Monday, June 5, 2017

Phan Văn Trị (1830 – 1910)

Ông thi đỗ cử nhân dưới triều Tự Đức nhưng không chịu ra làm quan, về quê mở trường dạy học, làm thơ, dùng ngòi bút chính nghĩa của mình công khai phê phán triều đình và đả kích những kẻ ươn hèn làm tay sai cho giặc. Tên tuổi của ông gắn liền với những ngôi chùa nổi tiếng một thời ở đất Gia Định, trước khi bị thực dân Pháp cho triệt hạ đồng loạt để xây dựng phòng tuyến quân sự, như Quốc tự Khải Tường, chùa Cây Mai – nơi ông và các chí sĩ yêu nước chọn làm hội sở của Bạch Mai thi xã.
Phan Văn Trị sinh năm Canh Dần (1830), xuất thân trong một gia đình võ quan tại thôn Hưng Thạnh, huyện Bảo An, phủ Hoằng An, trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Thân phụ ông là Chưởng tiền dinh Đô thống chế Phan Văn Tần; cụ tổ là Phan Văn Triệu, một võ tướng thuộc hàng khai quốc công thần thời Gia Long, về sau được liệt vào thờ ở miếu Trung hưng công thần của nhà Nguyễn.
Năm 17 tuổi, Phan Văn Trị lên Gia Định trọ học tại nhà một người thân ở làng Hạnh Thông (nay thuộc quận Gò Vấp); đến năm 19 tuổi, tại khoa thi năm Kỷ Dậu, nhằm niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1849), ông thi đỗ cử nhân. Trước tình cảnh nước nhà loạn lạc thời bấy giờ, nhận thấy chốn quang trường lắm nỗi nhiêu khê, Phan Văn Trị đã không ra làm quan mà trở về Gia Định sống cuộc sống đạm bạc và tìm cách giao du với các sĩ phu yêu nước trong vùng.
Đến khoảng năm 1856, Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường cùng những nhà khoa bảng và các chí sĩ yêu nước như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông… sáng lập nhóm Bạch Mai thị xã, đặt hội sở tại chùa Cây Mai, một ngôi cổ tự nổi tiếng của đất Gia Định thời bấy giờ. Bạch Mai thi xã là nơi hội tụ, giao lưu thơ phú giữa những con người cùng chung nỗi niềm trăn trở về vận nước, về nhân tâm con người trong thời loạn, ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của kẻ sĩ, nhằm thức tỉnh lòng yêu nước trong giới sĩ phu và người dân.
Đầu năm 1859, Pháp nổ sung tấn công vào cửa biển Cần Giờ, đánh chiếm thành Gia Định và các vùng lân cận, Phan Văn Trị phải lánh nạn về sinh sống và mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân nghèo tại làng Bình Cách (nay thuộc thành phố Tân An, tỉnh Long An), sau đó “tị địa” về Vĩnh Long, rồi về huyện Phong Điền (Cần Thơ) và sống ở đây cho đến tận cuối đời.
Chứng kiến cảnh thành Gia Định bị thất thủ, lục tỉnh Nam Kỳ cũng lần lượt rơi vào tay giặc, Phan Văn Trị không khỏi bùi ngùi chua xót: “Tan nhà nát cửa câu ly hận, Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa”. Và càng chua xót hơn, khi các ngôi cổ tự nổi tiếng bậc nhất của đất Gia Định thời bấy giờ, như chùa Cây Mai, Quốc tự Khải Tường, chùa Kim Cương, chùa Pháp Vũ, chùa Kiển Phước… đã bị thực dân Pháp và những kẻ Việt gian cho triệt hạ đồng loạt để xây dựng đồn bót, mà chúng gọi là “phòng tuyến quân sự các chùa”, trải dài từ Thị Nghè đến Phú Lâm, để làm cứ điểm tấn công vào đồn Chí Hòa, nơi tướng Nguyễn Tri Phương đang trấn giữ. Chạnh lòng trước cảnh nước mất chùa tan, về số phận long đong của “ông Phật chùa Khải Tường” sau khi ngôi quốc tự này bị Pháp triệt hạ, Phan Văn Trị chỉ biết gửi gắm nỗi niềm tâm sự đó trong một bài thơ cảm than, mà cho đến nay, mỗi khi đọc lại chúng ta vẫn chưa hết bùi ngùi:
“Nam mô hai chữ biết về đâu?
Cám nỗi chùa hư Phật phải rầu
Nắng rọi mõ chuông khô nứt mặt
Mưa sa kinh kệ ướt mem đầu!
Rằm ngươn vắng vẻ dâng vùa nếp
Hôm sớm không ai cúng phụng dầu
Đức cả Từ bi xin sớm liệu
Ngồi chờ Lương Võ thế còn lâu”.
Quốc tự Khải Tườngchùa Cây Mai và các ngôi danh lam bậc nhất  của Gia Định xưa tuy không còn, nhưng hình ảnh những ngôi chùa này vẫn mãi hiện hữu trong thơ văn, trong sâu thẳm tâm thức của người dân Nam Bộ. Tượng Phật chùa Khải Tường, một biểu tượng tâm linh thiêng liêng, một kiệt tác điêu khắc của dân tộc ta ở thế kỷ 19, sau một thời gian long đong, từng bị đưa vào cất giữ trong kho của Phủ Toàn quyền, nhưng thật diệu kỳ, cho đến hôm nay Ngài vẫn an nhiên ngự tọa trên vùng đất Gia Định, ở lại với người dân Gia Định, và hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM.
Trong cuốn “Đất Gia Định xưa”, nhà văn Sơn Nam khi đọc đến đây cũng không khỏi chua xót nhận định rằng: “Giặc có ý thức chính trị, có lẽ do bọn Việt gian xúi giục nên hầu hết chùa miếu thờ Quan Công, thờ Mã Hậu đều còn nguyên vẹn, trong khi chùa Phật và thành lũy lớn nhỏ của người Việt đều bị phá hủy không nương tay”.
Phan Văn Trị trước tác khá nhiều, nhưng hiện chỉ còn lưu lại được khoảng hơn 100 bài thơ, với đề tài vịnh cảnh thiên nhiên, vịnh loài vật và chùm thơ tự thuật, họa lại 10 bài thơ của Tôn Thọ Tường. Cuộc chiến văn chương giữa Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường (một thành viên của thi xã Bạch Mai, về sau đã cam tâm làm tay sai cho giặc) xung quanh vấn đề “phản quốc cầu vinh”, đã thực sự gây được tiếng vang lớn trên văn đàn Nam Bộ lúc bấy giờ.
Phan Văn Trị mất ngày 16 tháng 5 năm Canh Tuất (22 tháng 6 năm 1910), trong một ngôi nhà lá đơn sơ tại xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền (Cần Thơ), hưởng thọ 80 tuổi. Ông là một trong số những nhà thơ yêu nước được người dân Nam Bộ rất mực yêu mến. Hiện nay, hầu hết các tỉnh thành ở Nam Bộ, ở đâu cũng có những ngôi trường, những con đường được mang tên ông.

No comments:

Post a Comment