Tuesday, June 27, 2017

Nhượng Tống/HOÀNG PHẠM TRÂN (1904 - 1949)

Nhượng Tống (1904-1949), tên thật là Hoàng Phạm Trân, vì bút danh Nhượng Tống nên còn được gọi là Hoàng Nhượng Tống. Ông là nhà vănnhà báo, dịch giả và là nhà cách mạng Việt Nam. Ông là người làng Đô Hoàng, xã Yên Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân sinh ông là Hoàng Hồ, thi đỗ tú tài đời nhà Nguyễn, nổi tiếng chống Pháp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chính trị của ông sau này. Ngoài người cha ruột, ông còn làm con nuôi ông Phạm Bùi Cẩm ở phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Sinh ra trong một gia đình Nho học, nên Nhượng Tống được học chữ Hán ngay từ nhỏ, sau mới tự học thêm chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Mặc dù học lực rất uyên bác, nhưng ông không có một văn bằng nào cả.Năm 1921, báo Khai hóa ra đời, đã thấy ông có bài đăng trên báo ấy. Kể từ đó, ông lần lượt viết cho các báo: Nam thànhThực nghiệp dân báoHồn cách mạngHà Nội tân văn...
Năm 1924, ông làm trợ bút cho tờ Thực nghiệp dân báo ở Hà Nội.
Cuối năm 1926Phạm Tuấn Lâm và Phạm Tuấn Tài thành lập Nam Đồng Thư xã ở bên bờ hồ Trúc Bạch, Hà Nội, chuyên trước tác, dịch thuật và xuất bản các sách với mục đích nhen nhúm tinh thần ái quốc, như: Cách Mạng Thế giới, Nguyên Tắc Tam Dân v.v.... Sau đó, Nhượng Tống đến tham gia, và trở thành một thành viên nòng cốt .
Thời gian ông viết và dịch sung sức nhất là khoảng thập niên 1940 với những truyện dịch cũng như tác phẩm khác.
    Năm 1927, Nguyễn Thái Học tham gia Nam Đồng thư xã và thành lập chi bộ để tiến tới thành một đảng cách mạng. Ngày 25-12-1927, Nhượng Tống cùng với các chiến hữu thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) tại làng Thể Giao, Hà Nội.
Tháng 10 năm 1927Nguyễn Thái Học tham gia Nam Đồng thư xã và thành lập chi bộ để tiến tới thành một đảng cách mạng. Song khác với Phạm Tuấn TàiPhạm Tuấn LâmNguyễn Thái Học... Nhượng Tống chủ trương "hòa bình cách mạng", tức không ủng hộ tư tưởng "bạo lực cách mạng", dùng "sắt và máu để giành lại độc lập dân tộc."
Ngày 25 tháng 12 năm 1927, Nhượng Tống cùng với các đồng chí thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng tại làng Thể Giao, Hà Nội. Ông là ủy viên trong Trung ương Đảng bộ với vai trò trọng yếu trong việc biên soạn văn thư tuyên truyền và huấn luyện đảng viên.
Năm 1929, theo kế hoạch của Nguyễn Thái Học, Nhượng Tống vào Huế gặp Phan Bội Châu, nhưng khi trở ra khi thì bị Pháp đón bắt. Hội đồng đề hình tuyên án ông 10 năm tù rồi đày ra Côn Đảo mãi đến năm 1936 mới được tha, nhưng vẫn chịu sự quản thúc tại quê nhà.
Khi ông đang ở nhà lao Côn Đảo, thì các đồng chí của ông tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930), nhưng bị thực dân Pháp đàn áp và khủng bố.
 Sau Cách mạng tháng Tám, vào tháng 12 năm 1945, ba đảng phái là: Việt Nam Quốc dân Đảng, Đại Việt Dân chính Đảng, Đại Việt Quốc dân Đảng liên minh thành Mặt trận quốc dân đảng Việt Nam, rồi cùng tham gia vào Chính phủ Liên hiệp Việt Nam. Tuy nhiên, đến cuối năm 1946, Pháp tái chiếm liên bang Đông Dương, thì Chính phủ Liên hiệp Việt Nam tan vỡ.
Năm 1947, hết thời gian bị quản thúc, Nhượng Tống trở lại Hà Nội (1947), rồi cùng với một số đồng chí tái tổ chức lại hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng tại một số vùng do quân Pháp kiểm soát.
Ngày 17 tháng 2 năm 1947, Việt Nam Quốc dân đảng tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc, chống lại chính quyền Việt Minh và ủng hộ giải pháp Bảo Đại, thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam. Ông làm cố vấn cho Tổng trấn Bắc phần Nghiêm Xuân Thiện. Nhưng rồi vì những mâu thuẫn trong giới chính khách Hà Nội, trong nội bộ Việt Nam Quốc dân Đảng, nên đầu năm 1949, ông lặng lẽ trở về hành nghề thầy thuốc Bắc tại 128 phố Chợ Hôm, Hà Nội.
Ngày 20-8-1949, ông bị công an mật của Việt Minh ám sát tại Hà Nội, vì ông đã viết báo nêu đích danh Hồ Chí Minh là kẻ bán đứng cụ Phan Bội Châu cho Pháp tại Thượng Hải, nước Tàu.
blank
 Sáng tác
  • Hai Bà Trưng, đệ nhất anh thư (1926) (?)
  • Trưng Vương, Hà Nội: Nam Đồng thư xã, 1927
  • Đời trong ngục, Nhà xuất bản Văn hóa mới, 1935
  • Lan Hữu, Hà Nội: Nhà in Lê Cường, 1940, tiểu thuyết tình cảm lãng mạn, có tính tự truyện
  • Nguyễn Thái Học, Hà Nội, Tân Việt, 1945 (in lần 2: 1949, lần 3, 1956, lần 4: 1973 đêu do Tân Việt tại Sài Gòn; tái bản sau 1975: Nhà xuất bản Hội nhà văn và Công ty Nhã Nam, 2014) (hồi ký)
  • Tân Việt cách mệnh đảng, Việt Nam thư xã, 1945
  • Hỗ trợ thảo luận, tác giả xuất bản, Tân Việt tổng phát hành, 1945
  • Treo cổ Hoàng Diệu
  • Phất cờ nương tử
  • Hoa cành Nam, Sài Gòn: Khai Trí, 1964, tập hợp những bài viết của Nhượng Tống từ 1945 và bạn bè viết về ông sau khi ông mất
Ngoài ra, ông còn sáng tác một số bài thơ trong đó có những bài đầy khí khái.

Tác phẩm dịch

  • Trang tửNam Hoa kinh, Hà Nội: Tân Việt, 1945 (in lần 2: Sài Gòn: Tân Việt, 1962; tái bản sau 1975: Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2001)
  • Khuất NguyênLy tao, 1944 (in lại trong: Khuất Nguyên, Sở từĐào Duy Anh và Nguyễn Sĩ Lâm dịch, Hà Nội, Nhà xuất bản Văn học, 1974)
  • Thơ Đỗ Phủ, Hà Nội: Tân Việt, 1944 (tái bản sau 1975: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 1996)
  • Sử ký Tư Mã Thiên, Hà Nội: Tân Việt, 1944 (in lần 2: Sài Gòn: Tân Việt, 1964)
  • Vương Thực PhủMái Tây (Tây sương ký), Hà Nội: Tân Việt, 1944 (in lần 2: Sài Gòn: Tân Việt; in lần 3: Sài Gòn: Tân Việt, 1963; tái bản sau 1975: Nhà xuất bản Văn học, 1992; Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 1999)
  • Tào Tuyết CầnHồng lâu mộng, 1945
  • Lão tử, Đạo đức kinh, 1945
  • Khổng tử, Kinh Thư, Sài Gòn: Tân Việt, 1963 (tái bản sau 1975: Nhà xuất bản Văn học, 2002)
Văn dịch ký bút danh Mạc Bảo Thần:
    Nhượng Tống là một nhà cách mạng chống Pháp bền bỉ, còn là một nhà văn nhà thơ và nhà dịch thuật uyên bác.Nhượng Tống đặc biệt yêu quý Đỗ Phủ, như ông tự nhận:
Tôi biết đọc thơ từ thuở nhỏ,
Trong thơ riêng thích thơ Đỗ Phủ.
Lại do ưu tư vì vận nước và hoạt động cách mạng gian truân, mang mối đồng cảm với Khuất Nguyên, Đỗ Phủ... nên ông dịch Ly tao, những vần thơ hiện thực của Đỗ... hết sức thành công, tái tạo được hồn thơ của nguyên tác.
Bàn về sự nghiệp văn chương của ông, nhà văn Vũ Ngọc Phan đã khen rằng: "Nhượng Tống có tâm hồn thi sĩ, nên quyển "Lan Hữu" gần như là một tiểu thuyết tả một thứ ái tình lý tưởng. Còn thơ ông có cái đặc sắc là bao giờ cũng già giặn và thiên về tình cảm rất nhiều...Ông quả là một nhà văn tài hoa, lãng mạn và rất sở trường về dịch thuật"
Nhượng Tống đặc biệt yêu quý Đỗ Phủ, như ông tự nhận:
Tôi biết đọc thơ từ thuở nhỏ,
Trong thơ riêng thích thơ Đỗ Phủ.
Lại do ưu tư vì vận nước và hoạt động cách mạng gian truân, mang mối đồng cảm với Khuất Nguyên, Đỗ Phủ... nên ông dịch Ly tao, những vần thơ hiện thực của Đỗ... hết sức thành công, tái tạo được hồn thơ của nguyên tác.
Bàn về sự nghiệp văn chương của ông, nhà văn Vũ Ngọc Phan đã khen rằng: "Nhượng Tống có tâm hồn thi sĩ, nên quyển "Lan Hữu" gần như là một tiểu thuyết tả một thứ ái tình lý tưởng. Còn thơ ông có cái đặc sắc là bao giờ cũng già giặn và thiên về tình cảm rất nhiều...Ông quả là một nhà văn tài hoa, lãng mạn và rất sở trường về dịch thuật"
- Sáng tác: Lan Hữu (1940, tiểu thuyết); Nguyễn Thái Học (1945, hồi ký) và một số bài thơ.
- Dịch thuật: Nam Hoa kinh và Đạo đức kinh của Lão Tử (1944-1945); Sử ký của Tư Mã Thiên (1944); Hồng lâu mộng của Đào Tuyết Cần (1945); Thơ của Đỗ Phủ (1945)...   
Bài thơ: “Cảm Đề Lịch Sử”(*) của Nhượng Tống, ông đã nghiền ngẫm, lo lắng cho quê hương vô cùng thống thiết:
Ba xứ non sông một giải liền
Máu đào, xương trắng điểm tô nên
Cơ trời dù đổi trò tang hải
Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên!
Có nước, có dân đừng rẻ rúng
Muốn còn, muốn sống phải đua chen
Giật mình nhớ chuyện nghìn năm cũ
Chiêm-Lạp xưa kia vốn chẳng hèn?!!!

Cảm phục: Nhượng Tống
Nhượng Tống, tâm can vẹn sắt son!
Lo toan chống Pháp, giữ giang sơn
Văn thơ, nghiền ngẫm gìn non nước
Nhiệt huyết quốc gia, mặc mất còn!
Nguyễn Lộc Yên  
(*)- Kính họa bài thơ “Cảm Đề Lịch Sử” của Nhượng Tống:
  
Nước Việt giang sơn một giải liền
Máu xương bảo vệ, điểm tô nên!
Tiền nhân lo lắng tình nòi giống
Hậu thế noi gương nghĩa tổ tiên
Đất nước tiêu điều, mau chấn chỉnh
Toàn cầu tân tiến, sớm đua chen?!
Mưu mô Đại Hán luôn rình rập
Gìn giữ thổ cương, chớ có hèn?!

Nguyễn Lộc Yên

No comments:

Post a Comment