Đảng Cộng sản cầm quyền có nền kinh tế, luật pháp,… kiểu XHCN (giống như tổ chức nhà nước và luật pháp ở Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu trước đây, Trung Quốc, Cu Ba).
- Vì vậy bài viết của tác giả mang tính phản ánh/tổng kết đánh giá một số nguyên nhân của những thực trạng bất cập trong tư tưởng, tồn tại về phát triển kinh tế xã hội, một số hướng giải quyết khắc phục dựa trên các nghị quyết của Trung ương Đảng CSVN.
- Đây là nội dung và cách hành văn của một giáo trình có nhiều ý kiến tham luận hay, luận giải thích hợp (không cực đoan) về hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cho công tác tuyên huấn và bồi dưỡng chính trị cho cán bộ đảng cơ sở trong khuôn khổ thực hiện nghị quyết TW Đảng và ý tưởng sử dụng công cụ chống tự diễn biến, tự chuyển hóa nhằm hạn chế tình trạng tham nhũng tràn lan, bộ máy nhà nước các cấp hoạt động thiếu hiệu quả của TBT Nguyễn Phú Trọng.

2. Thảo luận

- Lịch sử phát triển xã hội loài người đến nay đã cho thấy rằng, bộ máy quyền lực nhà nước được thiết lập và thực hiện dựa trên những ý tưởng và luận điểm triết học của các triết gia chứ không phải của bộ máy quyền lực. Tranh luận triết học với trình độ các nhà triết học VN với thế giới chắc là việc khó nên không bình luận ở đây. (Nếu các cố triết gia Trần Đức Thảo và Nguyễn Mạnh Tường còn sống, may ra còn có diễn đàn tranh luận về triết học…).
- Thực trạng của xã hội VN chúng ta hiện nay, mọi cơ chế tổ chức và pháp luật đều do bộ máy quyền lực nhà nước thiết lập, nên hình như có điều gì đó về triết học là thiếu tính khoa học để kiểm soát và điều chỉnh xã hội theo hướng tiến bộ và phát triển. Khi một chủ trương được Đảng cầm quyền coi là phương châm, ở một Nhà nước một Đảng, thì tất cả những ý kiến trái chiều cho dù xuất xứ là những người được coi từ xưa là chính thống, cũng dễ bị “chụp mũ” cho là phản nghịch, không khác lắm với Galileo dám nói là quả đất quay, trái với Giáo hội La Mã, suýt nữa bị hỏa thiêu. Do đó, những dẫn chứng về sự bất cập thực tế và nguyên nhân gây bất ổn trong bộ máy quyền lực trong bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng phù hợp với trình độ của cán bộ và nhân dân, rất đáng được trân trọng.
- Chủ trương về đất đai mà chúng ta biết, nghe thì hay, vì nói đất đai là sở hữu toàn dân, Nhà nước quản lý, nhưng trong thực tế, thiếu những cơ sở khoa học cho việc thực hiện pháp lý dài hạn vì Nhà nước là cán bộ quản lý với một hoặc hai nhiệm kỳ, sau đó, có thể tiếp tục làm cố vấn. Người cán bộ đó cũng là một con người, cũng có những nguyện vọng tầm thường của một con người khi không được kiềm chế, kiểm soát, rất khó tránh khỏi móc nối với các tổ chức trong hoặc ngoài Chính phủ, các nhóm lợi ích được hình thành, và trong thực tế đang chi phối đời sống của chúng ta. Ở môi trường Việt Nam, một nước Á châu, chủ trương đó rất dễ được lãnh đạo chấp nhận, và đã chấp nhận rồi, chống lại là một việc rất khó khăn và phức tạp.
- Chủ trương chính sách “khoán 10” trong nông nghiệp cũng là một hiện tượng tự diễn biến tích cực phù hợp trong một thời điểm để khắc phục sai lầm của mô hình sản xuất tập thể gọi là hợp tác xã, chứ không phải một luận cứ khoa học cho phát triển nông nghiệp tiên tiến lâu dài. Cho đến nay, VN vẫn là một nước nông nghiệp, vậy mà nông dân không phải là người chủ thực sự trên mảnh đất của mình, thì khó mà xây dựng được nền kinh tế thị trường, theo định hướng XHCN. Tương tự như vậy trong lĩnh vực công nghiệp, sự thất bại của các doanh nghiệp nhà nước, theo văn kiện của Đảng lãnh đạo, vốn được coi là chủ đạo theo định hướng XHCN, điển hình là hai doanh nghiệp hút nhiều vốn nhất là Vinashin và Vinalines, đã là minh chứng của lập luận lúc đầu nghe cũng có vẻ thuyết phục, nhưng thực tế lại khác 180 độ.
- Cũng như hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hóa,… “lợi ích nhóm” và nhiều hiện tượng khác trong xã hội cũng có cả nghĩa tích cực và tiêu cực, không phải phạm trù triết học nào cả, nó sinh ra và cùng tồn tại với xã hội phụ thuộc vào thể chế quản lý nhà nước mà nó tốt hay xấu. Phương pháp quản trị nhà nước mạnh và khách quan thì nó yếu, ngược lại quản trị nhà nước yếu thì nó phát triển mạnh theo hướng tiêu cực lúc đầu là lợi dụng quyền lực nhà nước sau đó là thủ tiêu nhà nước.
- Như vậy, vấn đề là lựa chọn mô hình (từ phân tích tổng hợp thành tựu của thế giới về các thể chế nhà nước văn minh hiện đại) và hoàn thiện thể chế đáp ứng được ngày càng cao đòi hỏi về sự bình đẳng, quyền lợi dân tộc và người dân. Tiếp theo là xây dựng nền tư pháp thực thi nghiêm chỉnh Hiến pháp của Nhà nước theo thể chế đó. Đó chính là cơ sở khoa học mà ông Vũ Ngọc Hoàng coi là điểm tựa để phân xử tranh luận đúng sai của các giải pháp và hiện tượng được tác giả phân tích đề xuất.
- Việc lựa chọn xây dựng mô hình nhà nước và pháp luật cần có một tầng lớp trí thức tinh hoa mà Việt Nam chưa có (ngay cả khoa học tự nhiên và kỹ thuật-công nghệ, mặc dù có một số nhà khoa học VN nổi tiếng nhưng chúng ta cũng chưa có tầng lớp trí thức này). Nếu đào tạo nghiêm chỉnh cũng phải mất nhiều chục năm may ra mới có, nên tốt nhất là vừa đào tạo vừa thuê các trí thức từ các nước có nền khoa học và quản lý nhà nước tiên tiến, như các nước công nghiệp mới phát triển đã thực hiện.

3. Lời kết

Shakespeare nhà viết kịch nổi tiếng trên thế giới người Anh ở thế kỷ 16 (thời kỳ phục hưng) đã để cho nhân vật Hamlet có câu nói bất hủ cho đến tận ngày nay: “to be or not to be” có nghĩa là “tồn tại hay không tồn tại”. Nhiều người dân Việt Nam vẫn còn nhớ thời kỳ cuối thập niên 80, nhất là khi khối Đông Âu suy yếu và tan rã, trước các yêu cầu bức xúc của cuộc sống, để tồn tại, Đảng và Nhà nước ta đã tự cứu mình bằng cách tiến hành đường lối Đổi mới, tạo ra các bước đột phá đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng, trì trệ. Vậy, đây có phải là “tự diễn biến, tự chuyển hóa” mà lá cờ đầu chính là Tổng bí thư Trường Chinh cho viết lại toàn bộ Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI?
Bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng hoàn toàn mang tính xây dựng và không hề cực đoan. Ngẫm suy, quan điểm của chúng ta là “năng nhặt chặt bị”, đừng bỏ phí bất kể điều gì tốt đẹp trong xã hội vẫn còn rất nhiều nhiễu nhương.
“Gieo trăm gặt một thế cũng là
Được bao nhiêu cũng là được cả
Một thời khô héo một thời hoa”.
(Thơ Việt Phương)
Nổi bật nhất bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng chính là những nội dung cơ bản Đảng Cộng sản VN có đủ khả năng kế thừa, định hướng, triển khai nếu muốn đất nước VN phát triển, biết nhận thức và tiếp thu khoa học khách quan về lý luận và quản trị nhà nước. Còn cứ đổ tội cho hiện tượng này nọ, cải cách vụn vặt, ngẫu hứng sẽ chỉ tốn thời gian công sức, và làm mất cơ hội phát triển.
Trước đây không lâu, lãnh đạo của VN không đánh giá cao doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa. Ngày nay, lại coi đó là một lực lượng quan trọng, phải chăng chúng ta đã buộc phải đổi hướng, nhưng không nói ra?
Còn cái gì nữa mà chúng ta sẽ buộc phải nói ra? Sự thay đổi dù không nói ra này có phải là Đổi mới tư duy không? Đổi mới tư duy có gì khác với tự diễn biến, tự chuyển hóa? Nếu ta hiểu mấy thuật ngữ này theo nghĩa tiêu cực, nghĩa là thụt lùi, thì ta không nói theo Triết học nữa. Vậy thì ta không Đổi mới, cứ làm như cũ chăng, thì nguy cơ “cái gì đến ắt sẽ đến” nếu ta không biết nhìn lại mình cho rõ hơn và không biết vượt lên chính mình.Tô Văn Trường

No comments:

Post a Comment