Sunday, June 11, 2017

Đời ông chủ



TT - Sau tháng 4-1975, nhà báo Đinh Phong cùng nhóm phóng viên truyền hình túc trực ngày đêm theo những tổ công tác làm công việc “kê biên tài sản” của những nhà tư sản Sài Gòn ở chợ Bến Thành, chợ Tạ Thu Thâu... Bây giờ, những câu chuyện cũ trở về trong ông như một đoạn phim quay chậm, buồn bã.
Điểm sáng đáng ghi nhận nhất trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam hơn 30 năm qua là sự ra đời của Luật doanh nghiệp, người dân đã được quyền kinh doanh những gì luận pháp không cấm.
Tuy nhiên, trước khi có cột mốc đáng nhớ ấy, nhiều ông chủ doanh nghiệp VN đã trải qua lắm gian nan, lặn lội tìm cách "bung ra" trong chiếc áo cơ chế chính sách bắt đầu chật chội. Với họ, đời ông chủ cũng "ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh"...
Đời ông chủ Phóng to
Ông Trịnh Thành Nhơn - Ảnh: H.Đ.
Luật doanh nghiệp ra đời mở ra cơ hội làm ăn cho tất cả người dân, người dân được quyền kinh doanh những gì pháp luật không cấm. Đó là điểm sáng đáng ghi nhận nhất trong tiến trình phát triển kinh tế VN hơn 30 năm qua.
Tuy nhiên, trước khi có cột mốc đáng nhớ ấy, nhiều ông chủ doanh nghiệp VN đã trải qua lắm gian nan, lặn lội tìm cách “bung ra” trong những chiếc áo cơ chế chính sách chật chội.
Sau năm 1975, cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh như một cơn gió lốc đã quét qua cuộc đời của nhiều ông chủ doanh nghiệp tư nhân. Có những “cây cổ thụ” đã bị đánh bật gốc trong cơn lốc ấy, nhưng cũng có đám cỏ non vừa mới nhú, mềm mại uốn cong theo chiều gió và lớn lên.
Trong giới doanh nhân VN, tên ông Trịnh Thành Nhơn - tổng giám đốc Công ty hóa mỹ phẩm quốc tế ICC (Khu công nghiệp Đồng An, Bình Dương) - của ngày hôm nay không được nhắc đến nhiều bằng thời ông ngang dọc thị trường Nam Bắc với nhãn hiệu kem đánh răng Dạ Lan cách nay 20 năm.
Nhưng ông Nhơn bảo Dạ Lan không phải “người tình đầu” trong cuộc đời làm kinh tế của ông. Trước đó, ông đã cho ra đời một loại xà bông không nhãn hiệu, khi từ khe cửa sổ be bé của nhà mình ông nhìn thấy cả một thị trường rộng lớn bên ngoài. Ông gọi đấy là giai đoạn đấu tranh thầm lặng để giành lấy quyền kinh doanh cho mình.
Chỉ cần làm đúng, không cần làm tốt!
Sau năm 1975, cả gia đình ông Nhơn sống nhờ vào cửa hàng bán xà bông ở chợ Bình Tây, TP.HCM. Hàng hóa, trong đó có xà bông, hết sức khan hiếm. Đang là sinh viên năm 3, ông Nhơn còn tính cả chuyện chạy ra Bắc kiếm hàng về cho người chị bán kiếm sống.
Nhưng rồi ông nghĩ nhiều chủ hãng xưởng đã bỏ đi, sao mình không lấp vào thị trường? Nghĩ là làm. Ông gom góp 3.000 đồng, dẹp một góc trong nhà, kiếm ba cục gạch và một thùng phuy, mời ông thợ cả người Hoa của một hãng xà bông sang giúp. Thế là xưởng sản xuất xà bông không tên ra đời năm 1976.
Hàng làm ra không có chợ để bán. Thị trường của ông Nhơn là mấy hợp tác xã và công ty thương nghiệp của nhà nước. Ký hợp đồng rồi chẳng cần lo cạnh tranh, cứ cắm đầu sản xuất.
Đời ông chủ Phóng to
Một buổi "đánh đêm" - làm thêm giờ - ở cửa hàng số 1, Hợp tác xã tiêu thụ phường 10, Q.5, TP.HCM năm 1978. Ảnh: ĐINH TIẾN MẬU
Nhưng làm cứ trốn chui trốn nhủi, ngày nào cũng nơm nớp lo sợ cơ quan quản lý thị trường ghé đến, chi cục đo lường sang kiểm tra, ủy ban phường qua hỏi thăm… Thành phẩm bán cho hợp tác xã được xem là hợp pháp, nhưng nguyên vật liệu lưu thông trên đường về xưởng lại là bất hợp pháp. Ông Nhơn mua dừa từ Mỹ Tho, Bến Tre, cho vào mấy cái bịch nilông nho nhỏ khi đi qua các trạm kiểm soát, vẫn chưa hết run khi đặt chân về đến nhà.
Ngày ấy, xà bông của ông Nhơn bán cho ngành thương nghiệp với giá do ủy ban vật giá duyệt. Để cho ra 1kg xà bông cần bỏ 7-8 đồng vốn, trong khi ủy ban chỉ duyệt giá bán 3,6 đồng, thế là các hãng sản xuất xà bông ăn gian nguyên liệu, tung ra thị trường những hàng kém chất lượng.
Hãng của ông Nhơn không là ngoại lệ. “Nhiều cán bộ nhà nước bảo với tôi họ chỉ yêu cầu tôi làm đúng, không cần tôi làm tốt. Nhưng với các qui định tréo ngoe như vậy, tôi làm đúng sao được. Nếu hàng làm đúng chất lượng, lỗ tụi tôi biết kêu ai bây giờ?” - ông Nhơn nhớ lại.
Khát vọng được sản xuất
Công việc kinh doanh ngày càng mở rộng, ông Nhơn sắm thêm máy móc, tuyển thêm công nhân. Mỗi ngày ông sản xuất đến 5 tấn xà bông, có ngày lên đến 10 tấn.
“Sau giải phóng, tôi được phân công tác về Ban liên lạc công thương, tham gia triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Ngay từ thời điểm đó, tôi đã thấy mặt trái của chính sách cải tạo của chúng ta.
Nó giết chết mọi động lực phát triển, triệt tiêu sản xuất. Các doanh nghiệp tư nhân không tồn tại trong thực tế, bởi họ phải hòa tan mình vào cái gọi là hợp tác xã, công tư hợp doanh... Khổ nỗi, hợp doanh gì mà toàn bộ tài sản là của tư nhân, Nhà nước chỉ có con người đưa ra để... quản lý, nắm luôn chức giám đốc. Mà họ là những người chưa bao giờ làm kinh tế.
Tôi vẫn nhớ rõ sự cảm kích của mình khi được nghe chỉ đạo của ông Năm Xuân (Mai Chí Thọ), chủ tịch UBND TP.HCM, tại buổi báo cáo tình hình làm ăn của các xí nghiệp công tư hợp doanh năm 1982-1983.
Khi đó anh Năm Xuân đã nói thẳng rằng nếu gọi là hợp doanh thì Nhà nước phải thực góp tài sản chứ không phải tất cả chỉ là của tư nhân, Nhà nước chỉ có… con người. Mà những đồng chí này, ông Năm Xuân nói, ai cảm thấy mình không phù hợp thì xin đi làm việc khác giùm cho”.
Năm 1979, một đoàn thanh tra bất ngờ xuất hiện, kiểm kê cả cửa hàng ở Bình Tây lẫn xưởng ở nhà. Ông thầm nghĩ chắc đến lúc phải chia tay với hãng xà bông này rồi, nhưng bất ngờ ông nhận ra một thành viên trong đoàn là “lính” của ông thời hoạt động học
sinh - sinh viên ngày xưa. “Thầy trò” nhận ra nhau, “trò” xúi “thầy” làm đơn xin phường xét lại. Ông Nhơn mừng quýnh, làm ngay. Vậy mà đoàn thanh tra cũng ở trong nhà ông cả tháng trời để canh giữ tài sản.
Đoàn thanh tra đi, ông Nhơn khởi động lại việc sản xuất. Chưa kịp mừng, ông bí thư phường xuống lệnh yêu cầu ông ngưng hợp đồng cung ứng cho công ty thương nghiệp, tất cả sản phẩm phải chuyển sang bán cho hợp tác xã phường.
Ông Nhơn nghe mà như sấm nổ bên tai. Hàng mới giao được hai ngày, kho của phường hết chỗ chứa. Cầm cự được nửa tháng, ông Nhơn quyết định thuê xe chở đi bán. Xe vừa ra khỏi phường thì bị phát hiện và tịch thu toàn bộ.
Đầu năm 1980, ông Nhơn bị phường gọi lên, bảo qui mô hãng của ông lớn quá, phải “phát triển” lên thành xí nghiệp đời sống của phường. Phường cấp cho ông cái nhà, kêu ông chuyển hết nguyên liệu, lao động, máy móc... vào đấy sản xuất.
Phường cử người làm giám đốc, ông được giao phụ trách kỹ thuật. “Ngay từ đầu tôi đã thấy không ổn. Mấy ổng chẳng hiểu gì về sản xuất kinh doanh gì cả, tôi làm thế này mấy ổng cứ chỉ đạo làm thế khác. Hai bên cứ lo cãi nhau thì làm ăn gì được” - ông Nhơn lắc đầu. Các mối bỏ nguyên liệu thấy ông Nhơn “làm cho nhà nước” đều lảng đi hết. Xí nghiệp hoạt động eo sèo được hai năm thì giải tán, ai trở về nhà nấy. Bước ra khỏi cổng phường, vốn liếng ông Nhơn cũng bay sạch.
Đến năm 1989, với sự ra đời của nghị quyết 16, cánh cửa cho tư nhân làm kinh tế mở ra. Khát vọng về việc được bận rộn, được sản xuất, được bắt mạch thị trường trỗi dậy trong ông. Ông thành lập doanh nghiệp Sơn Hải, và nổi đình nổi đám với kem đánh răng Dạ Lan vào đầu thập niên 1990.
Bây giờ mỗi lần gặp khó khăn, những hình ảnh gian nan làm ăn buổi đầu lại hiện lên trong ông. Ông hỏi ngày xưa khó khăn thế vẫn đeo đuổi được, bây giờ chính sách đã mở ra hơn ngàn vạn lần, chẳng lẽ khó khăn không giải quyết được? Và ông bước tiếp.
Câu chuyện của ông Nguyễn Lâm Viên - tổng giám đốc Vinamit - là câu chuyện của một người đã từng bỏ ra 100 lượng vàng để quyết chí làm ăn với tổ hợp mây tre lá Đồng Tâm. Rồi công cuộc cải tạo công thương nghiệp diễn ra, ông bị cách chức, ông ra đi với hành trang nhẹ tênh, nỗi buồn nặng trĩu.
Té đau một lần, ông Viên lại xây nhà máy mới với quyết tâm: “Mình đã có tâm huyết, tại sao lại không thể đi tới cùng?”.
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, cuộc cải tạo công thương nghiệp kéo dài hơn 10 năm đã không thể triệt tiêu được sản xuất tư nhân do mô hình kinh tế quốc doanh và hợp tác xã không phát huy hiệu quả.
Đời ông chủ: Tìm lại 100  lượng vàng đã mất Phóng to
Ông Nguyễn Lâm Viên (giữa) xem các cây mít giống ở nông trang Lâm Viên tại Bình Dương - Ảnh: N.Hằng
TT - Theo nhiều chuyên gia kinh tế, cuộc cải tạo công thương nghiệp kéo dài hơn 10 năm đã không thể triệt tiêu được sản xuất tư nhân do mô hình kinh tế quốc doanh và hợp tác xã không phát huy hiệu quả.
Nhưng điều lo lắng nhất của các ông chủ tư nhân thời ấy là họ có thể bị gạt ra khỏi cuộc chơi bất cứ lúc nào.
Chuông điện thoại reng. Ông Nguyễn Lâm Viên - tổng giám đốc Công ty Vinamit - cầm máy, xổ một tràng tiếng Hoa. Tưởng ông là người Hoa chính gốc nhưng không phải.
Ông Viên bảo ông đã cần mẫn học tiếng Hoa bao năm qua vì đó là ngôn ngữ của thị trường mà ông đang chinh phục. Thị trường ấy ông đeo đuổi từ lúc còn trẻ, khi cơ sở sản xuất của ông bị hợp tác hóa và ông phải dừng lại khi mong ước kinh doanh còn dang dở.
Chốn cũ
Ông Viên kể đã nhiều lần ông cố ý ghé xe ngang qua Xí nghiệp chế biến thực phẩm Nhabexims (Q.7, TP.HCM) chỉ để nhìn lại chốn cũ. Hình ảnh văn phòng cũ, gian nhà xưởng quen thuộc mà một thời ông đã lặn lội cùng nó cứ nhói lên trong ông. Ngày ấy, đích thân ông đi chọn từng khúc gỗ, từng cây sắt để dựng nghiệp.
Hồi ấy, 1 tấn mít bán sang Đài Loan với giá 6.000 USD, trong khi gạo xuất khẩu chỉ ở mức 200 USD/tấn. Ông biết nông sản chế biến đang có thị trường, người trồng mít sẽ có lợi.
Năm 1989, ông quyết định đem công nghệ mít sấy từ Đài Loan về VN và tạo ra bước ngoặt lớn trong sự nghiệp kinh doanh của mình. Hơn chục năm trước đó, cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh đã đưa chàng trai chưa đầy 20 tuổi khỏi bàn tay che chở của mẹ để lao vào kiếm sống.
Gia đình ông Viên trước năm 1975 sống nhờ vào cửa tiệm tạp hóa bán giày dép, nón mũ ngang dài đều 4m ở Gò Vấp. Tiền ăn học của chín anh em ông trông chờ vào cửa tiệm đó. Giải phóng miền Nam được vài năm, có người đến bảo cửa tiệm nhà ông rộng quá, phải chia bớt cho người khác.
Cửa tiệm bị xén còn lại ngang 1,5m, dài 2m, không buôn bán gì được. Mẹ ông buồn quá, nằm viện mất mấy năm. Ông thấy mẹ rầu rĩ, không đành lòng, nghĩ mình trai tráng sao lại không thể kiếm miếng cơm được. Thế là bỏ học, lên rừng.
Vào làm nhân viên phòng kế hoạch Nông trường Sông Ray (Đồng Nai) được vài năm, ông Viên được thăng chức làm trưởng phòng kế hoạch. Nhưng rồi ông bỏ nhiệm sở, về Sài Gòn. Được mấy người bạn học cũ khuyến khích, kinh nghiệm bốn năm làm việc với gỗ, mây… được ông mang ra tận dụng để mở cơ sở sản xuất đồ nội thất.
Đời ông chủ: Tìm lại 100  lượng vàng đã mất Phóng to
Mua hàng hóa ở cửa hàng tiêu thụ của Hợp tác xã mua bán P.9, Q.3, TP.HCM (ảnh chụp ngày 20-6-1985) - Ảnh: N.C.T.
Phúc họa song hành
Tổ hợp mây tre lá Đồng Tâm ra đời ở Nhà Bè năm 1985. Chỉ trong vòng hai năm, số lao động của tổ hợp Đồng Tâm lên đến 100 người. Vốn liếng nguyên liệu, hàng hóa thành phẩm cũng đã lên đến cả 100 lượng vàng.
Tuy vậy, xưởng sản xuất vẫn không khác gì nhà lá, hàng làm xong không biết chất đâu phải phơi nắng, phơi mưa ngoài trời. Bởi vậy, khi chính quyền yêu cầu đưa Đồng Tâm vào liên doanh với nhà nước và giao cho ông khu đất rộng 10.000m2 để phát triển, ông đồng ý ngay.
Tổ hợp Đồng Tâm chuyển về nhà mới, Xí nghiệp liên doanh mây tre lá Nhà Bè ra đời năm 1987, trực thuộc Công ty liên hiệp Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Nhà Bè (Nhabexims). Lãi chia Nhà nước 49%, ông Viên 51%.
Ông Nguyễn Minh Trí, giám đốc Nhabexims giai đoạn 1989-1990, kể: “Anh Viên được giao chức giám đốc, được tự chủ kinh doanh vì chúng tôi biết chỉ có anh mới nắm được kỹ thuật và thị hiếu thị trường.
Lúc đó, tôi có nói thẳng với cấp dưới rằng những ai không có khả năng thì không nên can thiệp vào công việc kinh doanh của xí nghiệp kẻo hỏng hết việc”. Hàng của xí nghiệp chạy ào ào. Nhưng cái họa cũng đến từ đó.
Ông Viên được ban giám đốc Nhabexims gọi lên, thông báo sẽ cho ông thuyên chuyển công tác. Linh cảm cho ông Viên hay có chuyện không lành bởi từ hôm trước dư luận đã phong thanh rằng ông đang mượn danh nghĩa nhà nước để làm giàu cho cá nhân.
Ông Viên biết đã đến lúc người ta không cần đến mình nữa. Lao động đã có sẵn, công nghệ sản xuất mít sấy đang vận hành tốt, sản phẩm mây tre cũng đã có thị trường. Đấu tranh để ở lại cũng tốt nhưng sẽ được gì?
Vậy là ông thẳng thừng: “Tôi là giám đốc thuê, không phải là cán bộ nhà nước. Muốn xài thì xài, không xài nữa tôi nghỉ”. Vài ngày sau, ông nhận được quyết định cách chức.
Vậy là ông Viên ra đi, hành trang nhẹ tênh, nỗi buồn nặng trĩu. Nằm nhà được vài hôm, ông nhận ra chẳng ai có thể gặm nhấm nỗi ai oán mà sống được. Ông ngồi dậy, đi bỏ mối đồng hồ, buôn xe máy, góp từng đồng chờ ngày tái khởi nghiệp.
Cuối năm 1992, ông quyết tâm dựng lại nhà máy. Như con chim sợ làn cây cong, lần này ông chứa nguyên liệu ở Bình Dương, sơ chế ở An Phú Đông, chế biến ở Thủ Đức…
Ông giải thích: “Tôi cố tán nhỏ cơ sở ra để không ai nhìn thấy mình, không biết mình là ai. Tư nhân mà, mặc dù lúc đó đã được thừa nhận nhưng mà người ta vẫn có xu hướng “thương” những “thằng” nhỏ nhỏ, nghèo”.
Năm 1995, ông Viên quyết định xây nhà máy ở xã Tân Định (Tân Uyên, Bình Dương). Nhiều người thân bảo ông té đau một lần rồi mà vẫn chưa tỉnh ngộ. Nhưng ông nghĩ mình đã có tâm huyết, tại sao không thể đi tới cùng?
Niềm vui của ông là ngày hôm nay trên thương trường, sản phẩm sấy khô Vinamít đang cạnh tranh bình đẳng với sản phẩm sấy khô của Nhabexims. “Tôi vẫn thầm lặng theo dõi sự phát triển của Nhabexims, bởi ở nơi ấy tôi đã để lại một phần đời của mình, và có cả một phần tài sản của mình” - ông Viên thở ra thật nhẹ.
Kỳ sau: "Kê biên tài sản"
150 triệu để “ly hôn”
Với ông Nguyễn Văn Bôn, giám đốc doanh nghiệp tư nhân điện cơ Bình Đông (Bifan, Q.8, TP.HCM), ông Nguyễn Lâm Viên tuy mất cả 100 lượng vàng nhưng vẫn thuộc dạng “may mắn” vì không bị nợ nần khi rời khỏi xí nghiệp.
Trong giai đoạn ấy, sau khi cuộc “hôn nhân” gượng ép bị đổ vỡ, nhiều ông chủ tư nhân muốn ra đi phải mang theo lời thề trả nợ. Ông Bôn là một trong số ấy.
Năm 1983, cơ sở sản xuất quạt của ông bị “ép” trở thành Xí nghiệp hợp doanh Điện cơ quận 8, ông được đề cử làm giám đốc. Sau vài năm hoạt động, xí nghiệp thiếu vốn, hàng bán ra không thu được tiền, đến năm 1987 ngừng hoạt động.
Ông Bôn bày tỏ nguyện vọng xin ra đi. Một đoàn thanh tra được thành lập, kiểm kê tài sản xí nghiệp, phải mất đến gần hai năm mới có kết luận: các khoản thất thoát và nợ phải trả lên đến 150 triệu đồng.
Ông Bôn được đưa ra hai sự chọn lựa: hoặc tiếp tục làm giám đốc xí nghiệp, hoặc nộp lại 150 triệu đồng nếu muốn “ly hôn”. Ông Bôn quyết định ra ngoài, vay mượn tiền sản xuất quạt lại từ đầu.
Đời ông chủ (Kỳ 3):
"Kê biên tài sản" Phóng to
Nhà báo Đinh Phong - Ảnh: GIẢN THANH SƠN
TT - Sau tháng 4-1975, nhà báo Đinh Phong cùng nhóm phóng viên truyền hình túc trực ngày đêm theo những tổ công tác làm công việc “kê biên tài sản” của những nhà tư sản Sài Gòn ở chợ Bến Thành, chợ Tạ Thu Thâu... Bây giờ, những câu chuyện cũ trở về trong ông như một đoạn phim quay chậm, buồn bã.
Những chuyện ai cũng muốn quên
"Kê biên tài sản" Phóng to
Cửa hàng hợp tác kinh doanh đầu tiên ở quận 1, TP.HCM (ảnh chụp ngày 5-3-1985) - Ảnh tư liệu
Đó là một thời điểm khó quên nhưng ai cũng muốn quên. Ông Đinh Phong (ủy viên Ủy ban MTTQ VN TP.HCM, nguyên phó giám đốc Đài truyền hình TP.HCM) hồi tưởng về những ngày ông và nhiều đồng nghiệp được ban tuyên huấn giao những nhiệm vụ đặc biệt nhưng bí mật đến phút cuối cùng. Ngay cả cái tên của những chiến dịch này cũng được mã hóa thành X1, X2...
Những tổ công tác mật được gấp rút thành lập, bắt đầu rà soát, lên danh sách những hộ gia đình kinh doanh, những gia đình giàu có phải “cải tạo tư sản”. Nguyên tắc hàng đầu của chiến dịch này là bí mật. Những nhà tư sản chỉ bàng hoàng nhận biết những gì xảy ra khi cửa mở và tổ công tác đặc biệt bất ngờ có mặt, đọc quyết định “kê biên tài sản”.
Từng làm phóng viên tuyên truyền về cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc những năm 1960 khi còn công tác ở báo Nhân Dân, sau năm 1975 ông Đinh Phong lại là một trong những chứng nhân của một giai đoạn lịch sử mới. Trong ký ức của mình sau gần ba thập niên kể từ ngày ấy, nhà báo Đinh Phong trầm ngâm: “Chúng tôi vác máy đi tuyên truyền mà lòng trĩu nặng, ngơ ngác nhìn nhau hỏi tại sao lại như vậy?
Có lần, chúng tôi mang máy ra chợ Tạ Thu Thâu quay cảnh niêm phong tài sản một hộ kinh doanh hàng điện tử. Chưa kịp ghi hình ảnh nào, ông chủ hộ kinh doanh bước ra gạt máy, rồi chỉ vô mặt tôi bảo: “Chú về mà hỏi Huỳnh Văn Tiểng (giám đốc đài truyền hình lúc bấy giờ - NV) xem ngày xưa tôi đã gửi linh kiện vô chiến khu lắp ráp đài phát thanh như thế nào, hỏi coi thời chống Mỹ tôi đã giúp đỡ các ông những gì? Bây giờ tôi buôn bán, có tội tình gì mà bay bắt tôi về làm ruộng hả?”. Thời gian sau tôi có trở lại tìm ông chủ ấy nhưng không gặp, chỗ cũ đã trở thành một cửa hàng quốc doanh”.
Ông Đinh Phong kể tiếp: “Một tối, tôi tiếp hai vợ chồng anh bạn trong cơ quan. Họ đến bảo rằng cả gia đình là cơ sở điệp báo của ta trước năm 1975, họ dùng chính cửa hàng vải sợi của mình làm bình phong cho cơ sở liên lạc của cách mạng. Những câu chuyện ấy chưa kịp được xác nhận sau năm 1975 thì gia đình trở thành điểm “cải tạo” với cửa hàng vải sợi.
Tài sản bị niêm phong, mọi người trong nhà chuẩn bị nhận quyết định đi “xây dựng vùng kinh tế mới”. Tôi nghe mà toát mồ hôi, ngay trong đêm chạy đến gặp ông Dương Văn Đầy (lúc ấy là chủ tịch Q.1, TP.HCM), bảo: “Họ sắp đưa một gia đình có công với cách mạng đi kinh tế mới”. Ông Đầy nói: “Đâu được”. Tôi bảo: “Họ hẹn sáng sớm 5 giờ là phải đi rồi”. Tờ mờ sáng hôm sau, ông Đầy phải đến chặn ngay trước cửa nhà can thiệp cho trường hợp này. Vậy là quyết định mới được hủy bỏ”.
Mầm sống mới mọc lên
"Kê biên tài sản" Phóng to
Chợ Dân Sinh (quận 1, TP.HCM) - nơi đã từng là một trong những địa chỉ của công cuộc cải tạo công thương nghiệp sau năm 1975 (ảnh chụp ngày 10-12-1985) - Ảnh: N.C.T.
Cho đến ngày giải phóng 1975, Sài Gòn đã có một cơ sở vật chất, kinh tế kỹ thuật lớn nhất miền Nam, nơi tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp cả miền Nam. Nơi đây tập trung hơn 38.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lớn nhỏ, trong đó có 766 công ty và 8.548 cơ sở công nghiệp tư nhân.
Để công hữu hóa tư liệu sản xuất và đưa công nhân lao động làm chủ nhà máy, xí nghiệp, sau năm 1975 chính quyền cách mạng đã tiến hành vận động hai đợt cải tạo công thương nghiệp. Kết quả là đã quốc hữu hóa tài sản của 171 tư sản mại bản, 59 tư sản thương nghiệp cỡ lớn, khôi phục 400 xí nghiệp quốc doanh, 14.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, thu hút 27 vạn công nhân và lao động, vận động hồi hương lập nghiệp và từng bước phân bố lại lao động.
(Trích thông tin lịch sử của website TP.HCM)
Chương trình thời sự khoảng 30 phút của Đài truyền hình TP.HCM ngày ấy tập trung nhiều thời lượng để tuyên truyền cho công cuộc cải tạo công thương nghiệp trên địa bàn. Đằng sau những hình ảnh ấy, các nhà báo là những người đã chứng kiến những giọt nước mắt, những cái nhìn ngạc nhiên, thảng thốt của đồng bào mình. Lần đầu tiên trong đời nhà báo Đinh Phong mới biết thế nào là mảnh “vàng lá”. Ông ngơ ngác với hình ảnh những rổ kim cương, vàng... được mang ra niêm phong, cất lại. Số tài sản dư ra được xử lý bằng cách tịch thu, trưng thu, trưng mua...
Ông Đinh Phong kể rằng có lần được hỏi chuyện với ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) lúc bấy giờ là ủy viên Bộ Chính trị phụ trách phía Nam về công cuộc cải tạo công thương nghiệp, ông thấy ông Mười Cúc rất ưu tư. Trong hồi ký của mình, ông Đinh Phong kể: “Thời mới giải phóng, trong một lần gặp gỡ các nhà tư sản, ông Mười Cúc đã nói:
“Các bạn đã đi với chúng tôi trong cách mạng dân tộc dân chủ nên gọi là tư sản dân tộc, nay các bạn đi với chúng tôi lên thời kỳ quá độ lên XHCN, không biết gọi các bạn là gì cho phù hợp?”. Sau đó, khi nhắc đến chuyện “ngăn sông cấm chợ”, ông Mười Cúc hay trầm tư, thậm chí có lúc muộn phiền: Sắp có quyết định lập trạm mới nữa rồi...”.
Những nhà tư sản lớn của Sài Gòn thời đó phần lớn đã ra nước ngoài, thành phố chỉ còn các doanh nghiệp loại vừa như chủ nhà in, chủ các xưởng thủ công, các cửa hàng... Các ông chủ này bị buộc phải kê khai tài sản, vốn liếng rồi trưng thu, tịch thu, trưng mua và buộc họ không được kinh doanh, phải chuyển qua sản xuất nông nghiệp, nhiều người phải rời khỏi thành phố. Nhiều cửa hàng nhỏ, vốn liếng chẳng có bao nhiêu, một số tiệm ăn, tiệm cà phê... cũng bị niêm phong, định giá và chuyển qua sản xuất.
Trong số này có các anh chị vốn là cán bộ kháng chiến bị mất liên lạc, phải làm ăn, buôn bán... để đợi dịp liên lạc với cách mạng. Đó là những người yêu nước, quyết không rời bỏ quê hương, ở lại và mong muốn đóng góp xây dựng đất nước. Ông Đinh Phong nhớ lại: “Lúc đó tôi biết chúng ta đã làm một điều gì đó chưa thật sự hợp với lòng dân”.
Ông Đinh Phong kể: “Tôi lại gặp ông Mười Cúc và tiếp tục những câu chuyện về “cải tạo tư sản”: Sao người ta kêu nhiều quá anh Mười ơi! Ông Mười Cúc đăm chiêu nhiều lắm. Tôi nghĩ đó là một thời điểm quá khó khăn giữa cái cũ, cái mới và những hướng đi cho đất nước.
Nhưng tôi nhìn thấy những mầm sống mới đã mọc lên từ những chiếc lá rơi xuống của ngày hôm trước...”.
Sau một đêm thức dậy, người dân bỗng thấy thành phố vắng bóng hơn 1.000 nhà thuốc thuở nào. Các bác sĩ thì chỉ đợi tan giờ làm việc để về nhà nuôi heo, trồng rau cải thiện đời sống.
Nhưng chẳng lẽ cứ mãi đi chở cám heo? Một bác sĩ trẻ xin lập một phòng khám nửa tư nhân nửa nhà nước thì bị nhiều người phê phán là “con đỉa hút máu”. Nhờ một lãnh đạo “bật đèn xanh” rằng: “Tôi nghĩ là cho phép bác sĩ đi làm thêm giờ sau giờ làm việc thì có lợi hơn việc bắt họ ở nhà nuôi heo chứ”, bác sĩ trẻ ấy “vào trận” làm kinh tế...
NGUYỄN VĂN TIẾN HÙNG

No comments:

Post a Comment