Sunday, July 2, 2017

Bài viết hay(5127)

Ai về VN cũng chê tình trạng giao thông quá nguy hiểm vì người Việt lái xe ghê quá cho dù VN có cả một rừng luật và công an, cảnh sát VN rất thích đứng đường không thua gì gái điếm. 90 triệu dân VN sống chung với tình hình giao thông như thế mà có chết thì cũng có thể gọi là được ...giải phóng. Ra Bolsa đi rồi bạn sẽ thấy người Việt lái xe ghê như thế nào, nhất định hổng thua gì người trong nước bởi họ cũng là người Việt chui ra từ những ống cống ấy thôi mà. Họ chê bai người trong nước trong khi chân họ còn dính phèn. Vui thiệt.
30 năm, ba câu chuyện cải cách
Từ “cải cách” gần đây được nhắc tới nhiều, đặc biệt trong lúc kinh tế suy thoái, nhưng cải cách không bao giờ dễ dàng.
Ba câu chuyện trải dài trong 30 năm (từ ngày thành lập năm 1978 đến nay) của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) - cơ quan từng tham mưu nhiều chính sách cải cách - như một nét chấm phá về những khó khăn cũng như cơ hội khi cải cách. Trong ba câu chuyện này, có một câu chuyện còn dang dở như lời kỳ vọng về một năm 2009 có nhiều thay đổi theo những đòi hỏi từ cuộc sống…
Từ đói ăn đến xuất khẩu gạo

Tranh biếm về tình trạng giấy phép con đã đăng trên báo Tuổi Trẻ Cười năm 2006
Cuối những năm 1970 đầu những năm 1980, kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng. Hàng chục ngàn hợp tác xã ra sức sản xuất nhưng đã không giúp nền kinh tế phục hồi mà ngược lại nghịch lý xảy ra: nhiều nơi lúa chín nhưng dân không gặt. Tình hình thiếu lương thực ngày càng trầm trọng. Sau rất nhiều băn khoăn, năm 1981 chỉ thị 100 ra đời. Nông dân ngay lập tức hưởng ứng “khoán 100” vì họ được toàn quyền mua bán, sử dụng số thóc vượt khoán của hợp tác xã. Dân bớt đói.
Tuy nhiên, chỉ được một thời gian, các hợp tác xã đã liên tục nâng mức khoán, nông dân bị giảm thu nhập, mất dần động lực sản xuất. Lại ruộng hoang, người đói, nhà nhà khó khăn. “Điều này đặt ra yêu cầu phải đổi mới một cách căn bản, phải trao quyền tự chủ cho nông dân” - PGS.TS Nguyễn Văn Bích, nguyên viện phó CIEM, phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước - người trực tiếp tham gia soạn nghị quyết “khoán 10”, nói.
Đến cuối năm 1987, theo ông Bích, khi đi khảo sát thực tế để làm đề tài cấp nhà nước về nông nghiệp, ông đã nói thẳng “có 2 triệu người đói ăn”. Ông bảo: “Tình hình khủng hoảng khi đó đến nay không tưởng tượng nổi”. Gắn bó với các chính sách lớn trong nông nghiệp nên ông Bích nhớ như in ngày 8-7-1987, Bộ Chính trị đã quyết định giao cho Chủ tịch Hội đồng nhà nước Võ Chí Công (người nhiều lần ủng hộ khoán chui) chỉ đạo và CIEM trực tiếp soạn đề án và nghị quyết về cơ chế quản lý nông nghiệp.
Theo tiếng gọi cuộc sống, tổ soạn thảo đã nhanh chóng đưa ra những giải pháp “chấn động”: giao đất ổn định, lâu dài cho nông dân, họ chỉ phải nộp thuế, số thóc còn lại được toàn quyền sử dụng thay vì ruộng để cấy và thóc sau gặt đều của hợp tác xã như trước đây… Phải qua năm lần dự thảo đề án mới được trình lên Bộ Chính trị.
Ông Nguyễn Văn Bích nhớ lại: vào thời điểm soạn nghị quyết 10, không ít đảng viên ở cả địa phương và trung ương phát biểu “khoán 100 là cơn gió độc, phải ngăn chặn sự lan tràn của nó”, “khoán sẽ tạo điều kiện cho trọc phú, phú nông phục hồi dẫn đến mất CNXH”…
“Khi đó chúng tôi phải tìm mọi cách tiếp cận các vị lãnh đạo, có thể là giờ giải lao ở hội nghị để thuyết phục”. Tuy vậy, để tư tưởng mang tính “xé rào” đến với lãnh đạo không phải lúc nào cũng dễ dàng...
Với nghị quyết 10, theo ông Nguyễn Văn Bích, ngày 28-12-1987 Bộ Chính trị sẽ họp quyết định nhưng đêm 27, những thành viên ban soạn thảo vẫn phải tiếp tục giải thích những câu chất vấn “tại sao?”, “như thế sẽ phá hợp tác xã à?”. Theo ông Bích, “dự thảo nghị quyết 10 cũng đã phải chỉnh sửa một số điểm, như chủ trương sẽ giao đất lâu dài, không thời hạn cho nông dân đã phải sửa thành chỉ giao 15-20 năm”…
Cuối cùng, Bộ Chính trị đã thông qua đề án dự thảo nghị quyết 10 chỉ trong nửa ngày. “Đây là một bất ngờ lớn với chúng tôi vì dự kiến hội nghị dành tới một ngày để thảo luận”. Kết quả ngày 5-4-1988, nghị quyết nổi tiếng khoán 10 đã được chính thức ban hành. Ngay năm sau, thay vì thiếu lương thực, VN đã xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo, đời sống nông dân khởi sắc.
Trả lại quyền kinh doanh cho dân
Năm 1995, ban soạn thảo Luật doanh nghiệp bắt tay vào việc trước thực tế việc lập doanh nghiệp ở VN vẫn muôn vàn gian khó sau nhiều năm đổi mới. Theo TS Lê Đăng Doanh, nguyên phó ban biên tập, mọi doanh nghiệp khi đó muốn được ra đời phải xin đủ 35 chữ ký và 32 con dấu. Khảo sát ở Hà Nội cho thấy khi hội đủ con dấu và chữ ký, hồ sơ doanh nghiệp còn phải qua một hội đồng do phó chủ tịch UBND TP Hà Nội chủ trì.
left
“Khoán 10” trong nông nghiệp
Tháng 4-1988, Bộ Chính trị ra nghị quyết 10 về cải tiến chế độ khoán trong sản xuất nông nghiệp.
Theo đó, “Công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể tư nhân trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, thừa nhận tư cách pháp nhân, bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, bảo hộ quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể tư nhân”.
Như vậy là so với chỉ thị 100 năm 1981, nghị quyết 10 của Bộ Chính trị có một bước tiến lớn: người nông dân được trao quyền sử dụng ruộng đất và phương tiện sản xuất lâu dài, được chủ động trong cả sản xuất lẫn tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm được bán cho Nhà nước theo cơ chế thỏa thuận, không còn sự áp đặt về giá, về số lượng.
Đó là một sự giải phóng có ý nghĩa rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp, gây ra một sự chuyển biến nhanh chóng của nền nông nghiệp VN, đặc biệt là ngành sản xuất lương thực, từ chỗ thiếu đói triền miên tới chỗ nhanh chóng đủ ăn, dư thừa để xuất khẩu vào năm sau...
» (Theo sách Tư duy kinh tế Việt Nam - Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989 của tác giả Đặng Phong xuất bản năm 2008)
Hội đồng này họp vào chiều thứ bảy hằng tuần. Muốn có được chữ ký của phó chủ tịch phải có chữ ký, con dấu của sở, muốn có dấu của sở phải có dấu của quận, huyện và tất nhiên phải có dấu của xã. Chủ tịch xã cũng yêu cầu phải có chữ ký của ông trưởng xóm… Cứ cho thứ bảy nào ông phó chủ tịch cũng làm và ký được 2-3 hồ sơ thì cả năm Hà Nội chỉ có thêm cỡ vài trăm doanh nghiệp. Ở nhiều địa phương khác, hội đồng không họp hằng tuần mà là tháng, thậm chí một quý một lần. Như vậy, số doanh nghiệp ra đời bị hạn chế.
“Công dân chỉ phải đăng ký, không phải xin” - đó là tư tưởng để tháo gỡ mà dự thảo Luật doanh nghiệp do CIEM chủ trì soạn thảo quyết tâm đưa vào. Theo đó, dự luật đã bỏ giấy phép thành lập, áp dụng chế độ đăng ký tự động để giúp doanh nhân bớt khó hơn. Chỉ một điểm này đã tạo ra rất nhiều sóng gió. Không ít người quyết liệt phản đối: “thế thì làm sao quản được?”; “tôi là chủ tịch tỉnh, tôi phải có quyền”; “vậy anh mới ra tù, anh đạp xích lô cũng lập được doanh nghiệp?”…
Hết lo ngại thì xuất hiện đến sáu cơ quan muốn nhận là nơi cấp giấy đăng ký kinh doanh. Ban soạn thảo phải tìm cách đem dự thảo đến tổng bí thư khi đó là ông Lê Khả Phiêu và được ông ủng hộ. Sau quá trình thuyết phục dài lâu, cuối cùng dự luật đã được Quốc hội thông qua.
Thay vì “chỉ được kinh doanh những gì cơ quan nhà nước cho phép”, từ năm 2000 người dân “được quyền kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm” - ông Nguyễn Đình Cung, thành viên ban soạn thảo Luật doanh nghiệp 1999, hiện là trưởng ban nghiên cứu vĩ mô CIEM, nhấn mạnh điểm mấu chốt mà các ông đã cố sức đấu tranh.
“Nhưng sau khi luật được thông qua (tháng 4-1999), mấy tháng sau mọi việc vẫn y nguyên - TS Lê Đăng Doanh kể - không ai làm văn bản hướng dẫn cả”. Trong bối cảnh đó, ban soạn thảo luật đã phải “lách”, nhờ trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng đề xuất thành lập tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp trực thuộc trực tiếp Thủ tướng. Được Thủ tướng Phan Văn Khải chấp thuận, “đội đặc nhiệm” này tập hợp 18 thành viên giàu tâm huyết vào việc.
Giải mã câu hỏi tại sao doanh nghiệp vẫn ít thành lập, khó phát triển, tổ công tác tỏa xuống các doanh nghiệp. Câu trả lời từ cuộc sống lập tức được đưa ra đầy sinh động, các doanh nghiệp “tố” hàng loạt bất cập, giấy phép con. Một cuộc khảo sát thực tế được tiến hành và thống kê được khoảng 402 loại giấy phép khác nhau. Để có đà cải cách, tổ công tác đã phối hợp với Đài truyền hình VN làm phóng sự đưa cận cảnh một giấy phép điển hình nhất: Sở Khoa học - công nghệ & môi trường Thái Nguyên cấp giấy phép cho một nông dân huyện Đại Từ được đi lượm “giấy vụn, thủy tinh vỡ, kim loại phế thải”…
Giấy phép này ghi rõ “có thời hạn trong ba tháng”, nghĩa là sau đó muốn đi lượm giấy vụn nữa, người dân lại phải xin phép sở. Rất nhiều người khi đó mới giật mình: photocopy, đánh máy chữ, sửa chữa nhạc cụ... và hàng loạt dịch vụ bình thường khác đều phải xin phép. Tạo được dấu ấn, tổ công tác đề xuất liền hai nghị định, qua đó bãi bỏ được 145 giấy phép con tạo đà cho một giai đoạn nở rộ doanh nghiệp ở VN. Chỉ sau hai năm đã có trên 35.000 doanh nghiệp thành lập mới - bằng 10 năm trước đó cộng lại, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người. Vị thế doanh nghiệp tư nhân bắt đầu được tạo dựng và tôn vinh.
Vẫn còn rất mới
Giấy phép con đang quay trở lại, tổng số đã vượt con số 300, cùng với hơn 6.500 thủ tục hành chính mới được thống kê. Doanh nghiệp vẫn mất hơn 1.050 giờ/năm chỉ để đi lo thủ tục thuế. Về nông nghiệp, PGS. TS Nguyễn Văn Bích bồi hồi: “Chúng ta đang nói nhiều đến tam nông. Nghị quyết 10 năm 1988 đã cho dân tích tụ ruộng đất, nhưng đến nay nghị quyết T.Ư 7 khóa X vừa qua vẫn đang đặt ra cần có lời giải mạnh mẽ hơn. Không tích tụ sẽ khó lòng sản xuất lớn khiến nông sản VN ít có sức cạnh tranh, nông thôn khó vươn lên mạnh mẽ”…
TS Lê Đăng Doanh nói: Nếu như những năm 1980 doanh nghiệp nhà nước “xé rào”, nông dân “cởi trói” thì nay chúng ta lại cần một cuộc cải cách nữa để phát huy và nâng cao tiềm lực của doanh nghiệp tư nhân, tiềm lực sáng tạo của người dân để đưa đất nước tiến lên phù hợp với hoàn cảnh hiện nay.
Ba câu chuyện trên đều được kể từ CIEM - cơ quan đã đưa ra nhiều đề xuất cho đổi mới, cho xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Hi vọng năm 2009 sẽ còn nhiều câu chuyện tương tự để từ “cải cách” thật sự rõ nét, được viết hoa.Càm Văn Kình Tuổi trẻ Online

Thực trạng về việc giảng dạy chuyên ngành Thời Trang ở các trường tại thành phố Hồ Chí Minh

Từ đầu những năm 90 đến nay, thời trang đã hiện hữu ở Việt Nam như một ngành nghề thu hút được sự chú ý của nhiều đối tượng. Trước cảnh ồn ào tấp nập của thị trường thời trang, xuất phát từ nhu cầu xã hội, đòi hỏi một đội ngũ các nhà thiết kế nhằm đáp ứng cho nó.
Và đào tạo, là một trong những yếu tố cần và đủ cho một nền công nghiệp thời trang tại Việt Nam.
Song theo tình hình, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có trường chuyên đào tạo những nhà thiết kế thời trang, mà chỉ là một phân khoa nhỏ ở một số trường kỹ thuật may và mỹ thuật công nghiệp, hoặc một số lớp ngắn hạn ngoại khóa ở các trung tâm...
Do là một ngành còn non trẻ ở Việt Nam, nên việc đào tạo một cách chính qui và có hiệu quả vẫn còn nhiều bất cập. Mỗi trường dạy mỗi kiểu, người học không được trang bị đầy đủ kiến thức cơ bản của mỗi một nghề đòi hỏi sự sáng tạo cao độ.
Sau đây là một vài điểm yếu tham khảo:
Năng lực giáo viên và cơ sở giáo cụ thực hành:
"Muốn có trò giỏi phải có thầy giỏi", đó là qui luật tất yếu của hệ thống đào tạo nghề mà trong điều kiện công nghiệp kỹ thuật của nước ta so với nền khoa học kỹ thuật của thế giới thì qui luật trên cần phải đi kèm "phải có điều kiện giảng dạy tốt". Cả 2 yếu tố mang tính quyết định này trong hệ thống đào tạo nghề nói chung vẫn đang bị thiếu thốn trầm trọng.
Nói về đội ngũ giáo viên trong ngành thời trang ở hoàn cảnh hiện nay là nhu cầu rất lớn. Nhưng do bất cập, đội ngũ này đã bị chấp vá bằng nhiều hình thức, khiến thực lực kiến thức và tay nghề giỏi không nhiều với các lý do khách quan và chủ quan:
- Giáo viên không được đào tạo chuyên nghiệp, phần lớn là giáo viên tốt nghiệp kỹ thuật hoặc mỹ thuật chuyển sang.
- Một số giáo giáo viên ít cầu tiến, thiếu bồi dưỡng kiến thức.
- Một số nữa giáo viên có năng lực nhưng do chế độ lương bổng ở các trường quá kém, áp lực lại cao nên họ chỉ dạy cho có chân để hoạt động riêng, thiếu hẳn trách nhiệm.
- Một số nhà thiết kế tên tuổi, được mời giảng dạy, nhưng lại thiếu kiến thức sư phạm, khiến giống như chỉ là hình thức truyền nghề bằng kinh nghiệm.
- Về cơ sở vật chất, thì mỗi trường cũng đầu tư mỗi kiểu, theo thế mạnh của trường, mà không theo nhu cầu môn học.
- Về "Điều kiện giảng dạy tốt" cũng đang là lổ hổng lớn. Các công cụ, kỹ thuật máy móc mỗi trường mỗi cảnh thiếu. Các trường mang tính kỹ thuật thì thiếu về trang thiết bị kỹ thuật thực hành, các manequin dụng mẫu. Các trường thuộc về kỹ thuât may thì thiếu hẳn điều kiện về mỹ thuật thực hành, các mẫu vẽ...
Năng khiếu đầu vào:
Thời trang cũng là một ngành nghệ thuật, nên nó đòi hỏi phải có năng khiếu và sự say mê. Thiết kế thời trang chủ yếu là đào tạo họa sĩ thiết kế, nên môn học mỹ thuật phải là một trong những những môn đầu vào. Thực tế thế nào?
- Thi tuyển sinh ở các trường kỹ thuật có chuyên ngành thời trang lại là Toán, Lý, Hóa nên khi vào học phân ngành TKTT đã gây nhiều khó khăn cho giáo viên mỹ thuật cũng như cho người học. Giáo viên phải dạy căn bản từ a,b,c với số tiết hầu như chỉ đủ "cưỡi ngựa xem hoa"; còn người học thì cũng ì ạch vất vả không kém và kết quả gây ra tâm lý chán học cho người học vì không theo được. Vì thế, dù chương trình học TKTT phong phú về lý thuyết lẫn thực hành, nhưng không ít người chẳng tiếp thu được gì.
Thời gian mâu thuẫn với các môn học:
Vì chỉ là phân khoa trong một khoa tại trường, nên có một số môn học bắt buộc mà không mấy thiết thực cho ngành học, lại chiếm đi lượng thời gian cần học của các môn chuyên ngành.
Học môn Tiếng Việt thực hành, học Lịch sử mỹ thuật mà lại thiếu môn Lịch sử thời trang; học hình họa nghiên cứu mà lại thiếu phần ký họa các tư thế thời trang; học Toán cao cấp, Điện căn bản, Phương pháp tính,Quản trị doanh nghiệp... thì lại thiếu các môn mỹ thuật hỗ trợ để rèn luyện khiếu thẩm mỹ cũng như kỹ thuật, kỹ xảo hoặc nhiếp ảnh, trang điểm...
Thiết nghĩ, việc này phần do thiếu giáo viên chuyên môn, do chương trình còn là những bước dài thử nghiệm... hoặc người quản lý khoa không nắm rõ chuyên ngành.
Phân bổ thời gian không hợp lý với số tiết:
Do thời gian học mâu thuẫn với các môn học nên dẫn đến tình trạng các trường thuộc về kỹ thuật may khống chế số tiết học mỹ thuật rất vô lý.
Gần như chỉ là 1/10 số tiết đáng lý phải có cho cho các cấp học với tất cả phần căn bản và nâng cao môn mỹ thuật bắt đầu từ a, b, c. Và tương tự như thế cho phần căn bản tiếp theo trong thiết kế.
Đó là chưa kể một số trường dân lập, để "tiết kiệm" tiền trả lương cho giáo viên, đã tự ý cắt bớt một số môn hỗ trợ và khống chế số tiết dạy.
Đối với các trường có nền tảng mỹ thuật, thì tuyển sinh đầu vào là năng khiếu nên có tốt hơn, sức sáng tạo dồi dào hơn nhưng lại bị yếu về công nghệ, kỹ thuật thiết kế rập yếu kém.
Người học học phần thiết kế mỹ thuật nhiều, nhiều khi lại đi quá sâu như những môn hình họa nghiên cứu, trong khi, chỉ nên dừng ở mức hình họa căn bản, mà bổ sung tăng số tiết về ký họa về body, thời trang, vẽ kỹ thuật, cắt may, các phần mềm vi tính về thiết kế công nghệ may...
Vấn đề về thực tế thực tập
Chúng ta hẳn biết rõ tầm quan trọng của việc thực tế, thực tập trong việc học, nhất là trong giáo dục nghề.
Đây cũng là vấn đề bàn cãi cho chuyên ngành thời trang.
Đi thực tế là một cách xâm nhập đời sống xã hội, tiếp thu kiến thức về lịch sử, văn hóa, kinh tế... một cách sống động giúp cho việc hình thành phát triển ý tưởng sáng tạo, hình thành phong cách người thiết kế tương lai. Sau đó, cuối khóa học, người học nên được thực tập để rèn luyện và thực nghiệm những gì đã học, cũng như học hỏi thêm ở thực tế.
Ở các trường mang tính mỹ thuật thì việc thực tế đã được giải quyet tương đối khá tốt. Nhưng khâu thực tập thì hầu như không có. Lý do một phần là do các công ty may mặc ở VN lợi nhuận chủ yếu là hàng gia công, nên nhu cầu sáng tác rất hạn chế.
Còn các trường thuộc về kỹ thuật thì ngược lại, hầu như không có sự phân bổ thời gian thực tế để thực tập sáng tạo nên hầu hết người học phải học "chay". Và hệ quả là hầu như người học không có sức sáng tạo hoặc sức sáng tạo kém, què quặt, nghèo nàn ý tưởng...
Ở các trường kỹ thuật đa phần chỉ có thực tập trong các xí nghiệp may. Mang tiếng là đi thực tập, nhưng thường là bị các xí nghiệp may lợi dụng cho ngồi may gia công lắp ráp, hoặc xui xẻo hơn nữa chỉ là ngồi cắt chỉ! Thường sinh viên cũng hiếm khi phản đối, vì cần vài chữ ký đã thực tập tốt của các cơ quan, xí nghiệp hòng được xong học phần.
Thời trang từ lâu đã trở thành một phần của cuộc sống. Hoạt đông thời trang là biểu hiện nhạy cảm, tinh tế, có hiệu quả xã hội cao. Nó chủ yếu là sản phẩm của văn minh đô thị, của xã hội công nghiệp.
Như mọi ngành nghệ thuật khác, nó cần có nhiều xu hướng, thể loại, phong cách... Vì thế, điều cần thiết hiện nay là ngành đào tạo thời trang cần một hướng đi mới với đầy đủ những hỗ trợ từ mọi phía. Không thể, vì là ngành học thời thượng mà quá nhiều trường đã mở ngành học này một cách bừa bãi, không chuyên nghiệp chỉ để thu lợi nhuận trước mắt mà không nghĩ đến hậu quả dài lâu.Đỗ thị Anh Hoa

Cảnh báo và hy vọng

Thời kỳ nào cũng có khó khăn, vấn đề là chúng ta có dám đối diện, mạnh dạn thay đổi những chính sách, cơ chế đã không còn thích hợp để vượt qua rào cản, đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển lên một thứ bậc cao hơn.
Một năm vừa đi qua, không chỉ với thách thức như năm nào ta cũng quen nói, mà với cảnh báo, rất nhiều, đều nghiêm khắc, rất nghiêm khắc. Mưa như chưa từng có, ngập lụt chưa từng thấy, ở Nam, ở Bắc, ở Trung. Có vẻ thời tiết không phải đang biến đổi, mà biến động, bất thường, có người đã nói đến dị thường, hay đang hỗn loạn?
Trong nước là vậy, khắp thế giới đều vậy. Động đất, siêu bão... định ngữ “siêu” ngày càng phổ biến. Và đã có báo động toàn bộ vùng băng giá ở hai cực, hai cái mũ trắng xóa, tuyệt đẹp của hành tinh, vẫn được gọi là băng giá vĩnh cửu đang có nguy cơ hoàn toàn hiện thực không còn là vĩnh cửu nữa, sẽ biến mất, điều chưa từng xảy ra từ nhiều triệu năm nay.
Và “trái đất quê hương” của con người, như cách nói thống thiết của Edgar Morin, khi ấy - một “khi ấy” có thể cũng đã gần lắm - rồi sẽ ra sao đây?... Hẳn có những quy luật, những chu kỳ nào đó của tự nhiên con người còn chưa lần ra nổi, nhưng cũng chắc chắn không thể chối tác động vô trách nhiệm của con người kiêu ngạo, đến hỗn hào...
Riêng tôi, cho phép tôi lặp lại lần nữa, càng ngày tôi càng không thể không nghĩ đến Tây Nguyên, con người Tây Nguyên, văn hóa của con người Tây Nguyên.
Có một nền triết học, một minh triết đẹp đẽ và uyên thâm vẫn còn chưa hiểu được hết ở những con người mà chắc tận trong một góc ẩn giấu nào đó của mình, chúng ta cũng chưa hoàn toàn không còn coi là những người “man di”.
Đứa con của tự nhiên là con người đang trở nên hỗn hào hơn bao giờ hết với mẹ tự nhiên của mình, và như ta biết, con người không chỉ là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, nó còn, trước hết, những mối quan hệ sinh tử với tự nhiên, là một phần của tự nhiên, phần gốc trước khi thành con người xã hội.

Người “man di” Tây Nguyên mỗi khi bắt buộc phải chặt một cái cây thì vô cùng kính cẩn làm lễ trọng xin phép thần linh và cúi đầu tạ lỗi với rừng, với chính cái cây ấy, họ biết họ đang bắt buộc phải làm đau rừng, làm đau đớn tự nhiên mà họ là một tế bào nhỏ khắng khít, cái tế bào ấy tất cũng phải đau, cũng chảy máu khi rừng chảy máu...
Còn chúng ta, những người “văn minh” thì sao? Chúng ta bảo rằng chúng ta “đổi rừng nghèo lấy cao su”, và lập tức hàng vạn héc ta rừng giàu biến thành “rừng nghèo”, trên giấy thì rừng giàu có khó gì mà không biến được thành rừng nghèo! Như cả nước đều đã có thể tận mắt nhìn thấy trên truyền hình, những chiếc xe ủi và máy cưa như những con thú dữ hùng hổ, còn vô cảm hơn cả thú dữ, xông vào hạ gục, triệt diệt những cây gỗ mấy người ôm không xuể.
Nhìn cảnh ấy, không thể không nghĩ đến độ man dã đã đạt được đến ngày nay của con người. Người Tây Nguyên, tôi biết, hoang mang, kinh ngạc. Và đau đớn. Đối với họ, rừng là không thể đem đổi lấy bất cứ thứ gì hết, cả toàn bộ vàng bạc, châu báu trên thế gian này. Tự trong sâu thẳm, họ không bao giờ coi rừng là “tài nguyên”, cũng không là môi trường như ta vẫn nói về môi trường tự nhiên theo một cách gọi là “khoa học”.
Rừng đơn giản là tất cả, bao trùm và thiết yếu, là sự sống, sự vĩnh hằng, là chốn nguyên lai bất tận của tâm linh, cội nguồn của văn hóa, là nơi con người từ đó mà đi ra để thành người và rồi lại sẽ trở về trong thăm thẳm không cùng của nó để lại trở thành tự nhiên vĩnh hằng, như con từ trong lòng mẹ sinh ra và sẽ trở về tan hòa mãi mãi trong lòng mẹ...
Vậy trong hai con người, người đem đổi rừng lấy cái được coi là sự giàu sang, với người khóc lạy vì mất một cây rừng, ai man di? Và nữa, người đang chủ trương cạo sạch hàng ngàn, hàng vạn héc ta rừng ở Lâm Đồng, ở Kông Hà Nừng - Gia Lai, đặc biệt ở Đắk Nông, để moi lên quặng bauxit vừa độc hại vừa chỉ có thể đem bán nguyên liệu thô rẻ mạt trong điều kiện nghèo điện như chúng ta hiện nay...
Còn nguy hiểm hơn nữa, người Tây Nguyên hoang mang, kinh ngạc, đau đớn... nhưng rồi người Tây Nguyên cũng sẽ lao vào đốn phá, triệt hạ rừng, theo đúng gương những người “văn minh” tự coi là khôn hơn đang đến dạy khôn cho họ. Tức ở đây đang có một chuyện có thể còn nghiêm trọng hơn cả chuyện phá rừng, mất rừng: một văn hóa, một hiền minh của con người đang biến mất. Thay bằng tàn bạo.
Đứa con của tự nhiên là con người đang trở nên hỗn hào hơn bao giờ hết với mẹ tự nhiên của mình, và như ta biết, con người không chỉ là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, nó còn, trước hết, những mối quan hệ sinh tử với tự nhiên, là một phần của tự nhiên, phần gốc trước khi thành con người xã hội.
Hoặc cũng có thể quan hệ với tự nhiên của nó cũng là một dạng của quan hệ xã hội, trong đua chen xã hội nó đang đánh mất, phản bội cái gốc tự nhiên của mình. Hẳn không phải ngẫu nhiên mà ngay trong giờ chiến thắng vang dội, tổng thống đắc cử Barack Obama đã nói rằng ông bắt đầu nhiệm kỳ trên một “hành tinh đang bị hủy hoại”. Nốt buồn thấm rất sâu, rất đen trong bài diễn văn đó, trước khi ông nói đến hy vọng. Và ở điểm đó, tôi thấy ông có thể là một người hiền.
Người hiền là người biết những giới hạn. Có phải cảm giác ám ảnh nhất cái năm vừa đi qua để lại cho chúng ta, nếu ta còn biết lắng nghe, là cảm giác về một giới hạn của con người trước tự nhiên. Đã đến biên giới rồi. Bên kia là hủy diệt. Tự hủy diệt.
Cũng có phải đang có một cảm giác về giới hạn như vậy trong những hành vi xã hội của con người. Vài chục năm trước chủ nghĩa xã hội hiện thực đã cho thấy giới hạn của nó; lần này là đến chủ nghĩa tư bản vốn rất mạnh mẽ và đầy tự tin chăng?
Khi con người đủ khiêm nhường để tỉnh táo biết rằng nó đã đi đến giới hạn, để dám hiểu rằng có khi cần phải “tái cơ cấu”, để đủ nghiêm khắc biết rằng có thể có lỗi ở hệ thống, thì cũng là lúc người có thể biết và dám thay đổi.

Cái thế giới hết sức năng động ấy, với chủ nghĩa thị trường tự do ngỡ vô địch của nó, bỗng đổ bệnh, đột ngột - đột ngột vì những báo động trước đó hoặc còn quá yếu hoặc rất bị coi thường - bệnh trầm trọng, hiểm nghèo, truyền nhiễm nữa, và đang lây bệnh cho toàn cầu.
Chưa bao giờ cả thế giới lại giống một bệnh viện khổng lồ đến vậy, mà ở đâu cũng chỉ có mỗi một khoa: khoa cấp cứu. Nhiều người đã nói đến “tái cơ cấu”, nghĩa là lỗi đã là lỗi hệ thống. Càng ngày các nhà kinh tế học càng trở thành các nhà triết học. Nghĩa là chính cái chủ nghĩa ấy đã có vấn đề trong triết học sinh tồn và phát triển của nó.
Cũng có thể nói một cách nôm na, gần gũi hơn: nó bắt đầu biết khiêm tốn hơn, hay ít ra biết rằng cần khiêm tốn hơn. Và trông chừng rất nghịch lý: chính sự khiêm nhường tạo ra hy vọng và sức mạnh mới. Bởi vì khi con người đủ khiêm nhường để tỉnh táo biết rằng nó đã đi đến giới hạn, để dám hiểu rằng có khi cần phải “tái cơ cấu”, để đủ nghiêm khắc biết rằng có thể có lỗi ở hệ thống, thì cũng là lúc người có thể biết và dám thay đổi.
Câu hay nhất trong diễn văn của Obama là khi ông ta nói: “Bí quyết của nước Mỹ là nước Mỹ có thể thay đổi”. Đương nhiên chúng ta chờ sự thay đổi và hướng thay đổi của ông. Nhưng về cơ bản, ông đã nói được một lẽ phải. Không phải chỉ cho nước Mỹ. Đó cũng là bí quyết của tất cả những ai muốn tồn tại bền vững và phát triển.
Chúng ta cũng vậy. Tha lỗi cho tôi nếu tôi nói ra điều này: có thể điều quý nhất trong một năm qua của chúng ta, là bên cạnh nhiều nỗ lực và thành tựu, chúng ta đã có... nhiều sai lầm, và dường như chúng ta, dầu đã nói thẳng ra hay chưa, ở những mức độ khác nhau, chúng ta đã biết những sai lầm ấy.
Đã biết rằng chúng ta cũng hoàn toàn có thể sai lầm, hoàn toàn có thể còn non nớt trong nhiều chuyện, cả chủ quan, cả nóng vội, cả thiếu lắng nghe, lắng nghe tiếng nói của nhân dân, của cuộc sống, tiếng nói trung thực của bè bạn - chứ không phải những lời tán tỉnh có động cơ - cả tiếng nói của đối thủ... Để khiêm nhường hơn. Để có thể dám và biết nhìn lại chính thiết chế của mình. Và từ đó, biết và dám thay đổi. Bí quyết của chúng ta cũng là có thể thay đổi.
Cuộc sống là vậy. Khi mọi sự êm thấm thì nên lo, rất lo. Khi không êm thấm lắm, lại chính là khi có thể hy vọng. Tất nhiên nếu dám biết rằng năm qua đã dạy ta rất nhiều điều, có thể nhiều hơn rất nhiều những năm thuận lợi trước đây, thậm chí cả những năm chiến thắng vang dội, huy hoàng.
Vâng, như vậy có thể có một năm mới nhiều hy vọng.
Nguyên Ngọc Thời Báo Kinh Tế Saigon
Giải cứu binh nhì... sóc
Mời các bác xem chùm ảnh sóc mẹ giải cứu sóc con mà bác phó nháy nhanh tay ghi lại nhé:
Sóc con gặp nguy
Cuối cùng, nỗ lực của sóc mẹ đã thành công:
Quả là không có gì mạnh hơn tình mẫu tử...

No comments:

Post a Comment