Tuesday, June 20, 2017

Hai vụ án nổi tiếng của triều Nguyễn qua sách cổ

Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam có nhiều vụ án liên quan đến bậc công thần. Riêng vương triều Nguyễn có hai vụ án nổi tiếng là vụ Nguyễn Văn Thành và Tả Quận công Lê Văn Duyệt.

Nguyễn Văn Thành (1758–1817) là một trong những vị khai quốc công thần của triều Nguyễn và là một trong những người có công lớn nhất đưa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, trở thành vị vua đầu tiên (vua Gia Long) của triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam (1802–1945). Ông bôn ba theo vua Gia Long từ lúc khó khăn nhất đến khi nhà Nguyễn thống nhất được giang sơn. Cùng với vua Gia Long, ông đã trải qua nhiều thử thách khi quân Tây Sơn truy đuổi. 
Dù là công thần của triều đình nhưng Nguyễn Văn Thành đã liên quan đến một vụ án thời vua Gia Long để rồi ông đã phải chọn cái chết tức tưởi. Điều đặc biệt ở chỗ Nguyễn Văn Thành là người soạn thảo Bộ luật Gia Long nhưng chính ông đã phải nhận cái án đầy khắc nghiệt mà mình đã soạn ra.
Vụ án của Nguyễn Văn Thành xuất phát từ một bài thơ và ông đã phải chịu trách nhiệm liên đới. Nguyễn Văn Thành có con trai Nguyễn Văn Thuyên. Vốn hâm mộ văn chương, Thuyên thường làm thơ, ngâm vịnh văn thơ với những kẻ sĩ. Bấy giờ nghe người ở Thanh Hóa là Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận có tiếng hay chữ, ông Thuyên làm một bài thơ tặng.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” (ghi chép lịch sử thời vua Gia Long) chép bài thơ có nội dung sau: “Nghe nói Ái Châu nhiều tuấn kiệt/ Dành để chiếu bên ta muốn chờ/ Vô tâm ôm mãi ngọc Kim Sơn/ Tay sành mới biết ngựa Ký Bắc/ Thơm nghìn dặm lan trong hang tối/ Vang chín chằm phượng hót gò cao/ Phen này nếu gặp Tể (tướng) trong núi/ Giúp ta kinh luân chuyển hóa cơ”.
Bài thơ đến tai nhiều vị quan triều đình, trong đó có vua Gia Long. Do Nguyễn Văn Thành là công thần nên có một số người ghen tị với công trạng của ông. Những người có hiềm khích với Nguyễn Văn Thành đã dựa vào hai câu cuối của bài thơ mà lập luận, suy đoán, thêu dệt thành ý phản loạn, truất ngôi vua của cha con ông. Ông đã bị tước hết chức quan và tiếp tục chờ xử lý.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ”, quyển 53, năm Gia Long thứ 15 (1816) có chép: Vua nói: “Văn Thành là kẻ có tội nhưng cũng nên có cách xử trí”. Bèn thu quan phục và kiếm, Văn Thành mất chức. Vua bảo bầy tôi rằng: “Văn Thành thân làm đại thần mà dung túng cho con kết nạp môn khách là hiếu danh ư? Hay ý muốn làm gì? Lật ngôi vua ư? Phản loạn ư?”.
Dù là bậc thiên tử nhưng trước sức ép các quan khác, Gia Long đã không bảo vệ được một trong những vị công thần có công lớn đưa mình lên ngôi hoàng đế là Nguyễn Văn Thành. Vụ án ngày càng trở nên căng thẳng trong triều đình, cuối cùng Nguyễn Văn Thành đã phải chịu cái án nặng nhất – cái chết.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ”, quyển 55, năm Gia Long thứ 16 (1817) có chép: Vua nói: “Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội thì phép công của triều đình trẫm không thể làm của riêng được”. Vua bèn sai bắt Văn Thành và con giam ở nhà quân Thị lang. Bầy tôi họp để xét hỏi Văn Thành. Hỏi: “Có làm phản không? Có muốn lật ngôi không?”. Thành nói: “Không”.
Vài ngày sau, thống chế Hoàng Công Lý nói với Văn Thành rằng: “Án đã xong rồi, vua bắt bầy tôi chết, bầy tôi không chết không phải là trung”. Thành lặng im uống thuốc độc chết. Vua triệu Hoàng Công Lý hỏi rằng: “Văn Thành khi chết có nói gì không?”, Công Lý nói: “Bẩm không”. Vua giận nói rằng: “Văn Thành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng rõ rệt”. Đúng lúc đó, có quân lính lại nhặt được tờ di chiếu trần tình của Văn Thành trước lúc chết ở nhà quân đem dâng. Vua cầm tờ trình khóc to đưa lên cho bầy tôi xem mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc nhỏ theo trẫm có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được ấy là trẫm kém đức”.
Vụ án Nguyễn Văn Thành khép lại để lại những dấu hỏi lớn trong triều đình. Nguyễn Văn Thành phải uống thuốc độc tự tử, còn người con trai của ông là Nguyễn Văn Thuyên bị trảm quyết. Việc vì sao tờ di chiếu trần tình trước lúc chết của Nguyễn Văn Thành lại không đến được tay vua trước lúc ông chết vẫn là bí ẩn.
hai-vu-an-noi-tieng-cua-trieu-nguyen-qua-sach-co
Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập” nói về việc vua Gia Long phong cho Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Thành. Ảnh: Cảnh sát toàn cầu.
Tả Quận công Lê Văn Duyệt (1764–1832) là công thần trụ cột của nhà Nguyễn. Ông đã theo tòng chúa Nguyễn Phúc Ánh từ năm 17 tuổi, cùng với chúa Nguyễn Phúc Ánh và các tướng lĩnh khác lấy thành Bình Định, chiếm thành Phú Xuân, thu đất Bắc Hà về cho nhà Nguyễn, giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành 2 lần: từ 1812 đến 1815 (triều vua Gia Long) và từ 1820 đến 1832 (triều vua Minh Mạng). Vì thế mà Lê Văn Duyệt được liệt vào hàng ngũ khai quốc công thần của vương triều Nguyễn. Thế nhưng cuộc đời ông đã gặp một chuyện hy hữu liên quan đến người con nuôi là Lê Văn Khôi để rồi trở thành một vụ án lớn mà lịch sử thường gọi là vụ án Lê Văn Duyệt.
Từ khi con nuôi ông là Lê Văn Khôi nổi loạn chiếm thành Phiên An (tức thành Gia Định) vào năm 1833, vua Minh Mạng thường ban trách Lê Văn Duyệt. Năm 1835, dù Lê Văn Duyệt đã chết nhưng sau khi triều đình dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi, Phan Bá Đạt dâng sớ kể tội Duyệt xin vua đưa người thân Lê Văn Duyệt về Hình bộ xét tội. Minh Mạng giao cho đình thần nghị xử. Vài hôm sau có nhóm nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh nghị tội Lê Văn Duyệt, có bảy tội phải chém, hai tội phải thắt cổ.
Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 162 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) chép về tội án của Lê Văn Duyệt như sau: Duyệt vì lời nói và việc làm bội nghịch, có 7 tội đáng chém: 1- Sai người riêng của mình sang Diến Điện kết ngoại giao ngầm. 2- Xin đưa thuyền Anh Cát Lợi đến kinh thành để tỏ mình có quyền. 3- Xin giết Thị vệ Trần Văn Tình để khóa miệng người khác. 4- Dâng sớ chống lại mệnh vua. 5- Kết bè đảng. 6- Giấu riêng những giấy đóng sẵn ấn Ngự bảo. 7- Gọi mộ tiên nhân là “lăng”.
Vua dụ rằng: “Thế đủ thấy lẽ trời sáng tỏ công khai, đạo công tồn tại ở ta thực không thể bưng bít. Kẻ quyền gian gây vạ cả thiên hạ đều giận. Vả, Lê Văn Duyệt đếm tội cũng không kể hết, nói đến đau lòng, dù bổ áo quan mà phanh thây cũng không oan. Song nghĩ, hắn chết đã lâu, lại đã truy đoạt quan tước, nay nắm xương khô cũng không được để yên. Vậy sai Đốc phủ Gia Định lập tức phá tan mồ mả thành đất phẳng và dựng cái bia đá ở trên khắc 8 chữ: “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Chỗ quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu tội chết) để nêu rõ tội danh sau khi chết mà làm sáng tỏ phép nước về sau này và để làm gương răn cho những kẻ quyền gian muôn đời, người nhà hắn thì trị nghiêm…”.
Mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định bị cuốc bằng. Các ngôi mộ cha mẹ ông bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia. Vụ án Lê Văn Duyệt khép lại để lại nhiều ẩn khuất.
Theo Cảnh sát toàn cầu

Nhà Nguyễn trị người gian dâm như thế nào

Vào thời nhà Nguyễn, triều đình đã đưa 9 điều quy định về tội gian dâm và giao cho Bộ Hình thực thi hình phạt với những người vi phạm.

nha-nguyen-tri-nguoi-gian-dam-nhu-the-nao
Người ngoại tình bị đóng gông một tháng. Ảnh: Tư Liệu
Sách Khâm định Đại nam Hội điển sự lệ ghi lại, luật thời vua Minh Mạng thứ 8 năm 1827 quy định, nếu thông gian không chồng thì gian phu, dâm phụ đều bị đóng gông một tháng, phạt 100 trượng. Nếu có hành vi "điêu toa lừa dối gian dâm không chồng" thì mỗi người sẽ bị đóng gông 2 tháng, phạt 100 trượng.
Những người có chồng mà thông gian với người khác thì bất luận thông dâm hay lừa dối gian dâm. Nếu có chồng chưa có con thì gian phu, dâm phụ đều bị xử giảo giam hậu (xử thắt cổ nhưng giam để đợi thi hành hình). Nếu có chồng có con đều xử giảo lập quyết (xử thắt cổ hành hình ngay).
Người nào mối lái để cho người thông gian ở nhà mình thì xử tội nhẹ hơn một bậc. Người dân thông gian với vợ quan chức thì gian phu và dâm phụ đều bị xử thắt cổ hành hình ngay. Quan chức thông gian với vợ dân thì xử phạt thắt cổ nhưng giam đợi hành hình.
Đến thời vua Tự Đức, tội ngoại tình được cải hoán, bổ sung thêm một số hình phạt nhưng theo chiều hướng nặng hơn. Theo sách Khâm định Đại nam Hội điển sự lệ, với quan chức ngoại tình, vua Tự Đức năm thứ 10 (1857) quy định: Quan chức thông gian với vợ quan chức thì xử theo luật thường. Quân dân mà thông gian với vợ quan chức thì gian phu, dâm phụ bị xử giảo lập quyết (tức là thắt cổ hành hình ngay). Quan chức mà gian dâm với vợ quân dân thì gian phu bị phạt 100 trượng, đi đầy 3 ngàn dặm, gian phụ bị bắt đi làm đầy tớ. Đại nam Hội điển sự lệ cho hay, những người gian dâm mà sinh ra con cái thì những đứa con ấy bắt gian phu phải nuôi.
Những người vợ mà gian dâm, chồng được phép đem người vợ đó gả chồng hay đem bán nếu như không muốn giữ lại. Nhưng nếu người chồng đem gả bán vợ ngoại tình cho kẻ gian dâm với vợ thì kẻ gian phu và người chồng đều bị xử phạt 80 trượng.
Người đàn bà phải ly dị về nhà cha mẹ, tiền lễ cưới tịch thu vào kho nhà nước. Vào năm 1875 vua Tự Đức chuẩn 9 điều trong việc xử tội gian dâm. Theo đó, thông gian thì phạt 80 trượng, có chồng mà thông gian thì phạt 90 trượng, điêu toa gian dâm lĩnh phạt 100 trượng.
Nếu ai thông gian với người thân thuộc cùng họ không phải để tang, và vợ những người thân thuộc ấy đều xử phạt 100 trượng, cưỡng gian thì xử phạt gian phu tội trảm giam hậu.
Nếu thông gian với người không chồng thì gian phu bị phạt 100 trượng, đi tù 3 năm, gian phụ bị xử phạt 100 trượng, đóng gông một tháng. Nếu có chồng thì gian phu bị phạt 100 trượng, đi đầy 3 ngàn dặm, gian phụ phát đi làm nô tỳ. Ai thông gian với cụ họ, bà cô họ, bà bác, bà thím họ, chị em chú bác, chị em với mẹ, vợ anh vợ em thì gian phu gian phụ đều bị xử giảo quyết. Nếu là cưỡng gian thì gian phu bị trảm quyết.
Bên cạnh quy định xử phạt những người ngoại tình, triều Nguyễn cũng ra quy định xử phạt rất nghiêm khắc với những người quan hệ bất chính với trẻ em dưới 12 tuổi. Theo sách Đại nam Hội điển sự lệ ghi chép, thời Nguyễn những kẻ thông gian với con gái 12 tuổi trở xuống, dẫu có tình thông gian cũng bị xử là cưỡng gian. Tùy vào hành vi mà có thể bị xử giảo giam hậu hoặc bị trảm quyết bêu đầu.Võ Thạnh

Các mức trừng trị kẻ trộm dưới triều Tự Đức

Chém đầu, treo cổ... là những hình phạt dành cho kẻ trộm ngang nhiên tấn công lại chủ nhà, hay tái phạm tới lần thứ 3.

Sách Khâm định Đại nam Hội điển sự lệ ghi chép, năm 1856 vua Tự Đức quy định: Kẻ trộm khi bị chủ nhà phát giác mà cầm dao đâm, đánh lại gây thương tích thì bị xử tội trảm giam hậu (giam chờ ngày chém đầu), đồng phạm bị đưa ra biên ải sung quân. 
Nếu đánh trả mà không gây thương tích, kẻ gian bị đưa ra biên ải sung quân.
Nếu vì giải cứu cho đồng phạm mà làm người khác bị thương, kẻ trộm sẽ bị xử giảo giam hậu (giam chờ ngày treo cổ). Trường hợp nạn nhân bị thương nhẹ nhưng không phải do hung khí gây ra, người trực tiếp gây án bị phạt đánh 70 trượng, tòng phạm xử 60 trượng.
Vào năm 1857, vua Tự Đức lại bổ sung thêm các quy định về việc xử phạt các băng đảng trộm cướp có tổ chức. Sách Khâm định Đại nam Hội điển sự lệ ghi lại rằng, những án cường đạo, đốt nhà, giết người hoặc cầm khí giới công nhiên cướp bóc nhưng có tổ chức từ 10 tên trở lên, bất luận số tang vật nhiều hay ít, kẻ trực tiếp gây án đều bị chém đầu bêu lên. 
Kẻ tòng phạm nếu bị xác định đây là lần thứ 3 ăn cướp thì bị trảm quyết (chém đầu ngay), nếu 2 lần thì bị trảm giam hậu (giam chờ ngày chém đầu). 
Với đám cướp từ 10 người trở xuống, nếu thủ phạm và tên tòng phạm đã đi ăn cướp 3 lần thì xử tội trảm giam hậu. Nếu chỉ cướp của không đánh người bị thương thì thủ phạm bị xử sung quân, tòng phạm có chia tang vật thì xử tội mãn trượng đồ (đánh 100 gậy và lưu đày), không được chia tang vật thì phạt 90 trượng. Võ Thạnh

Tài xử án như 'Bao công' của Nguyễn Mại

Xử án đơn giản bằng mẹo "đọc vị tội phạm" có một không hai, Đốc trấn Sơn Tây Nguyễn Mại (thế kỷ 17) đã phát hiện nhanh ra thủ phạm, ai nấy đều nể phục.

Nguyễn Mại là người làng Ninh Xá, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Năm 37 tuổi, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu (1691), ra làm quan thời vua Lê Hy Tông. Lúc đầu, ông làm quan ở Bộ Lễ sau thăng chức Tả thị lang được cử đi sứ nhà Minh rồi làm Đốc trấn Cao Bằng, sau về Đốc trấn Sơn Tây đến cuối đời.
Giới quan chức cũng như người dân đều ca ngợi ông là vị quan thanh liêm, chính trực xét xử như “Bao thanh thiên”.
Vả mặt người mất trộm truy ra kẻ cắp
Lúc làm quan ở Sơn Tây, Nguyễn Mại thường đi xuống các làng xem xét cuộc sống của họ. Trong lần vi hành, đi bộ ngang chợ Bảo Khám, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, ông thấy một người đàn bà luôn miệng nói tục, “bới” cả tổ tông ba đời nhà kẻ trộm ra chửi. Quan hỏi người dân mới biết bà này bị mất trộm một chiếc màn.
Ông gọi người đàn bà lại hỏi chuyện, rồi đột nhiên sai người trói bà, mắng về tội chửi chua ngoa. Sau đó, đàn ông, đàn bà trong xóm được gọi đến đủ. Nguyễn Mại sai từng người vả vào mặt người đàn bà mất trộm với lý do "đã chửi ngoa". Dân làng ai nấy đều thương người mất trộm nên chỉ tát nhẹ. Chỉ riêng một phụ nữ xuống tay rất mạnh.
Chị ta vừa tát xong, quan Nguyễn Mại liền cho giữ lại tra xét, bảo rằng: “Ngươi chính là kẻ ăn trộm nên mới đánh người ta đau như thế”. Người phụ nữ này vội quỳ xuống nhận tội. Sử sách ghi lại, chính từ vụ án này mà người dân Sơn Tây coi ông như “Bao thanh thiên”. Sau khi ông mất họ còn làm cả thơ văn ca ngợi công đức, cách xử án như thần của vị quan thanh liêm.
Vụ án thóc nảy mầm trong tay
Vụ án thứ hai do ông Nguyễn Mại phân giải mà sử sách còn lưu truyền đến ngày nay là "dọa thóc trong tay nảy mầm tìm ra người ăn trộm".
Một lần, Nguyễn Mại đi ngang qua ngôi chùa ở huyện Sơn Vi, nay là huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, một nhóm ni cô báo có người bị mất chiếc áo lụa quý. Thấy vậy, quan sai lập đàn cúng. Các ni cô được giao mỗi người nắm một ít thóc, tay còn lại cầm tay kia của bạn rồi cùng chạy quanh đàn. Lúc các ni cô chuẩn bị chạy, ông nói “hễ là kẻ gian thóc trong tay lập tức khắc nảy mầm”. Chỉ một lúc quan sát chạy đàn, Nguyễn Mại thấy một ni cô thường lén mở tay ra nhìn, gương mặt bồn chồn lo lắng. Lúc đó, ông cho dừng, gọi nữ tu đó ra tra hỏi và cô nhận tội.
Bắt trai làng vét bùn tìm ra người trộm chuối
Vụ án thứ ba ông phân xử ở ngay làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội). Khi một người đàn bà chửi bới ầm ĩ vì mất trộm buồng chuối sắp đến ngày được ăn, ông tập trung hết trai làng, ra lệnh xuống ao làng vét bùn. Lúc cả nhóm nghỉ giải lao, ông lại sai phát cho mỗi người một miếng trầu để ăn. Đích thân ông xem phát trầu cho từng người và bàn tay của một thanh niên chìa ra có vết nhựa thâm.
Ông lệnh bắt ngay anh ta, nói rằng đây là vết tích của nhựa chuối, sau khi ngâm bùn mới hiện rõ trên tay, khó rửa sạch ngay. Người thanh niên nghe vậy đã không thể chối tội.
Chia đôi mảnh lụa để tìm kẻ gian
Một vụ trộm cắp khác được Nguyễn Mại phân xử cũng nhanh chóng tìm ra thủ phạm. Hôm đó, ông vi hành ra chợ Sơn Tây liền gặp một nhóm phụ nữ giằng co, cãi vã om sòm. Đến gần, ông thấy hai người đàn bà đang giằng nhau một tấm lụa. Cả hai đều gào lên nhận là chủ nhân, nói người kia là phường ăn cắp... Nguyễn Mại ngăn hai người này lại rồi xưng danh và sai cắt tấm vải làm đôi chia cho mỗi người một mảnh.
Lụa chia xong, ông quan sát thấy một trong hai phụ nữ vui vẻ ôm lụa bỏ đi nhanh, người còn lại đứng nguyên chỗ cũ ôm lụa nước mắt lưng tròng. Ngay lập tức, ông sai người đuổi theo bắt người đàn bà, trả mảnh lụa đã chia cho người còn lại. Người đàn bà bị bắt sau nửa ngày giam đã thú nhận mình là kẻ trộm.Bảo Hà tổng hợp

No comments:

Post a Comment