Sunday, June 25, 2017

Khi khát khao nam nữ bị coi là 'suy đồi đạo đức'

2017 Wave Gothic Gathering Annual PicnicBản quyền hình ảnhSEAN GALLUP/GETTY IMAGES
Phần 1: Khi niềm hoan lạc bị coi là bệnh hoạn
Từ điển Y học của Dorland năm 1901 định nghĩa dị tính luyến ái là "sở thích tình dục khác thường hoặc lệch lạc với giới tính khác."
Hơn hai thập niên sau, vào năm 1923, từ điển Merriam Webster cũng định nghĩa tương tự, nói đây là "khao khát tình dục bệnh hoạn với người có giới tính khác."
Mãi đến năm 1934, dị tính luyến ái mới được định nghĩa giống như cách ta nghĩ ngày nay: "là thể hiện đam mê tính dục với người có giới tính khác mình, là tình dục bình thường."
Mỗi khi tôi kể điều này cho mọi người, họ đều phản ứng theo kiểu cực kỳ hoài nghi. "Không thể như vậy được! Rõ ràng điều này có vẻ không đúng. Điều này cứ như thể là dị tính luyến ái chỉ mới có đây thôi."
Vài năm trước, một video clip "người qua đường" được lan truyền đi, trong đó người quay phim hỏi mọi người liệu họ có nghĩ đồng tính luyến ái có sẵn khi người ta sinh ra cùng với xu hướng tình dục của họ hay không.
Tuy có những phản ứng rất khác nhau nhưng hầu hết mọi người đều nói ý đại loại "đó là sự kết hợp của tự nhiên và quá trình nuôi dưỡng."
Người phỏng vấn sau đó hỏi thêm một câu, và câu này rất quan trọng với thử nghiệm này: "Khi nào là lúc bạn quyết định rằng mình là dị tính?"
Hầu hết mọi người đều khựng lại, thành thật thú nhận với vẻ hơi bẽn lẽn là họ chưa bao giờ nghĩ về điều đó.
Cảm thấy định kiến bị phơi bày, cuối cùng mọi người nhanh chóng nhượng bộ trước quan điểm rõ ràng của người quay phim rằng: người đồng tính là bẩm sinh, người dị tính cũng là bẩm sinh.
Thông điệp từ video có vẻ cho thấy tất cả cảm xúc tình dục của chúng ta là "sẵn có", rằng chúng ta chẳng cần phải giải thích gì về việc đồng tính cũng như dị tính.
Thế nhưng có vẻ như người quay video đó lại không thấy vậy, và hàng triệu người đã chia sẻ video đó cũng cùng tâm trạng; họ cho rằng chúng ta cần lời giải thích cho cả hai hiện tượng trên.
Có rất nhiều công trình có giá trị, cả trên lĩnh vực học thuật và đại chúng, nghiên cứu về cách xã hội đưa ra định nghĩa về khao khát tình dục đồng tính.
Kết quả là không mấy ai ngạc nhiên khi có người nói về "sự trỗi dậy của người đồng tính".
Thật vậy, vì hầu hết chúng ta đều biết rằng khái niệm tình dục đồng giới mới chỉ xuất hiện tại một khoảng thời gian rõ ràng trong lịch sử loài người. Trong khi đó, ta lại không được học về một hiện tượng tương tự đã khiến tình dục khác giới xuất hiện.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thiếu sót trong việc giáo dục vấn đề này, gồm cả do định kiến tôn giáo và do nhiều thành kiến, e ngại về đồng tính.
Trong lúc tình dục dị tính rõ ràng là đã tồn tại từ khi xuất hiện loài người cho tới nay, nhưng khái niệm tình dục dị tính lại mới chỉ được sáng tạo ra trong thời gian gần đâyBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTrong lúc tình dục dị tính rõ ràng là đã tồn tại từ khi xuất hiện loài người cho tới nay, nhưng khái niệm 'tình dục dị tính' lại mới chỉ được sáng tạo ra trong thời gian gần đây
Nhưng lý do lớn nhất khiến ta không hoài nghi về nguồn gốc của tình dục khác giới có lẽ là vì nó có vẻ tự nhiên. Bình thường. Không cần thiết phải đặt câu hỏi về một thứ đã "tồn tại sẵn".
Nhưng tình dục khác giới không hẳn luôn "tồn tại sẵn." Và chẳng có lý do gì để ta tưởng quan hệ này lúc nào cũng có sẵn.

Khi tình dục giữa những người khác giới là bất thường

Quan điểm đầu tiên coi tình dục dị tính là bất thường dựa trên lập luận khao khát tình dục giữa những người khác giới phát sinh là vì nhu cầu sinh sản: có vẻ rõ ràng là sự giao hợp khác giới đã tồn tại từ thuở con người được khai sinh - quả là chúng ta chẳng thể nào tồn tại lâu đến vậy nếu không có điều này.
Nhưng vấn đề ở đây là chúng ta cần nhìn nhận ra sao đối với quan điểm cho rằng quan hệ tình dục khác giới đồng nghĩa với việc giao hợp nhằm mục đích sinh sản. Hoàn toàn không phải vậy.
"Tình dục không có lịch sử," nhà lý luận kỳ cựu David Halperin tại Đại học Michigan viết, vì nó "bắt nguồn từ tính năng của cơ thể."
Nhưng mặt khác, tình dục rõ ràng là một "sản phẩm văn hóa", và nó có lịch sử.
Nói cách khác, trong khi hành vi tình dục có sẵn ở hầu hết các loài, thì cách gọi tên và phân loại các hành vi đó, và cách gọi những đối tượng thực hành hành vi đó, lại là một hiện tượng lịch sử, và cũng nên được nghiên cứu.
Có thể nói thế này: luôn luôn có tồn tại bản năng tính dục trong thế giới động vật (giới tính - sex). Nhưng đến một thời điểm nào đó, con người bắt đầu gán các ý nghĩa cho những bản năng đó (bản năng giới tính - sexuality).
Khi con người nói về quan hệ tình dục khác giới, nghĩa là ta đang đề cập đến góc độ thứ hai.
Hanne Blank nêu ra cách thảo luận hữu ích về chủ đề này trong cuốn "Straight: The Surprisingly Short History of Heterosexuality" (Lịch sử ngắn ngủi một cách đáng ngạc nhiên của quan hệ tình dục khác giới) với sự so sánh từ lịch sử tự nhiên.
Năm 2007, Học viện Quốc tế về Khám phá Các loài liệt kê cá đuối điện (Electrolux addisoni) là một trong "10 loài mới nhất" trong năm.
Thế nhưng tất nhiên là loài cá đó không đột nhiên xuất hiện vào năm 2007 - đó chỉ là lúc chúng lần đầu được phát hiện và đặt tên khoa học thôi.
Và Blank kết luận: "Tài liệu ghi chép về một loài đặc thù, bởi một cơ quan đặc thù chính là thứ đã chuyển loài cá đuối điện Electrolux từ một loài 'đã từng tồn tại' thành một loài 'từng được biết'."
Điều tương tự đã xảy ra với định nghĩa về quan hệ tình dục khác giới. Đó là vào cuối thế kỷ 19, hành vi này đã được chuyển từ trạng thái tồn tại sẵn thành một khái niệm được biết đến.
"Trước năm 1868, chưa từng có khái niệm quan hệ dị tính," Blank viết. Cũng chưa có khái niệm người đồng tính.
Khi ấy, con người vẫn chưa xác lập rõ rệt được rằng mỗi người khác nhau "sẽ khác nhau về cách yêu đương và về mức độ khao khát tình dục và những trải nghiệm tình dục cá nhân".
Tất nhiên là vào thời điểm đó thì đã có các hành vi tình dục được xác định, được ghi nhận và thường là bị cấm đoán.
Nhưng vấn đề ở đây là thứ được xác định là hành vi tình dục, chứ không phải là những người thực hiện hành vi đó.
Trong phần Khi niềm hoan lạc bị coi là bệnh hoạn, tác giả đã giải thích rõ lý do vì sao chỉ mới cách đây chừng 100 năm, quan hệ tình dục giữa đàn ông và đàn bà từng bị coi là "khao khát bệnh hoạn", "lệch lạc giới tính", hoặc nhẹ nhàng nhất là "sở thích tình dục khác thường".
Ngày nay, hành vi tình dục này được thừa nhận là "bình thường".
Vậy điều gì đã dẫn đến sự thay đổi này?
Chính là ngôn ngữ!
Vào cuối thập niên 1860, nhà báo người Hungary Karl Maria Kerthbeny đã xác định bốn cụm từ để mô tả các trải nghiệm tình dục: dị tính (heterosexuality), đồng tính (homosexual), và hai từ, nay đã bị lãng quên, mô tả hành vi thủ dâm và quan hệ với động vật, là quan hệ đơn tính luyến ái (monosexual) và quan hệ hỗn tạp (heterogenit).
Kerthbeny sử dụng từ "quan hệ dị tính" một thập niên sau đó, khi ông được yêu cầu viết một chương sách tranh luận về việc phi hình sự hóa hành vi đồng tính.
Biên tập viên Gustav Jager quyết định không xuất bản nó, nhưng cuối cùng ông đã sử dụng cụm từ của Kertbeny trong một quyển sách xuất bản vào năm 1880.
Karl Maria Kertbeny là người đã đưa ra cách gọi Bản quyền hình ảnhWIKIMEDIA COMMONS
Image captionKarl Maria Kertbeny là người đã đưa ra cách gọi "tình dục dị tính"
Lần tiếp theo từ này được xuất bản là vào năm 1889, khi nhà tâm thần học người Áo-Phổ tên là Richard von Krafft-Ebing đã đặt cụm từ này vào quyển "bệnh tâm thần tình dục" (Psychopathia Sexualis), trong một danh mục các rối loại tính dục.
Nhưng trong khoảng 500 trang, từ "quan hệ dị tính" chỉ được sử dụng 24 lần và thậm chí nó không được đưa vào danh sách các từ cần tra cứu, tham khảo.
Đó là bởi vì Krafft-Ebing hứng thú với "bản năng tính dục trái khoáy" (sự kỳ quặc) hơn là "bản năng tính dục".
"Bình thường" là một từ mạnh, tất nhiên, đã được sử dụng sai rất nhiều trong lịch sử.
Hệ thống thứ bậc dẫn đến chế độ nô lệ có thời đã được coi là bình thường, cũng như thuyết vũ trụ học địa tâm (thuyết coi Trái Đất là cái rốn của vũ trụ).
Chỉ khi các cơ sở nền tảng căn bản, vốn tạo nền móng cho quan điểm chung trong xã hội, bị nghi ngờ và bác bỏ thì những sự "bình thường" đó mới bị xoá bỏ.
Với Krafft-Ebing, khao khát tính dục bình thường được đặt trong bối cảnh rộng hơn là tính năng sinh sản, một ý tưởng vốn vẫn chiếm ưu thế trong các lý thuyết tính dục của phương Tây.
Trong thế giới phương Tây, một thời gian dài trước khi các hành vi tính dục được chia thành các loại như dị tính/đồng tính thì có một cách chia khác tồn tại: Sinh sản hoặc không sinh sản.
Karl Maria Kerthbeny đã xác định bốn cụm từ để mô tả các trải nghiệm tình dục, trong đó có từ Bản quyền hình ảnhOSCAR DEL POZO/AFP/GETTY IMAGES
Image captionKarl Maria Kerthbeny đã xác định bốn cụm từ để mô tả các trải nghiệm tình dục, trong đó có từ "dị tính" và "đồng tính"
Chẳng hạn, Kinh Thánh lên án hành vi quan hệ tình dục đồng giới với lý do tương tự như khi lên án hành vi thủ dâm: đó là các hành vi bị coi là làm hoang phí đi các hạt sự sống.
Trong khi quan điểm này được rao giảng rộng rãi và giờ vẫn còn được Giáo hội Thiên Chúa áp đặt và sau đó cả Đạo Tin Lành cũng vậy, thì điều quan trọng cần ghi nhận ở đây là cách đánh giá này không xuất phát từ Do Thái giáo hay Kito Giáo, mà là từ Chủ nghĩa Khắc kỷ.
Như nhà đạo đức học Công giáo Margaret Farley chỉ ra, những người theo Chủ nghĩa Khắc kỷ "giữ quan điểm cứng rắn về sức mạnh của ý chí con người trong việc điều chỉnh cảm xúc và cả khao khát, như những quy tắc vì sự bình an trong tâm hồn."
Chẳng hạn, Musonius Rufus cắt nghĩa trong bài giảng "Về khoái lạc nhục dục" (On Sexual Indulgence) rằng các cá nhân phải tự bảo vệ mình chống lại sự tự thỏa mãn, trong đó gồm cả đam mê hoan lạc quá độ.
Để kìm hãm sự ham muốn tình dục, nhà thần học Todd Salzman, Rufus và những người theo Chủ nghĩa Khắc kỷ khác cố gắng định vị nó là "trong bối cảnh lớn hơn ý nghĩa con người" - lập luận rằng tình dục chỉ thực sự hợp lẽ khi nó nhằm mục đích sinh sản.
Những nhà thần học Kito Giáo ban đầu cũng theo đuổi đạo lý sinh sản trong quan hệ vợ chồng này, và đến thời Augustine, tình dục để phục vụ sinh sản là kiểu tình dục duy nhất được coi là bình thường.
Khi Krafft-Ebing coi chuyện quan hệ tình dục đương nhiên là để nhằm mục đích sinh sản, thì ông thực sự đã mở rộng nghĩa nó ra. "Trong yêu đương tình dục thì lý do bản năng thực sự, tức là nhằm duy trì nòi giống, không diễn ra một cách có ý thức," ông viết.
Nói cách khác, bản năng tính dục chứa đựng mục đích sinh sản - và mục đích này đã sẵn có như vậy cho dù những người có quan hệ tình dục "bình thường" không để ý đến sự tồn tại của nó, theo Krafft-Ebing.
Spencer Platt/Getty ImagesBản quyền hình ảnhSPENCER PLATT/GETTY IMAGES
Vào cuối thập niên 1860, nhà báo người Hungary Karl Maria Kerthbeny đã xác định bốn cụm từ để mô tả các trải nghiệm tình dục: dị tính (heterosexuality), đồng tính (homosexual), và hai từ, nay đã bị lãng quên, mô tả hành vi thủ dâm và quan hệ với động vật, là quan hệ đơn tính luyến ái (monosexual) và quan hệ hỗn tạp (heterogenit).
Đây cũng là lúc lần đầu tiên khái niệm "tình dục dị tính" xuất hiện.
Mãi hơn 10 năm sau, biên tập viên Gustav Jager mới sử dụng cụm từ của Kertbeny trong một quyển sách xuất bản vào năm 1880.
Lần tiếp theo từ này được xuất bản là vào năm 1889, khi nhà tâm thần học người Áo-Phổ tên là Richard von Krafft-Ebing đã đặt nó vào quyển "bệnh tâm thần tình dục" (Psychopathia Sexualis), trong một danh mục các rối loại tính dục.
Jonathan Ned Katz trong quyển "Sự phát minh ra quan hệ tình dục khác giới" đã ghi nhận ảnh hưởng trong bước tiến mà Krafft-Ebing tạo ra. "Đặt việc sinh sản qua một bên trong phần vô thức, Krafft-Ebing đã tạo ra một không gian nhỏ mờ khuất, ở nơi đó một tiêu chuẩn mới về sự khoái lạc bắt đầu phát triển."
Sự quan trọng trong bước chuyển dịch này - từ bản năng sinh sản đến sự khêu gợi, đam mê tính dục - không hề là phóng đại, vì điều này rất quan trọng trong quan niệm hiện đại về tình dục.
Khi hầu hết mọi người ngày nay nghĩ về quan hệ tình dục khác giới, họ có thể nghĩ về một thứ tương tự như sau: Từ rất trẻ Billy đã hiểu anh rất quyến rũ với các cô gái. Một ngày nọ, anh tập trung năng lực quyến rũ đó vào Suzy, và anh đã tán tỉnh cô. Hai người yêu nhau, và thể hiện những hành động tính dục với khao khát của họ. Và từ đó họ sống bên nhau hạnh phúc mãi mãi.
Không có tác phẩm của Krafft-Ebing, câu chuyện này có lẽ sẽ không bao giờ được coi là "bình thường".
Không có đề cập nào nhắc tới, dù là bóng gió, về chuyện sinh sản.
John Moore/Getty ImagesBản quyền hình ảnhJOHN MOORE/GETTY IMAGES
Nhận định bản năng tình dục bình thường dựa trên khao khát tính dục là cuộc cách mạng cốt lõi trong cách suy nghĩ về tình dục.
Tác phẩm của Krafft-Ebing đặt nền tảng cho bước chuyển dịch văn hóa vào giữa năm 1923, khi định nghĩa quan hệ tình dục khác giới là "bệnh hoạn" cho đến thay đổi định nghĩa vào năm 1934, coi đó là "bình thường".

Tình dục và đô thị

Ý tưởng và từ vựng thường là sản phẩm của thời đại mà chúng tồn tại.
Điều này hiển nhiên là đúng với quan hệ tình dục khác giới, khi nó được sinh ra trong thời đại đời sống Mỹ đang trở nên dần hợp thức hóa hơn.
Như Blank tranh luận, việc "phát minh" ra quan hệ tình dục khác giới tương ứng với sự phát triển của tầng lớp trung lưu.
Cuối thế kỷ 19, dân số Châu Âu và ở các thành phố Bắc Mỹ bắt đầu bùng nổ. Vào năm 1900, thành phố New York có 3,4 triệu dân, đông gấp 56 lần dân số một thế kỷ trước đó.
Khi chuyển đến sống ở các đô thị lớn, con người ta mang theo cả những sự khác thường trong tính dục như gái điếm hay quan hệ tình dục đồng giới.
"Nếu đem so sánh các thị trấn với làng quê nông thôn," Blank viết, "các thành phố có vẻ như là nơi tập trung của những hành vi tính dục quá trớn và lầm lạc."
Hồi dân số nơi đô thị còn ít, Blank nói, người ta dễ dàng điều khiển các hành vi đó hơn, và việc điều khiển cũng dễ dàng hơn khi nó diễn ra ở phạm vi các vùng nhỏ và ngoại ô, nơi sự quen biết hàng xóm có sức chi phối; chỉ cần là những cuộc đàm tiếu trong thị trấn nhỏ cũng đã đủ để gây tác động to lớn.
Vì sự hiểu biết ngày càng nhiều của công chúng đối với những hành vi tính dục diễn ra song song với làn sóng các tầng lớp bên dưới trong xã hội tràn vào các thành phố, "hành vi tình dục sai trái ở đô thị thường bị phê phán" trong tầng lớp lao động và người nghèo, Blank cho biết.
Quan trọng là có một tầng lớp trung lưu mới nổi đã tự tách biệt mình khỏi sự quá độ đó. Giới trí thức cần có một cách nào đó để bảo vệ các thành viên khỏi "một mặt là sự suy đồi quý tộc và mặt kia là khỏi sự đông đúc kinh khủng của thành phố".
Điều này đòi hỏi sự tồn tại của một "hệ thống có thể ứng dụng và tái lập nhiều lần trong quản lý xã hội để có thể ứng dụng trên quy mô lớn."
Trong quá khứ, các hệ thống này có thể là dựa vào tôn giáo, nhưng "tình trạng thế tục mới đòi hỏi những điều chỉnh thế tục mới, thông qua luật pháp," Blank nhận định.
TORSTEN SILZ/AFP/Getty ImagesBản quyền hình ảnhTORSTEN SILZ/AFP/GETTY IMAGES
Và điều đó dẫn tới sự xuất hiện của những chuyên gia tình dục như Krafft-Ebing, người viết giới thiệu trong bản đầu tiên của tác phẩm Psychopathia rằng tác phẩm của ông được tạo ra để "kìm hãm [con người] vào những điều kiện được coi là hợp pháp."
Thực sự là, phần mở đầu cuốn sách viết tiếp, nghiên cứu hiện thời "thể hiện tác động có lợi dựa trên cơ sở luật lệ và pháp luật."
Tác phẩm của Krafft-Ebing đã ghi chép lại những sự bất thường trong tính dục và cho thấy rõ tầng lớp trung lưu mới nổi đã không còn coi sự lầm lạc trong hành vi tình dục (khác giới) là tội lỗi nữa, mà coi đó là sự suy đồi đạo đức - một trong những sự mang tiếng tồi tệ nhất mà một người có thể gánh chịu.
"Khi gọi một người đàn ông là "đồ Sở Khanh", và bạn đã định vị luôn vị trí xã hội của anh ta," William James viết vào năm 1895. "Khi gọi anh ta là "kẻ suy đồi" là bạn đã xếp anh ta vào nhóm đáng ghét nhất trong loài người." Như Blank đã chỉ ra, sự suy đồi về tính dục trở thành thước đo để xác định nhân cách con người.
Nhưng sau hết, sự suy đồi là quá trình đảo ngược của thuyết Darwin về xã hội.
Nếu như tình dục vì mục đích sinh sản là điều cốt yếu cho sự tiến hóa liên tục của giống loài, thì sự lệch lạc so với mục đích đó sẽ là một đe dọa tới toàn bộ tổ chức xã hội.
May mắn thay, sự lệch lạc đó có thể đảo ngược nếu như được phát hiện kịp thời, nhiều chuyên gia nghĩ vậy.
Sự hình thành "loạn dâm đồng giới" xảy ra, theo Krafft-Ebing, qua nhiều giai đoạn, và ban đầu có thể chữa trị được.
Qua tác phẩm của mình, theo Ralph M Leck, tác giả của quyển Vita Sexualis (Đời sống tình dục), thì "Krafft-Ebing đã phát đi một lời kêu gọi hùng hồn chống lại sự suy đồi và sự đồi bại. Tất cả mọi người có ý thức công dân đều phải dự phần trên tháp canh xã hội."
Và điều này rõ ràng là một câu hỏi về đối với quyền công dân: hầu hết cư dân từ thuộc địa xuất thân từ tầng lớp trung lưu, vốn là tầng lớp chiếm số lượng đông đảo và đang phát triển lớn mạnh thêm.
Brandon Ambrosino từng viết cho New York Times, Boston Globe, The Atlantic, Politico, Economist và nhiều tờ báo khác. Ông sống ở Delaware, và là nghiên cứu sinh thần học tại Đại học Villanova. Đây là phần 3 trong bài nghiên cứu gồm phần về chủ đề tình dục dị tính của ông.
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future.
Xem toàn bộ:

No comments:

Post a Comment