Sunday, June 18, 2017

Người suy thận nên ăn gì và không nên ăn gì?

SKĐS - Theo Ths. BS Nguyễn Văn Tiến – Viện Dinh dưỡng Quốc gia, khả năng bài tiết lọc chất độc của người bị suy thận rất kém. Vì vậy, người suy thận luôn phải chú ý tới chế độ ăn nhất là lượng muối.
Suy thận cấp là một hội chứng được biểu hiện bằng sự giảm nhanh của mức lọc cầu thận với thể tích nước tiểu <0 0="" 130="" 50="" 6="" b="" c="" ch="" creatinin="" d="" dl="" g="" gi="" ho="" huy="" i="" k="" kg="" l="" m="" mg="" ml="" n="" ng.="" ng="" nh="" o="" p="" so="" t="" th="" tr="" v="">
Hậu quả: ứ đọng các sản phẩm chuyển hoá của nitơ, rối loạn cân bằng nước, điện giải, axit-bazơ.
Suy thận mạn là tổn thương không phục hồi của các đơn vị thận, làm chức năng thận mất dần và vĩnh viễn theo thời gian. Quá trình suy thận mạn diễn biến kéo dài, âm ỉ với những triệu chứng: sưng phù, mệt mỏi, xanh xao, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần... Ở giai đoạn cuối, người bệnh đứng trước nguy cơ tử vong do các biến chứng.
Về chế độ dinh dưỡng, người suy thận không nên ăn quá nhiều thức ăn giàu canxi, đạm như: nghêu, sò, tôm, cua... Đặc biệt, việc ăn mặn sẽ dẫn tới cơ thể giữ nước, làm tăng gánh nặng cho thận. Người bệnh thận chỉ nên ăn từ 2-4g muối/ ngày và giảm lượng đạm tiêu thụ tùy thuộc vào mức độ suy thận.
Bên cạnh đó, uống nhiều nước là giải pháp hiệu quả giúp thận lọc chất độc, cặn bã ra ngoài. Nguyên tắc chung là nước phải đủ cho cơ thể (mỗi người trung bình cần 2,5 lít nước/ngày). Nếu nước tiểu ít, phải uống nhiều nước. Giai đoạn suy thận nặng, bệnh nhân hạn chế uống nước để giảm áp lực cho thận và không dùng nhiều đồ uống lợi tiểu như trà, cà phê.
Việc điều trị suy thận được tiến hành theo 2 hướng: điều trị bảo tồn (chế độ dinh dưỡng hợp lý kết hợp dùng thuốc) và điều trị thay thế (lọc máu ngoài thận, ghép thận). Tùy theo giai đoạn của suy thận (cấp, hay mạn tính,..), tuổi của bệnh nhân mà có chế độ dinh dưỡng phù hợp.
Người suy thận mạn nên ăn các thức ăn có chất bột, chất béo
Chế độ dinh dưỡng của người trưởng thành bị suy thận như sau:
Suy thận cấp, giai đoạn trước lọc thận:
Về năng lượng: 35 kcal/kg cân nặng/ngày hoặc từ 1800- 1900 kcal/ngày. Lượng glucid là 310 – 350 gam/ngày.
Về protein dưới 0,6 g/kg cân nặng/ngày hay lượng protein dưới 33 g/ngày. Tỷ lệ protein động vật/protein tổng số trên 60%.
Về lipid: năng lượng do lipid cung cấp đạt 20-25% tổng năng lượng/ngày hay lượng lipid là 40-50 g/ngày. Trong đó acid béo chưa no 1 nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 tổng số lượng lipid.
Đảm bảo cân bằng nước và điện giải: Ăn nhạt tương đối lượng Natri dưới 2000mg/ngày. Hạn chế các thực phẩm giàu kali, lượng kali là 1000 mg/ngày. Hạn chế các thực phẩm giàu phosphat, lượng phosphat là 600 mg/ngày.
Hạn chế nước ăn và uống khi có chỉ định của bác sỹ, nhưng lượng nước trong ngày cung cấp cho cơ thể được tính như sau:
V nước = V nước tiểu + V dịch mất bất thường (sốt, nôn, ỉa chảy) + 300 – 500 ml (tùy theo mùa).
Cung cấp đủ vitamin và khoáng chất. Ăn từ 4 - 6 bữa/ngày.

Người suy thận mạn hạn chế ăn mặn
Suy thận mạn giai đoạn 1-2
Về năng lượng: 35 kcal/kg cân nặng/ngày hoặc từ 1800 - 1900 kcal/ngày. Lượng glucid là 313 – 336 gam/ngày.
Về protein từ 0,6 – 0,8 g/kg cân nặng/ngày hay lượng protein dưới 40-44 g/ngày. Tỷ lệ protein động vật/protein tổng số ≥ 60%.
Về lipid: năng lượng do lipid cung cấp đạt 20-25% tổng năng lượng/ngày hay lượng lipid là 40-50 g/ngày. Trong đó acid béo chưa no 1 nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 tổng số lượng lipid.
Đảm bảo cân bằng nước và điện giải: Ăn nhạt tương đối lượng Natri dưới 2000mg/ngày. Hạn chế kali khẩu phần khi kali máu trên 6 mmol/L (lượng kali là 2000-3000 mg/ngày). Hạn chế hoặc sử dụng vừa phải các thực phẩm giàu kali. Hạn chế các thực phẩm giàu phosphat, lượng phosphat dưới 1200 mg/ngày.
Hạn chế nước ăn và uống khi có chỉ định của bác sỹ, nhưng lượng nước trong ngày cung cấp cho cơ thể được tính như sau:
V nước = V nước tiểu + V dịch mất bất thường (sốt, nôn, ỉa chảy) + 300 – 500 ml (tùy theo mùa).
Cung cấp đủ vitamin và khoáng chất. Ăn 4 bữa/ngày.
Thức ăn nên hạn chế
Muối (ăn nhạt nếu có phù, mỗi ngày chỉ nên dùng khoảng 2 thìa nhỏ nước mắm); ăn hạn chế đạm thực vật như đậu đỗ, lạc, vừng, tránh ăn nội tạng động vật; đồ nướng, rán, thực phẩm giàu kali (cam, chuối, nho, đào, chanh, bưởi, lạc, hạt điều, dẻ, socola); thực phẩm giàu phốt-pho (pho-mat, cua, lòng đỏ trứng, thịt thú rừng, đậu đỗ…).
Thức ăn được khuyến khích: Chất bột (khoai lang, khoai sọ, miến dong); chất đường (đường, mía, mật ong, hoa quả ngọt); chất béo (có thể ăn khoảng 30 - 40g/ngày, ưu tiên chất béo thực vật); bổ sung canxi (sữa); bổ sung vitamin (nhóm B, C, acid folic…).
Nước uống
Lượng nước uống hàng ngày nên sử dụng = 300 đến 500ml (tùy theo mùa) + lượng nước tiểu hàng ngày + lượng dịch mất bất thường, hạn chế đồ uống có ga, cồn (bia, rượu...).
Ths. Bs. Nguyễn Văn Tiến - Viện Dinh dưỡng Quốc Gia
SKĐS - Nghiên cứu của các nhà khoa học Anh được công bố trên tạp chí Journal of Clinical Periodontology cho biết: Người mắc bệnh thận mạn tính, trong đó có suy thận, nếu bị kèm theo viêm nha chu (viêm lợi) hay bệnh nướu răng nặng thường có nguy cơ tử vong cao hơn so với những người “sở hữu” nướu răng khỏe mạnh.
Mối liên quan giữa suy thận và viêm nha chu
Viêm nha chu là một bệnh nướu mạn tính nghiêm trọng, không truyền nhiễm nhưng gây tổn thương cho các mô mềm và xương hỗ trợ răng. Đây là bệnh thứ sáu trong số các bệnh thường gặp và ảnh hưởng đến khoảng 11,2% dân số trên toàn thế giới.
Một nhóm các nhà khoa học thuộc trường đại học Birmingham (Anh), dẫn đầu là Giáo sư Iain Chapple đã tiến hành khảo sát trên 13.734 người, trong đó có 861 (6%) người tham gia bị một trong số các bệnh thận mạn tính, được theo dõi trong khoảng hơn 14 năm. Họ đã đánh giá mối liên hệ giữa bệnh viêm nha chu với tỷ lệ tử vong ở những người mắc bệnh thận mạn tính và so sánh với các yếu tố nguy cơ gây tử vong khác (như bệnh tiểu đường).
Miệng là một “con đường” cho vi khuẩn xâm nhập vào máu qua nướu răng
Sau khi xem xét ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ khác, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng: Sau 10 năm, tỷ lệ tử vong từ những nguyên nhân khác ở người mắc bệnh thận mạn tính nhưng không bị viêm nha chu và tiểu đường là 32%; còn tỷ lệ tử vong ở người bị bệnh thận mắc kèm viêm nha chu và tiểu đường là 43%.
Nhóm nghiên cứu đang tiếp tục tìm hiểu xem mối liên hệ này có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay chính bệnh nướu răng là nguyên nhân gây ra bệnh thận. Họ đặt ra câu hỏi, liệu điều trị bệnh nướu răng và tăng cường sức khỏe răng miệng có giúp cải thiện và mang đến triển vọng tốt hơn cho những người mắc bệnh thận hay không?
"Căn cứ vào kết quả chẩn đoán của bệnh nướu răng, chúng ta có thể nhận thấy một cơ sở dữ liệu mới để phát hiện sớm nhiều vấn đề khác. Nhờ vậy, các chuyên gia nha khoa có thể tiếp cận cụ thể hơn nhằm mục đích sàng lọc bệnh thận mạn tính”, Giáo sư Chapple cho biết.
Phòng ngừa suy thận bằng thảo dược
Theo kết quả nghiên cứu trên, chúng ta thấy rằng, viêm nha chu có thể là yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong ở người mắc các bệnh về thận, trong đó có suy thận. Vì vậy, bệnh nhân suy thận cần thường xuyên vệ sinh răng miệng sạch sẽ, súc miệng bằng nước muối sinh lý mỗi ngày để phòng ngừa viêm nha chu, góp phần giảm “gánh nặng” khi mắc bệnh thận.
Tại Việt Nam, người mắc bệnh thận mạn tính như suy thận, viêm cầu thận,… có thể áp dụng phương pháp giúp cải thiện chức năng thận tốt hơn bằng cách dùng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, an toàn. Trong số đó, tiêu biểu là thực phẩm chức năng có thành phần chính chiết xuất từ cây dành dành, kết hợp với đan sâm, hoàng kỳ, trầm hương… Sản phẩm gồm các thành phần thảo dược này giúp tăng cường chức năng thận, ngăn ngừa sự phá hủy thận; phòng ngừa, hỗ trợ điều trị và làm chậm tiến trình suy thận; ngăn chặn nguy cơ tử vong do suy thận từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có viêm nha chu.
Sử dụng thảo dược giúp hỗ trợ điều trị suy thận
Những người mắc suy thận cần chủ động bảo vệ sức khỏe răng miệng, thăm khám định kỳ và đừng quên dùng sản phẩm thiên nhiên chứa thành phần chính từ cây dành dành mỗi ngày nhằm hỗ trợ điều trị suy thận hiệu quả.

No comments:

Post a Comment