Sunday, July 2, 2017

Bài viết hay(5129)

Người Việt ta có nhiều bệnh thiệt; chắc là do tật ưa ăn tạp! Hổng biết từ lúc nào dân ta rất coi trọng bằng cấp nên kén rể hay vô bàn tiệc là ưu tiên cho đứa có bằng cấp. Phi bằng cấp bất thành phu phụ. Bởi vậy đứa có bằng Tiến sĩ thì tha hồ nói nhăng nói cuội, lắm lúc nói bậy y như một thằng khùng! Có dạo nhiều bác sĩ, dược sĩ, luật sư Bolsa dính vô scandal gian lận bảo hiểm mà mấy ông bà vẫn cải chày cải cối. Gần đây, nghe nhiều "cây đa, cây đề" bàn chuyện thời sự, tôi thấy xấu hổ cho giới khoa bảng Việt. Đúng là đã yếu kém lại hay nói càn. Lý lẽ muôn thuở của họ là Việt Nam có nhiều đặc thù nên phải đi con đường riêng không giống ai. Kêu gọi học hỏi kinh nghiệm nước ngoài thì họ bảo ta làm còn tốt hơn việc gì phải học ở đâu. Thực ra, hàng năm có bao nhiêu đoàn được cử đi nước ngoài để học tập kinh nghiệm nhưng khốn nỗi người đủ trình độ và trách nhiệm để học thì không được chọn nên đi học nhưng chẳng học được gì đáng kể, chỉ lo đi chơi và mua sắm. Nếu có học được gì về báo cáo lại thì lại nhận được lời phán của quan trên "Ở ta không làm được đâu, họ khác, ta khác. Các cậu chỉ mắc bệnh sùng bái nước ngoài". Khi nói đến chuyện phải gửi giáo viên các trường đại học ra nước ngoài đào tạo thì có vị lãnh đạo một trường đại học đã nói: "Cần gì phải đi nước ngoài, chắc gì đào tạo nước ngoài đã tốt hơn trong nước. Ở trường này, những người thành công nhất đều có đào tạo ngày nào ở nước ngoài đâu. Còn mấy anh ở nước ngoài về có anh nào thành đạt không?" Quả thật là một lập luận đanh thép. Nhưng hãy nhìn xem đã có bao nhiêu người được gửi đi đào tạo ở nước ngoài về còn trụ lại ở trường của ông? Các ông đã làm gì để khai thác kiến thức và kinh nghiệm của những người học nước ngoài về? Có ông "bậc thầy" trong ngành điện ảnh còn cho rằng phim ta hay hơn phim ngoại từ Cannes, Hollywood nữa kìa. Bởi vậy mỗi khi nghe Tiến sĩ ta nói thì tui ưa ...rùng mình phát ớn lạnh. Sùng bái bằng cấp cho thấy cái dốt, cái dở của chính mình.
Lực cản từ chính một số “cây đa, cây đề”
Hôm họp mặt cộng tác viên Tia Sáng cuối năm tại Bộ KH&CN, sau phát biểu của GS. Hoàng Tụy đánh giá cao việc Bộ KH&CN đã lắng nghe ý kiến đúng đắn và tâm huyết của các nhà khoa học, tiến hành cải cách quản lý NCCB, là phát biểu của một nhà Sinh học, đại ý: Tia Sáng viết hơi quá nhiều về công bố quốc tế. Đành rằng công bố quốc tế của chúng ta yếu, người của chúng tôi công bố quốc tế chung với Nhật là được rồi, cần gì phải là tác giả chính như GS. Phạm Duy Hiển nói. Đề tài giống lúa mới được chuyển giao cho một cơ sở ở Nam Định với giá 10 tỷ đồng vừa rồi có giá trị thực tế rõ ràng, nhưng chẳng có tạp chí quốc tế nào đăng kết quả đó. Sau đó ông “tha thiết” mong Bộ KH&CN đặt lòng tin hơn nữa ở các nhà khoa học, mạnh dạn đầu tư cho họ… (Lập luận này lần đầu nghe cũng hay nhưng tôi đã được nghe lặp lại vài lần nên quả thực cũng hơi chối).
Đầu năm mới, sau khi chúc tết nhau, tôi và Viện trưởng mới của Viện Cơ học có cuộc nói chuyện Tết chuyển thành tranh luận tay đôi về khoa học. Anh này hơn tôi 2 tuổi, là dân MGU, chuyên môn về dòng chảy nhiều pha, trong thành tích công bố có 1 bài đăng tạp chí quốc tế ISI - Fluid Mechanics – là tạp chí hàng đầu của Cơ học, từ năm 1995 khi đang làm luận án TSKH, đồng tác giả với ông thầy là VS của LX; sau đó anh đã được học bổng Humboldt 2 năm ở Đức. Cuộc tranh luận không đến được hồi kết vì quan điểm khác nhau. Rất khó tranh luận với người chỉ tranh nói nhiều hơn nghe và cứ nhảy từ cái này sang cái khác. Sau đây là một số luận cứ của anh ấy trong đó có những cái tôi đã phải nghe nhiều lần:
- Tôi ủng hộ yêu cầu luận án TS phải có bài báo quốc tế. Nếu có quy định của Bộ GD&ĐT tôi sẽ yêu cầu NCS của tôi phải làm việc công bố quốc tế. Còn như hiện nay chưa có quy định này, ta cũng chẳng cần phải đòi hỏi công bố, vì sẽ rất khó và vất vả cho NCS.
Bài báo quốc tế cũng có nhiều loại, có người có cả chục bài vẫn chưa là gì, có người chỉ cần một bài là khẳng định được đẳng cấp (có lẽ hàm ý cái bài báo quốc tế nói trên của anh ấy đủ mạnh bằng cả chục bài của những người khác).
Tôi đi nước ngoài nhiều nên biết rõ rằng, ở phương Tây, nhất là ở Mỹ, các ĐH không hề quan tâm các GS của họ có công bố quốc tế hay không, nhiều hay ít, mà chỉ quan tâm các GS có mang được nhiều đề tài, hợp đồng, và tiền về cho ĐH hay không (ở VN đây là điểm mạnh của anh này vì liên tục chủ trì các đề tài và hợp đồng kinh phí lớn – tôi ở gần nên cũng được nghe ít nhiều chuyện từ chính những người trong cuộc về các đề tài này).
Ngành Sinh học công bố quốc tế dễ: họ chỉ cần tìm ra cái cây cái lá gì mới là công bố quốc tế được. Viện Cơ học công bố quốc tế ít vì công bố quốc tế trong lĩnh vực Cơ học khó hơn.
ISI chỉ là một tổ chức tư nhân, không đủ uy tín đại diện, chỉ thống kê bài tiếng Anh, trong khi có bao tạp chí có uy tín tương đương bằng tiếng Nga, tiếng Pháp thì không được tính đến.
Hàn Quốc và TQ đòi hỏi công bố quốc tế ISI, SCI, nhưng VN ta phải khác. TQ là nước lớn, họ chịu sức ép phải làm tàu vũ trụ, còn ta đâu có phải làm mấy thứ đó. Do vậy, Bộ KH&CN không cần theo gương họ. Ta có con đường riêng của ta, chẳng có nước nào giống nước nào.
Quy định mới về NCCB của Quỹ có một điểm tiến bộ là có quy định rõ ràng, không để các Hội đồng phân phối kinh phí tùy tiện như trước. Tuy nhiên đề tài chỉ cho thời gian quá ngắn 2 năm mà lại đòi hỏi 2 bài báo quốc tế là phi thực tế. Mà tại sao cứ phải đòi hỏi công bố quốc tế? Công bố trong nước cũng được chứ. Và nếu quốc tế được 10 điểm thì bài trong nước cũng phải được 5,6 điểm.
Ngay ở Liên Xô người ta chỉ cần nhấn mạnh cần có bài báo trong nước là đủ. Còn việc hiện nay nhiều người Nga có viết bài cho các tạp chí tiếng Anh, chẳng qua là vì họ muốn kiếm việc ở phương Tây.
Tại sao ta cứ phải yêu cầu công bố quốc tế. Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc của chúng ta ở đâu. Đã là người VN ta phải công bố trên các tạp chí của VN chúng ta.
Ở các viện khác người ta cũng nói với tôi là họ không đồng tình với các bài báo viết về khoa học VN trên báo chí thời gian qua. Một số cán bộ quản lý ở Bộ KH&CN cũng nói với tôi: chúng tôi vẫn luôn ủng hộ các anh đấy chứ, nhưng chính từ trong nội bộ giới khoa học các anh có người cứ cố tình bới chuyện làm vấn đề trở nên to ra…
Dịp Hội thảo Cơ học vừa rồi, Viện phó Viện Cơ học ĐVM (kém tôi 4 tuổi) lập luận: bên Toán họ công bố quốc tế là đúng rồi, họ chỉ có mỗi cái việc đó. Nếu không làm được việc đó thì cái Viện Toán phải bị giải tán. Còn Viện Cơ ta làm NCCB phục vụ ứng dụng nên không cần phải công bố quốc tế. Vì nghiên cứu ứng dụng là quan trọng đối với đất nước nên phải được Nhà nước ưu tiên bao cấp và đầu tư kinh phí chứ không phải để tự trang trải kinh phí bởi thị trường (như tinh thần nghị định 115). Ngay cả ở Úc và Nhật Bản, từ cả nghìn nghiên cứu ứng dụng cũng chỉ có một nghiên cứu đem ra được sản phẩm thành công trên thị trường (hàm ý trong số hàng ngàn đề tài nghiên cứu ứng dụng của ta, Bộ KH&CN chỉ cần chỉ ra một đề tài có được kết quả trên thị trường là đạt thành công ngang như quốc tế ?)…
Viện trưởng Viện Cơ học ứng dụng TP. HCM thì trích dẫn ý kiến “khách quan” của một nhà khoa học Việt kiều nổi tiếng có nhiều kinh nghiệm thực tiễn quốc tế (GS Vật lý Trương Văn Tân ở Úc): nghiên cứu cơ bản ở VN để công bố quốc tế các bài báo mang tính chung chung chỉ là theo đuôi nước ngoài, không có ích lợi gì cho VN mà chỉ làm lãng phí tiền thuế của nhân dân. VN ta phải tập trung nghiên cứu ứng dụng.
Có rất nhiều kiểu ngụy biện khác nhau, phổ biến như là: nước ngoài họ công bố quốc tế vì lương tháng của họ là 5-10 ngàn USD, còn ở ta chỉ vài triệu VND, đầu tư cơ sở vật chất của họ lại còn gấp hơn nhiều lần nữa. Khi nào kinh tế và cơ sở vật chất của ta bằng được như họ ta sẽ công bố quốc tế. Nghiên cứu để công bố quốc tế và nghiên cứu ứng dụng phục vụ nhu cầu thiết thực của đất nước cái nào quan trọng hơn... Họ nói rất hăng, nhưng bảo họ viết công khai ý kiến của mình trên báo thì họ không làm.
Thay đổi tư duy làm khoa học ở VN, đặc biệt là trong các lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng- một lĩnh vực chiếm phần lớn ngân sách đầu tư cho KH&CN thật chẳng dễ dàng gì do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là lực cản từ chính một số nhà quản lý khoa học được coi (hoặc tự coi) là “cây đa, cây đề”.
PĐ Chính Tạp chí Tia Sáng

Đọc bài tường thuật này (trích nguyên văn trên đây) tôi hình dung ra buổi họp mặt chắc rất ư là sống động. Điều làm tôi ngại nhất là ý kiến của mấy vị “cây đa cây đề” này. Họ đứng đầu ngành, cầm chịch khoa học nước nhà, mà nhận thức và quan điểm như tường trình thì thật là nguy hiểm. Phân tích từng điểm mà tôi nghĩ là ngộ nhận của các vị này có lẽ cần một bài báo nghiêm chỉnh. Ở đây tôi chỉ muốn chỉ ra vài hiểu lầm đáng tiếc sau đây.
Về ý kiến cho rằng ở các đại học phương Tây, người ta không quan tâm đến việc giáo sư họ có công bố quốc tế hay không, mà chỉ quan tâm đến thu hút tài trợ, tôi thấy thực tế không đúng như thế. Ở trường tôi, người ta đánh giá giáo sư qua nhiều tiêu chí, trong đó có 4 tiêu chí chính: nghiên cứu khoa học, đào tạo, thu hút tài trợ, và phục vụ cộng đồng khoa học. Nghiên cứu khoa học bao gồm năng suất khoa học qua những công bố quốc tế, vì đây là “đơn vị tiền tệ” của giới khoa bảng. Là giáo sư mà không có công bố quốc tế thì chắc chắn chẳng gây được uy tín nào, thậm chí không thể nào có được chức danh đó. Muốn thu hút tài trợ thì phải có công bố quốc tế trước, bởi vì đâu có cơ quan tài trợ nào cấp kinh phí cho những nhà khoa học mà chẳng có một bài báo khoa học nào trên các tập san quốc tế. Thật ra, người ta đã làm phân tích trên Scientometrics cho thấy những ai có nhiều bài báo khoa học và chất lượng cao có xác suất cao nhận được tài trợ cho nghiên cứu.
Tôi thấy ý kiến hay quan điểm “ngành tôi khó, ngành anh dễ” (phản ảnh qua câu “Ngành Sinh học công bố quốc tế dễ: họ chỉ cần tìm ra cái cây cái lá gì mới là công bố quốc tế được. Viện Cơ học công bố quốc tế ít vì công bố quốc tế trong lĩnh vực Cơ học khó hơn”) hết sức “hồn nhiên”. Hình như người nói câu này không biết gì về sinh học, mà chỉ nhìn qua thực vật với một cặp mắt phiến diện như thế. Sinh học là một ngành rất rộng lớn, và tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay. Người ta cho rằng thế kỉ 21 là thế kỉ của sinh học, kể cả sinh học phân tử và di truyền học. Làm sao để đánh giá ngành nào khó hơn ngành nào? Một lần trước, có người làm toán cũng nói với tôi giống như thế: mấy anh làm bên y sinh học thì dễ công bố, chứ bên chúng tôi phải 2 hay 3 năm mới công bố được một bài vì làm toán khó lắm. Không biết các bạn thì sao, chứ mỗi lần tôi nghe câu nói loại này tôi cảm thấy tội nghiệp cho người nói (bất kể anh chị ta làm trong ngành nào) hơn là chấp nhất họ. Đây cũng là loại suy nghĩ “vùi đầu trong cát” (head in the sand), không nhìn chung quanh xem người ta làm ra sao. Thật ra thì trong bất cứ ngành khoa học nào, nếu làm chuyên sâu và nghiêm chỉnh, đều có cái khó của nó. Chẳng riêng gì ngành toán, vật lí, y sinh học, mà ngay cả ngành kinh tế học cũng thế. Do đó, đem so sánh chuyên ngành của mình với ngành khác là một việc làm tương đối mạo hiểm và thể hiện thiếu kém suy nghĩ trong khoa học.
Khi không thích cái gì người ta thường gán cho nó một nhãn hiệu với hàm ý khinh khi. Tiêu biểu cho lí luận này là quan điểm cho rằng “ISI chỉ là một tổ chức tư nhân, không đủ uy tín đại diện, chỉ thống kê bài tiếng Anh, trong khi có bao tạp chí có uy tín tương đương bằng tiếng Nga, tiếng Pháp thì không được tính đến”. Tôi thấy quan điểm này rất giống thời bao cấp, xem bất cứ điều gì từ Nhà nước là chân lí. (Hình như người phát biểu quên rằng chúng ta đang theo kinh tế thị trường.) Các đại học hàng đầu của Mĩ đều là tư nhân. Các tập đoàn lớn về kinh tế và quốc phòng của Mĩ đều là tư nhân. Ở Mĩ và Úc, thậm chí còn có nhà tù do tư nhân quản lí. Theo quan điểm này thì các đại học đó, tập đoàn kinh tế và quốc phòng đó, nhà tù đó … không đủ uy tín!
Vấn đề không phải là “tư nhân” hay “nhà nước” mà là đóng góp của họ cho xã hội. ISI đã có những đóng góp cực kì lớn cho phát triển khoa học. Dù những sản phẩm và thống kê của họ chưa hoàn hảo, nhưng những chỉ số của ISI đã và đang được các đại học trên thế giới (ngoại trừ Việt Nam?), các cơ quan tài trợ, các bộ khoa học công nghệ, v.v… dựa vào đó mà đánh giá năng lực khoa học. Không thể xem thường đóng góp của ISI chỉ vì họ là một doanh nghiệp tư nhân. Còn các tập san Anh, Pháp, Nhật, Hàn, v.v… cũng có một số nằm trong danh sách của ISI, nhưng phần lớn không được công nhận vì chưa đạt được những điều kiện mà cộng đồng khoa học quốc tế công nhận. Làm sao và lấy gì để nói rằng một tập san khoa học của Nga hay Pháp tương đương với tập san Nature (của Anh) hay Science (của Mĩ)? Người phát biểu câu này thật là can đảm!
Thật là hài hước khi đọc ý kiến cho rằng “Hàn Quốc và TQ đòi hỏi công bố quốc tế ISI, SCI, nhưng VN ta phải khác. TQ là nước lớn, họ chịu sức ép phải làm tàu vũ trụ, còn ta đâu có phải làm mấy thứ đó”. Dùng cách lập luận đó, có lẽ Úc, Canada, Hà Lan, và Anh cũng có thể nói không cần gây áp lực cho các nhà khoa học của họ công bố quốc tế, vì 4 nước này là nước nhỏ và cũng không có làm “tàu vũ trụ”! Thật là đáng ngại khi có người đang cầm chịch khoa học mà có suy nghĩ quá đơn giản như thế.
Quan điểm về ta là ta, ta có con đường của ta (như “KH&CN không cần theo gương họ. Ta có con đường riêng của ta, chẳng có nước nào giống nước nào”) thì cũng ok, nhưng không thể khái quát hóa và đơn giản hóa câu đó cho mọi vấn đề được. Có những cái chúng ta cần giữ bản sắc của mình (như văn hóa), nhưng có những cái mình phải hội nhập với cộng đồng quốc tế (như các chuẩn mực khoa học). Chúng ta vào WTO và phải tuân thủ theo luật chơi của WTO, chứ không thể nói rằng ta có con đường riêng của ta. Có lẽ chính vì suy nghĩ này mà Vietnam Airlines đã thua trên sân chơi quốc tế, và tốn khá nhiều tiền cho một kẻ lường gạt.
Luật chơi và chuẩn mực khoa học đã được hình thành từ rất lâu, và đến nay đã được đại đa số cộng đồng khoa học thế giới chấp nhận. Nước nào không chấp nhận thì sẽ bị loại ra ngoài dòng chảy của khoa học. Không thể ngụy biện theo cảm tính bằng những “Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc” để kêu gọi “Đã là người VN ta phải công bố trên các tạp chí của VN chúng ta”. Hệ luận của câu này là công bố trên các tập san quốc tế là không yêu nước, thiếu tự hào dân tộc. Nếu thế thì chính phủ và các đại học Úc, Hà Lan, Canada, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, v.v… đều không có tinh thần yêu nước thương dân vì họ kêu gọi các nhà khoa học của họ công bố trên các tập san có impact factor cao, mà đại đa số các tập san này là ở Mĩ hay ở nước ngoài.
Nếu các tạp chí của Việt Nam được ISI công nhận, có cơ chế làm việc minh bạch, và đã gây được uy tín trong khoa học qua những công trình có chất lượng cao, thì lời kêu gọi đó có thể chấp nhận được. Nhưng hiện nay, chúng ta biết rằng chưa một tập san khoa học nào của Việt Nam đạt được những chuẩn mực đó. Vì thế lời kêu gọi đó không thực tế. Người phương Tây có câu “Nếu bạn không thắng được họ, thì nên tham gia với họ” (if you cannot beat them, join them), và mượn câu nói đó, tôi nghĩ nếu chúng ta chưa có khả năng lập ra những “luật chơi” khoa học mang tính Việt Nam, chưa đủ “critical mass” (thực lực) thiết lập một tập san khoa học tầm cỡ quốc tế, thì cách hay nhất là học họ và tham gia họ bằng cách công bố các công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế.
Nguyễn Văn Tuấn ( Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Úc)
Tuan’s Blog (http:// tuanvannguyen.blogspot.com)

Phỏng vấn ông Vương Trí Nhàn: Nâng trình độ sống để thích nghi - phát triển

(TuanVietNam) - Lịch sử ngoại xâm liên miên, người Việt quen sống co lại, ít có khao khát ra với thế giới, hiểu thế giới. Càng co lại ta càng đánh mất đi khả năng phát triển, càng không đủ bản lĩnh để ra với thế giới và hiểu thế giới - nhà văn hoá Vương Trí Nhàn luận giải quá trình phát triển của Việt Nam trong hội nhập dưới góc độ văn hoá.
Trong sự thích nghi có sự buông trôi bất lực
- Quan sát người Việt và dân tộc VN trong cuộc sống hội nhập hôm nay, với một người dành nhiều thời gian nghiên cứu về VN và đặc tính dân tộc Việt, ông có ấn tượng, suy nghĩ gì?
Nhìn lại thời gian mấy chục năm nay, dễ thấy Việt Nam sau chiến tranh đã trải qua một quá trình, lúc chậm lúc nhanh, nhiều lúc như là quanh co, hỗn loạn, nhưng nhìn chung đến nay đã chạm tới một cái ngưỡng và cần lo để chuyển sang giai đoạn mới. Đã đến lúc chúng ta có thể tổng kết, đánh giá cả một chu kì phát triển. Một hướng suy nghĩ là nhìn những thành công hay vấp váp về kinh tế xã hội dưới góc độ văn hóa, bởi con người kinh tế chẳng qua cũng chỉ là một khía cạnh của con người VN.
Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, từ chỗ tách ra để làm công việc riêng của dân tộc đến chỗ quay trở về hội nhập với thế giới, cái quá trình ấy là cả một khúc quanh đột ngột. Tôi ngờ rằng nhiều người lớn tuổi đã sống hết lòng với đời sống hẳn cũng chung tâm lý như tôi, đêm nằm ngẫm nghĩ thấy thương cho chính mình và những người thân quen xung quanh, rộng ra là thương cho cả dân tộc.
Chiến tranh từng bòn rút tất cả sức lực, kéo cuộc sống chậm lại. Mở cửa, ta lại lao vào làm ăn với bất cứ giá nào, sức khỏe kém đi, con cái không người dạy dỗ, cũng hư hỏng đi.
Nhìn cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội đều bị xói mòn mà không khỏi xót xa.
Người Việt xưa tới giờ khổ quá, đến khi ra với thế giới thì mắt như bị chói, cái gì cũng thèm thuồng. Hết gồng mình lên chiến đấu nay lại gồng mình lên để hưởng thụ. Cha mẹ cứ cái gì ngon nhất, đẹp nhất là lo dành cho con. Trong gia đình, ta cúi mặt xuống chiều chuộng nhau mà không dám đặt ra yêu cầu cao với nhau.
Theo tôi, căn nguyên của cái cách ứng xử này là cảm giác tự ti, nhìn thấy cái sung sướng vừa đến với mình nó mong manh quá, còn thế giới vẫn xa lạ quá. Che mắt mình lại, không muốn lộ ra ở mình cái phần bất lực, bởi tận thâm tâm, tin rằng không bao giờ đạt được cái phần nhân loại hôm nay đã tới.
Nghịch lý là ở chỗ do mang tâm thức tự ti đó, khi quay lại nhìn bản thân, ở nhiều người - không ai bảo ai - sinh ra tâm lý tự huyễn hoặc. Rằng so ra ta cũng ghê gớm lắm; rằng không có cái phần hơn hẳn thiên hạ nhưng mình lại có cái khác: di sản thế giới (thực chất phần nhiều là di sản thiên nhiên, đâu phải là văn hóa), văn hóa ẩm thực...
Bình tĩnh lại để nghĩ sẽ thấy cái để VN khoe ra với thiên hạ thường chỉ là phần trời cho mà không phải phần con người làm ra, chỉ là những gì bản năng mà không phải là phần của trí tuệ: Ta không có cuốn sách, bức họa nào ở tầm thế giới. Trong âm nhạc, phần khó nhất của nó là hòa âm thì nhạc VN lại kém, lấy đâu ra tác phẩm lớn.
Cái rõ nhất và duy nhất chúng ta có thể khoe với thế giới chính là sự thích nghi, thích nghi nên thế nào cũng tồn tại. Tôi nhớ trong Anh em Karamazov, Dostoievski có một câu khái quát: "Tồn tại trong bất cứ điều kiện nào là truyền thống của dòng họ Karamazov nhà ta". Người VN cũng thế. Khó khăn đấy, nhưng chúng ta vẫn tồn tại - ta tự nhủ.
Có điều hôm qua trong chiến tranh nghĩ thế là cần thiết, nhưng hôm nay không đủ nữa. Đã đến lúc đặt vấn đề là tồn tại sẽ như thế nào, thế nhỡ sự thích nghi làm cho chúng ta mòn mỏi, kém cỏi, tầm thường và hư hỏng đi thì sao?
Làm kinh tế bằng tư duy chiến tranh
- Ông vừa hơn một lần nói tới chiến tranh. Phải ông cho rằng đó là một trong những nguyên nhân gần dẫn tới những khó khăn kinh tế hiện nay? Nhưng ba chục năm là thời gian quá dài, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng. Liệu ta có nên cường điệu vai trò của nó?
- Không, chả có gì là cường điệu cả. Ta đã ra khỏi cuộc chiến, nhưng lòng ta, cách sống, cách nghĩ của ta chưa ra khỏi.
Chiến tranh cho phép người ta bất chấp quy luật miễn là được việc; chỉ lo hiệu quả, còn cái giá của nó thì không cần biết. Trong chiến tranh, nhất là chiến tranh ở VN, cứ chờ có những điều kiện cần và đủ thì không ai dám làm gì. Phải liều. Phải duy ý chí. Cách làm đó nay vẫn được ta áp dụng.
Nói tóm lại, nếu trong chiến tranh ta phá với bất cứ giá nào thì nay ta xây với bất cứ giá nào. Trên báo chí luôn có những tin đại loại cây cầu này sang năm phá năm nay vẫn cứ thi công vì đã vào kế hoạch rồi, hoặc xây nhà máy ào ào mà chả chú ý gì tới tác hại của nó với môi trường. Thì đó là kiểu tư duy chiến tranh chứ còn gì nữa?!
Bản thân chiến tranh Việt Nam lạ, không giống ai. Việt Nam thắng được trong chiến tranh là nhờ chơi theo luật Việt Nam, tuy nhiên, trong làm kinh tế, thì phải chơi theo luật chung của thế giới.
Những suy nghĩ về chiến tranh còn thường xuyên đến với tôi, mỗi khi nghĩ tới quốc nạn tham nhũng. Đọc cuốn Những bước thịnh suy của các triều đại Trung Quốc của Cát Kiếm Hùng (nhà sử học Đài Loan) biết rằng trong lịch sử nước này, tham nhũng ghê nhất là triều đại nhà Nguyên, một chính quyền quân sự. Nữa là ở ta lại phổ biến hiện tượng coi ai giỏi chiến đấu thì cũng biết làm kinh tế, nới lỏng luật pháp, dễ dãi với người có công và tuỳ tiện lấy quyền lợi kinh tế trả ơn cho người góp phần tạo nên thắng lợi trong chiến tranh... tham nhũng là tránh sao nổi.
Tâm lý tiểu nông tư duy tiểu nông
- Ngoài nguyên nhân chiến tranh, để cắt nghĩa tình hình hiện thời, theo ông đâu là những nguyên nhân lịch sử văn hoá sâu xa hơn?
- Trước khi Pháp sang, "cả nước sống leo lắt trong một tình trạng thôn dã" - tôi đọc được câu này trong một cuốn sách mới dịch in gần đây, cuốn Người Pháp và người An nam bạn hay thù? của Philippe Devillers. Tôi chia sẻ với cách nhìn của nguyên trưởng đoàn đàm phán Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, ông Nguyễn Đình Lương, rằng tâm lý tiểu nông vẫn còn ăn sâu trong cách đi ra thế giới của người mình. Và cả cách tư duy nữa: tư duy tiểu nông.
Tôi trộm nghĩ, ở ta, một khi nếp sống làng xã còn ngự trị khắp nơi thế này, không có triết học ghê gớm cao xa gì tồn tại nổi, chỉ tư tưởng tiểu nông chi phối tất cả.
- Nhìn sang nước Trung quốc, nông thôn ở họ cũng nặng nề, sao họ vẫn phát triển tốt?
- Vì tư tưởng nông dân ở đó tuy mạnh (bắt nguồn từ tầm vóc một nông thôn bao la), nhưng không phải là tư tưởng chủ đạo. Xưa đã vậy mà nay càng vậy. Người ta bảo rằng trọng nông ức thương là nguyên tắc chi phối chính sách những nước theo đạo Khổng. Nhưng đó chỉ là một phần sự thật. Từ thời Tần Hán đô thị Trung Quốc đã phát triển, từ Đường Tống trở đi thì đã có vai trò của một cơ chế năng động kéo cả xã hội tiến theo.
Đô thị phát triển nghĩa là quốc gia trở thành một đơn vị có sức kết dính mạnh mẽ. Việc kinh doanh của thương nhân ở đây được sự hỗ trợ của trí tuệ, giới nhà nho cũng tham gia nghề buôn, làm cho nghề này đạt tới quy mô quốc gia và xuyên quốc gia.
Nhìn chung trong thương trường, tư duy con người trở nên thông thoáng hơn, năng động hơn. Giở các cuốn lịch sử tư tưởng ở Trung Quốc bao giờ tôi cũng thấy người ta nói tới phần tư tưởng kinh tế. Thời nào, bộ phận này trong tư tưởng xã hội Trung Hoa cũng có tiến triển.
Trong khi ấy, nhìn lại mình thì ngược lại. Quen sống tự nhiên ở làng quê, ta không dám tổ chức lại cuộc sống qua các đô thị. Ta làm gì cũng chỉ theo bản năng, sự tham gia của lý trí chỉ dừng lại ở mức tối thiểu.
Là một nước nông nghiệp nhưng cho tới lúc này, Việt Nam hầu như không có sách nào tổng kết kinh nghiệm trồng lúa, còn nói chi tới các nghề khác.
Nghề buôn thì lại càng bị coi thường khinh rẻ. Mọi người cho đó là nghề lừa lọc và thường bảo nhau "Thật thà như thể lái trâu". Bản thân người làm nghề buôn cũng làm ăn trong thế quẩn quanh lặt vặt, sản xuất càng lụn bại thì họ càng có cơ hội để bắt chẹt người có nhu cầu.
- Ông cho rằng năng lực sản xuất và kinh doanh lại là chỉ số chủ yếu đánh giá sự phát triển xã hội?
- Xét về mặt tư duy, sản xuất và kinh doanh được là nhờ người ta có một quan niệm rộng rãi về thế giới. Người ta theo đuổi sự hoàn hảo. Người ta làm gì cũng chuyên nghiệp.
Cũng là cái diều làm để chơi, nhưng diều các nước nhiều kiểu dáng kỳ lạ, còn diều VN chỉ là mảnh giấy bồi phất vào mấy cái nan tre. Thế nên không trách được khi người ta bảo hàng hoá VN vừa nghèo nàn đơn điệu về mẫu mã, vừa kém về phẩm chất.
Về tác động xã hội, bản thân truyền thống kinh doanh yếu kém là dấu hiệu của một xã hội chưa trưởng thành. Xã hội phát triển tự nó sẽ đặt ra các nhu cầu mới, trong khi với VN hình như chỉ cần tàm tạm là được, cải tiến mà làm gì. Khi không có quá nhiều những nhu cầu phải thỏa mãn thì sự phát minh, sáng chế cũng như đổi mới việc phân công lao động lại trở thành xa xỉ.
Tóm lại ta không chuẩn bị để bước vào thế giới hiện đại.
E sợ khi bước ra với thế giới
- Những hạn chế trong việc làm ăn này đã tiếp tục chi phối chúng ta trong việc làm ăn buôn bán với thế giới?
Rải rác tôi đã thấy người ta nêu ra đủ thói xấu của ta sau khi gia nhập WTO: e ngại, chỉ muốn đánh quả, lanh chanh kiếm chác mà lại dại dột ngớ ngẩn dễ bị lừa, đau chết điếng đi mà không cách gì thoát nổi...
Tôi muốn mở rộng thêm mà nói rằng đây là cả một "truyền thống" của VN, thứ quán tính nó ràng buộc chúng ta từ nhiều đời.
Đọc lịch sử sẽ thấy nền ngoại thương của VN bây giờ không khác các thế kỷ XVII-XVIII là bao. Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, ở Đàng ngoài, chúa Trịnh nói chung cấm cửa lái buôn ngoại quốc, sợ họ vào gây náo loạn nhân tâm. Nhưng ngồi nghĩ, lại tiếc, nên chính sách cứ khi thò khi thụt, dùng dằng, dang dở, nay thế này mai thế khác. Mà chính sách càng tuỳ tiện đỏng đảnh, quan lại càng dễ đi đêm để hưởng lợi.
Còn ở Đàng trong, tiếng rằng mở cửa - và đây là một bước tiến đáng kể so với Đàng ngoài - nhưng toàn là người ta đến bán hàng cho mình và mang hàng của mình đi, chứ dân ta có lái buôn chủ động vươn ra với họ đâu!. Đến người phiên dịch dắt mối trong các vụ làm ăn này cũng thường là người Tàu, ta không có nhân viên của mình. Quan chức quản ngoại thương chủ yếu chỉ lo thu thuế, khi kiểm tra thương thuyền nước ngoài, thường lợi dụng chức vụ để xin xỏ kiếm chác cho mình, bao che cho thương nhân nước ngoài. Được lợi chút đỉnh, họ sẵn sàng bán rẻ cả quyền lợi của quốc gia.
- Từ góc độ văn hoá ông cắt nghĩa hiện tượng này như thế nào?
- Với quá trình lịch sử liên miên bị đe doạ bởi ngoại xâm, người Việt quen nghĩ rằng những tai vạ của mình là do nước ngoài mang tới. Trong mắt ta, họ thường là là kẻ thù nhiều hơn là đối tác cùng tồn tại. Nên ta nhìn họ với nhiều e ngại và tự dặn nhau càng ít tiếp xúc với người ngoài càng ít càng tốt.
Ta quen sống co lại, ít có khao khát ra với thế giới, hiểu thế giới. Trong tiếp xúc ít có khả năng đặt mình vào địa vị người khác, không có thói quen và kinh nghiệm quan hệ với bên ngoài, lảng tránh là hơn.
Cho đến thời gian thế hệ chúng tôi lớn lên, tâm lý này vẫn chi phối mạnh mẽ. "Thôi con đừng khóc chi con/ Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người". Đây là một câu ca dao tôi nghe thuộc lòng từ nhỏ. Về sau đọc sách, càng thấy cái tâm lý ăn quẩn vườn nhà đã ngấm vào tâm thức của dân mình. Người dân đồng bằng Bắc Bộ xưa thường chỉ biết đến phạm vi 20 km quanh vùng họ ở. Luôn luôn tâm niệm "ta về ta tắm ao ta", vừa ra khỏi làng đã nước mắt ngắn nước mắt dài sùi sụt. Ngần ngại, sợ hãi...
Càng co lại ta càng đánh mất đi khả năng phát triển, càng không đủ bản lĩnh để ra với thế giới và hiểu thế giới.
Đợt hội nhập vừa rồi là có vẻ như ta buộc phải bung ra, mở cửa, chứ thật ra chưa chín ở bên trong. Vừa không có thói quen, vừa không chuẩn bị thích đáng, cuối cùng ta "nhảy đại" cho xong. Chính cái đó sinh ra nhiều tệ nạn: tâm lí đánh quả, định đi tắt đón đầu, "lừa", lách luật...
Nhìn ở một tầng sâu hơn, có thể nói quan hệ kinh tế của VN với thế giới trong thời gian vừa qua không dựa trên cơ sở văn hoá chắc chắn. Đại khái thấy ai làm mình cũng làm theo, khi thất bại mới ngớ ra thì đã muộn. Định bán hàng cho người ta nhưng không hiểu gì về lịch sử tâm lý dân tộc cách sống của người ta, cái gu của người ta thì bán sao được?
Một xã hội chưa trưởng thành
- Ông chỉ mới giải thích những yếu kém về văn hoá liên quan đến mối quan hệ làm ăn với nước ngoài. Nhưng một nền kinh tế không phải chỉ có chuyện đối ngoại. Thế còn những khó khăn của kinh tế trong nước thì sao? Đâu là những nguyên nhân về mặt văn hoá - xã hội?
- Có thể hình dung xã hội VN trong quá khứ là đoàn quân tổ chức với nhiệt tình, và quyết tâm giữ nước hơn là xã hội làm ăn.
Một xã hội chỉ phát triển được nếu biết ứng xử khôn ngoan với thiên nhiên, vừa khai thác vừa làm giàu thêm thiên nhiên. Đằng này chúng ta quen với tư duy hái lượm, thâu nhặt từ thiên nhiên, hơn là cấy trồng, tổ chức sản xuất tạo ra của cải. Một ví dụ, so với đất đai, VN có tỉ lệ bờ biển khá dài. Nhưng người Việt gần như không biết khai thác biển, khái niệm kinh tế biển còn quá xa lạ.
Các nhà văn đồng nghiệp của tôi thường chỉ hay nói ở Việt Nam cá nhân chưa phát triển. Nhưng nên nhớ là cả xã hội VN cũng ở vào một tình trạng như vậy. Cách quản lý xã hội từ xưa vẫn rất đơn sơ: thu thuế trên đầu người chứ không phải thu thuế sản xuất và kinh doanh.
Trong một tổng kết về chính quyền Hà Nội thời trung đại (in trong kỷ yếu hội thảo Quản lý và phát triển Thăng Long Hà Nội tháng 3/2008), tôi thấy người ta lưu ý là trong số các văn bản đưa ra, pháp lệnh về an ninh chiếm tới 65,56%, trong khi chỉ 16,42% văn bản ban hành là có liên quan tới sản xuất và kinh doanh, 8,96% liên quan tới quản lý văn hoá xã hội. Suốt thời phong kiến vai trò tổ chức làm ăn của chính quyền hầu như không có.
Một xã hội phát triển là một xã hội có sự phân tầng cao và kết cấu phức tạp mà hợp lý. Xã hội VN chỉ đang trên đường đạt tới trình độ đó.
Nói một cách hình ảnh, nếu như xã hội chuẩn là một cánh rừng nguyên sinh thì VN có nhiều phần giống như đồng cỏ hoang. Về mặt cá nhân con người chúng ta còn nặng về bản năng và tự phát - người Pháp nói đó là dạng "tư duy tiền Descartes" - trước sự duy lí. (Song đến nay cái kiểu tư duy ít lí trí này vẫn được bênh che và tự hào, thế mới đáng sợ! )
- Người ta có câu: một người VN không thua kém một người Nhật Bản nhưng ba người VN thì chắc chắn thua ba người Nhật Bản. Tính hợp tác, cộng đồng của người Việt hình như là trở ngại. Trong khi đó, nhiều người lí giải trong chiến tranh VN chiến thắng chính là tính cộng đồng và sự đoàn kết. Liệu hai góc nhìn này có quá trái ngược và phủ định lẫn nhau. Điều gì trong chiến tranh đã gắn kết người VN với nhau và trong thời nay, cần phải xem xét lại yếu tố cố kết như thế nào?
- Tôi e bản thân câu "một người Việt không thua kém một người Nhật" cũng là một nhận xét mơ hồ, có pha nhiều ảo tưởng. Không nên thảo luận về một cảm tưởng thoáng qua và tuỳ tiện như vậy.
Còn cái chuyện ba người Việt so với ba người Nhật thì liên quan tới cấu trúc xã hội. Mượn cách nói của Marx có thể bảo xã hội ta còn ở tình trạng của những bao khoai tây lủng củng. Thế nên cả nước có tới vài chục cảng nước sâu mà không có cảng nào đạt chuẩn quốc tế. Thế nên các đô thị hiện nay không thiếu những căn nhà đẹp nhưng không có được những khu nhà đẹp. Nói cách khác, chất kết dính của xã hội Việt kém - kết dính theo nghĩa nội tại, cấu trúc, chứ không phải đặt cạnh nhau mà buộc phải sống với nhau.
Ra ngoài hớt phần váng
- Chúng ta cũng đã và đang mở cửa và ra với thế giới. Những nhân tố mới sẽ vào, kích thích sự thay đổi, sáng tạo bên trong Việt Nam?
- Trong trường kỳ lịch sử, yếu tố bên ngoài luôn luôn đóng vai trò những cú hích thúc đẩy sự chuyển đổi của xã hội. Có điều, các yếu tố đó thường tác động ngoài sự kiểm soát người trong cuộc. Ta không tự nguyện đón nhận. Nghèo là như vậy, kém phát triển, thiếu kinh nghiệm như vậy, nhưng VN lại không biết học hỏi để chủ động phát triển.
- Ông có quá lời? Bản thân người Việt Nam vẫn thường tự hào rằng chúng ta là dân tộc thông minh, cần cù, sáng tạo và ham học hỏi?
Giao lưu văn hoá là xu thế chung của thế giới. Một nền văn hoá lớn như văn hoá Trung Hoa luôn luôn tự hào là có thái độ chủ động tiếp xúc với bên ngoài, lấy văn hoá ngoại lai làm giàu cho văn hoá mình, và rất nghiêm túc trong học hỏi. Từ đời Đường đạo Phật của Ấn Độ đã được tiếp thu trên quy mô lớn. Triều đình cử hẳn Đường Tam Tạng qua Ấn Độ lấy kinh và về cho dịch thật kỹ càng thật đầy đủ. Đến Trung Hoa, đạo Phật ngoại lai có thêm một bước phát triển mới. Người ta nói rằng nhờ học theo lối kể chuỵện trong kinh Phật mà nghệ thuật tự sự nẩy nở dẫn đến sự ra đời của các tiểu thuyết lớn. Từ đời Đường những điệu múa có nguồn gốc Trung Á,... đã xâm nhập vào tận cung đình.
Nhật Bản cũng coi việc tiếp thu nước ngoài như một cái nguồn lớn làm nên sức sống của văn hoá mình. Riêng về sách thôi, Nhật Bản thiết lập một mối giao lưu thường xuyên với Trung quốc. Một con đường sách trên mặt biển đã hình thành, được coi là tương đương với con đường tơ lụa nổi tiếng. 50-60% sách in ở Trung Quốc có bản lưu ở Nhật Bản.
Còn Việt Nam mình thì sao? Trong các cuốn lịch sử văn hoá Việt Nam, phần viết về sự tiếp nhận văn hoá nước ngoài thường rất đơn sơ, nhiều ngành nghề nhiều bộ môn nghệ thuật rõ ràng học từ bên ngoài, nhưng lờ đi, coi là ta nghĩ ra. Chỉ một vài việc buộc phải ghi nhận nhưng chỉ nói qua loa và lúc nào cũng không quên nói thêm là chúng ta tiếp thu có sáng tạo.
Trong thực tế sự học hỏi diễn ra khá “tế nhị”. Từ xưa ta đã học của Trung Hoa rất nhiều, nhưng chỉ học lỏm, bắt chước mà không nghiêm túc tuân theo bài bản, ăn bớt bài gốc của người ta rất nhiều. Đến thời tiếp xúc với văn hoá Tây phương, lúc đầu từ chối, sau buộc phải tiếp nhận thì bên cạnh phần tiếp thụ sáng tạo cũng nhiều phần chỉ qua loa láng cháng, mà tình trạng học đòi những cái lặt vặt lại diễn ra dài dài .
Quan sát bề ngoài, người VN hôm nay thích nghi nhanh, học nhanh. Nhìn quần áo, đầu tóc, cách nghe nhạc cách chơi xe của người Việt, nhiều người nước ngoài phải kêu lên: sao mà Tây thế! Thế nhưng đó lại là cái học, cái thích nghi hời hợt, dễ dãi chứ không phải tiếp nhận ở bề sâu văn hóa. Thành ra nhiều khi chỉ hớt váng, hớt lấy cái phần hời hợt của người và hệ quả tất yếu là những rác rưởi của thế giới đã vào quá dễ dàng, cả rác công nghiệp và rác văn hoá.
Những khó khăn trong việc làm ăn quan hệ với nước ngoài bắt nguồn từ chính chúng ta. Hay dở tốt xấu cái cần cho mình cái phải xa lánh... không có sự phân biệt. Từ chiến tranh bước ra ta chưa nhận thức đầy đủ rằng mình là một thành phần của thế giới và trước sau sẽ phát triển theo quy luật của thế giới. Cho đến tương lai của ta ra sao, cũng chưa ai hình dung nổi.
Tìm cho mình những động lực lớn
- Theo cách trình bày của ông thì có vẻ như trong khi phát triển đang là chuyện sống còn thì những điều kiện - hay là những điểm tựa - từ văn hóa và truyền thống dân tộc lại có phần không đầy đủ. Vậy thời gian tới, chúng ta phải làm gì?
Cũng đã nhiều lúc tôi tự đặt cho mình câu hỏi như thế, và đến nay vẫn chưa tìm được câu trả lời thích đáng. Chính bởi còn thắc mắc, nên tôi - trong lúc tự xác định là phải nghiên cứu tiếp - mạnh dạn cứ “xới” vấn đề lên như trên. Biết đâu khi phản bác tôi, các đồng nghiệp lại tìm ra được những câu trả lời đúng. Khi đó tôi sẽ tâm phục khẩu phục!
Nếu được nêu lên một đề nghị tổng quát cuối cùng, tôi chỉ muốn nhấn mạnh một điều là xã hội cần có sự khai phá thay đổi trong tư duy. Thích nghi bị động chỉ đủ để tồn tại, thay đổi một cách chủ động mới có thể phát triển.
Trước tiên cần đầu tư nhiều hơn vào khâu tự nhận thức. Ông Nguyễn Đình Lương nói thẳng là nhiều khi ta không hiểu hoặc cố tình không hiểu luật chơi thế giới. Ông Lê Đăng Doanh bảo so với thế giới chúng ta không chỉ lạc hậu là còn lạc lõng và cái sau là đáng sợ hơn cái trước. Những gợi ý loại đó đáng để chúng ta cùng suy nghĩ.
Điều may mắn là chúng ta đang sống trong một thế giới thức tỉnh; bộ mặt của thế giới bộc lộ đầy đủ hơn bao giờ hết, kể cả sự bất lực của nhân loại trước nhiều vấn đề. Ngay những thất bại của các cộng đồng dân tộc khác cũng đáng được nghiên cứu để nhờ thế mà ta tránh được những hy sinh vô ích.
Sức ép của thời đại đến với mỗi dân tộc đều đang rất lớn. Nếu biết chủ động, đó lại là động lực thúc VN mau chóng mạnh hơn, lớn lên nhanh hơn.Phương Loan phỏng vấn ông Vương Trí Nhàn Tuần Việt Nam
Huyền thoại Putin
Michael McFaul là Hội viên của Viện nghiên cứu Hoover, giáo sư khoa chính trị và giám đốc Trung tâm Dân chủ, Phát triển và Pháp trị tại Đại học Stanford; Kathryn Stoner-Weiss, phụ tá giám đốc Ban Nghiên cứu và là học giả thâm niên trong Ban Nghiên cứu tại Trung tâm Dân chủ, Phát triển và Pháp trị tại Đại học Stanford.



Huy Đức lược dịch
Dưới thời Putin, tự do chính trị đi xuống, nhưng kinh tế đi lên. Có luận cứ cho rằng, đẩy lùi những bước tiến dân chủ là hi sinh cần thiết cho mục tiêu cao cả là ổn định và phát triển. Lối lý giải này không những đã thuyết phục đại đa số dân Nga mà còn được dùng để chứng minh rằng mô hình Putin có thể được sao chép lại. Nhưng, chế độ dân chủ Nga vào những năm 1990 đã xuất hiện đồng thời với sự tan rã của bộ máy nhà nước và sự tuột dốc của nền kinh tế, chứ nó không tạo ra hai tình trạng này. Theo chiều ngược lại, chế độ độc tài tại Nga dưới sự lãnh đạo của Putin đã xuất hiện trùng hợp với giai đoạn kinh tế phát triển, chứ không phải là nguyên nhân (làm cho kinh tế phát triển). Bất cứ thành quả nào dưới triều đại Putin đều đã có thể là to lớn hơn nếu như có dân chủ. Từ dân chủ trở lại độc tài: Trong nhiều năm trước khi Liên Xô sụp đổ, Mikhail Gorbachev đã bắt đầu đưa ra những cải tổ quan trọng, bao gồm những cuộc tuyển cử có nhiều ứng viên tranh nhau để vào các chức vụ ở cấp quốc gia và địa phương, tính đa nguyên trong các phương tiện truyền thông (ngay cả khi thuộc quyền sở hữu của nhà nước), và tự do thành lập các nhóm chính trị và công dân. Sau năm 1991, Nga bắt đầu triển khai tất cả những yếu tố cơ bản của một chế độ dân chủ thông qua lá phiếu. Các cơ quan truyền thông bằng điện tử hay báo giấy không do nhà nước kiểm soát gia tăng gấp bội. Phe đối lập chính trị ồn ào sinh động đến nỗi Yeltsin hai lần đối diện với nguy cơ bị nhóm nghị sỹ cộng sản truy tố trước Hạ viện Nga (Duma). Cuộc bầu cử quốc hội năm 1999 trở thành một cuộc tranh đua gay gắt nhất trong lịch sử nước Nga. Tuy thế, Yeltsin vẫn chưa thể là một nhà dân chủ hoàn hảo: ông ta dùng vũ lực để nghiền nát quốc hội Nga năm 1993, áp đặt thô bạo một Hiến pháp mới gia tăng quyền lực của Tổng thống và ngăn cản không cho một số đảng phái hoặc cá nhân tranh đua trong nhiều cuộc bầu cử ở cấp quốc gia hay cấp vùng. Ông ta cũng dấy lên hai cuộc chiến tại Chechnya. Hệ thống chính trị mà Yeltsin bàn giao cho Putin thiếu nhiều thuộc tính cơ bản của một chế độ dân chủ tự do. Tuy nhiên, dù có khuyết tật gì đi nữa, chế độ chính trị Nga dưới thời Yeltsin rõ ràng vẫn dân chủ hơn chế độ Nga hiện nay. Khi Putin lên cầm quyền, có ba mạng lưới truyền hình có tầm cỡ quốc gia và ảnh hưởng đến chính trị Nga là RTR, ORT và NTV. Ông đã thao túng cả ba. Hãng RTR do nhà nước sở hữu toàn bộ nên dễ điều khiển. Putin giành quyền kiểm soát ORT, một mạng lưới có khán giả nhiều nhất nước, bằng cách o ép khiến chủ nhân là tỉ phú Boris Berezovsky phải chạy ra nước ngoài. Vladimir Gusinsky, chủ nhân của NTV, cố gắng chống trả việc Putin giành quyền thao túng kênh truyền hình của ông. Nhưng rốt cuộc Gusinsky không những mất NTV mà còn mất luôn báo Segodnya và tạp chí Itogi khi công tố viên nhà nước cáo buộc ông những tội trạng thiếu cơ sở. Năm 2005, Anatoly Chubais, chủ tịch Công ti điện lực RAO (Mạng lưới Năng lượng Thống nhất của Nga) và lãnh tụ của đảng có khuynh hướng tự do SPS (Liên hiệp các Lực lượng Hữu khuynh), bị ép buộc bàn giao một hãng truyền hình nhỏ do tư nhân kiểm soát, Công ti REN-TV, cho các đầu sỏ chính trị thân cận với điện Kremly. Ngày nay điện Kremly kiểm soát tất cả các mạng lưới truyền hình quốc gia tầm cỡ. Gần đây hơn, điện Kremly đã thọc tay vào phương tiện truyền thông internet và báo giấy, lãnh vực trước đây vốn được để yên. Hiện nay, Nga đứng vào hàng thứ ba trên thế giới là một nơi rất nguy hiểm cho ký giả hành nghề, chỉ sau Iraq va Colombia. Tổ chức Ký giả không biên giới ghi nhận 21 nhà báo đã bị giết tại Nga kể từ năm 2000, trong đó có Anna Politkovskava, ký giả điều tra can đảm nhất của nước này, bị sát hại tháng 10 năm 2006. Putin cũng làm suy giảm quyền tự trị của chính phủ cấp vùng. Ông thiết lập bảy khu vực siêu vùng (supraregional districts), đứng đầu phần lớn là những cựu tướng lãnh hay cựu viên chức KGB. Những siêu thống đốc này cũng mở các cuộc điều tra nhắm vào những nhà lãnh đạo cấp vùng, qua đó làm giảm quyền tự trị của họ và hù doạ khiến họ phải khuất phục chính quyền liên bang. Putin từng làm suy yếu Hội đồng Liên bang, tức thượng viện quốc hội Nga, bằng cách rút các thống đốc và lãnh đạo ngành lập pháp cấp vùng được bầu khỏi vị trí đáng nhẽ họ có trong thượng viện để thay bằng những đại biểu do Putin chỉ định. Những cuộc bầu cử cấp vùng cũng thường bị tổ chức gian lận nhằm trừng trị các nhà lãnh đạo dám chống lại uy quyền của Putin. Vào tháng 9 năm 2004, trong một đòn chí mạng đánh vào chế độ liên bang (federalism) của Nga, Putin tuyên bố ông sẽ bắt đầu chỉ định các thống đốc. Putin cũng thành công thực sự trong việc làm suy yếu quyền tự trị của quốc hội. Bắt đầu từ những cuộc bầu cử quốc hội tháng 12 năm 2003, Putin khai thác lợi thế từ việc kiểm soát các tài nguyên chính trị khác (như kênh truyền hình NTV và văn phòng các thống đốc vùng) để giành cho Đảng Nước Nga Đoàn kết của điện Cẩm Linh một đa số chắc nịch trong hạ viện Nga: Đảng Nước Nga Đoàn kết và các đồng minh của nó hiện kiểm soát 2/3 số ghế trong quốc hội. Các kênh truyền hình quốc gia thường xuyên nêu lên những những nét tích cực của lãnh đạo Đảng Nước Nga Đoàn kết và nhắm vào mặt tiêu cực của các đảng viên cộng sản, sự ủng hộ tài chánh ồ ạt từ các tay đầu sỏ chính trị Nga và sự hậu thuẫn gần như nhất trí của các lãnh đạo cấp vùng cũng giúp cho đảng của Putin thắng thế trong quốc hội. Những đảng chính trị không liên kết với điện Cẩm Linh cũng bị thiệt hại. Các đảng độc lập có khuynh hướng tự do như Yabloko và SPS cũng như đảng độc lập lớn nhất bên cánh tả, tức Đảng Cộng sản Liên bang Nga, ngày nay đều đã yếu đi và phải hoạt động trong một môi trường bị hạn chế hơn nhiều so với thập niên 1990. Việc bỏ tù Mikhail Khodorkovsky, trước đây là người giàu nhất nước Nga và là chủ công ti dầu hỏa Yukos, đã gửi một tín hiệu mạnh mẽ cho những nhà doanh nghiệp khác về cái giá phải trả khi tham gia chính trị đối lập. Vào nhiệm kỳ thứ hai, Putin cho rằng các tổ chức phi chính phủ (NGO) có thể trở thành mối đe dọa đến quyền lực của ông. Vì thế ông ban hành một đạo luật đem lại cho nhà nước nhiều phương tiện để xách nhiễu, làm suy yếu và thậm chí đóng cửa những tổ chức NGO bị xem là mang quá nhiều màu sắc chính trị. Khó tin nhất có lẽ là việc không còn được tụ tập đông người nơi công cộng. Vào mùa xuân năm 2007, một liên minh gồm các nhóm xã hội dân sự và một số đảng chính trị, dưới danh xưng Một Nước Nga khác (Other Russia) do nhà quán quân cờ tướng Garry Kasparov lãnh đạo, đã cố gắng tổ chức những buổi mít-tinh công khai tại Moscow và St. Petersburg. Cả hai cuộc mit-tinh đã bị hàng ngàn cảnh sát và lực lượng đặc biệt giải tán, có hàng trăm người bị bắt – đây là một vụ đàn áp có qui mô chưa từng thấy ở Nga trong vòng 20 năm qua. Cùng với việc làm suy yếu những cơ chế kiểm soát quyền lực của Tổng thống, Putin và phe nhóm đã trì hoãn những cải tổ mà qua đó đáng lẽ có thể củng cố các ngành khác của chính phủ. Hệ thống tư pháp vẫn còn yếu. Khi có những vấn đề chính trị quan trọng cần giải quyết, toà án thường là một công cụ phục vụ quyền lực của tổng thống – như đã xảy ra trong vụ tranh giành kênh truyền hình NTV và trong việc truy tố nhà tỉ phú Khodorkovsky. Thậm chí toà án còn toan tính đến việc truất quyền hành nghề của một trong những luật sư biện hộ cho Khodorkovsky, đó là Karinna Moskalendo. To lớn hơn không có nghĩa là tốt hơn: Huyền thoại của chủ nghĩa Putin là, ngày nay dân Nga được an toàn hơn, ổn định hơn và nói chung có cuộc sống ấm no hơn thập niên 1990 – và thành quả này có được là do công lao của Putin. Thật ra, chế độ độc tài Putin cũng không hơn gì thời kỳ dân chủ trong việc cải tiến an toàn công cộng, y tế, hay tạo một môi trường ổn định về pháp lý và sở hữu tài sản. Nhà nước Nga dưới thời Putin phình to hơn trước kia. Số viên chức nhà nước tăng đến 1 triệu rưỡi người, tức tăng gấp đôi. Các bộ ngành mang tính đàn áp như cảnh sát, thuế vụ, tình báo được hưởng những ngân sách lớn hơn nhiều so với một thập niên trước đây. Trong vài lãnh vực, chẳng hạn việc trả tiền hưu trí hoặc trả lương công chức đúng hạn kỳ, xây dựng đường xá hay chi phí cho ngành giáo dục, nhà nước này đã làm tốt hơn thập niên 1990. Tuy vậy, với sự tăng trưởng về kích thước và tiềm lực của bộ máy công quyền, người ta không khỏi ngạc nhiên là nhà nước Nga vẫn còn hoạt động kém cỏi. Về vấn đề an toàn công cộng, y tế, nạn tham nhũng và mức độ an ninh của quyền sở hữu, dân Nga hiện nay chịu đựng nhiều cảnh tệ hại hơn mười năm về trước. Quyền được sống trong an ninh, lợi ích công cộng cơ bản nhất mà một nhà nước có thể cung ứng cho người dân, là một yếu tố chính trong huyền thoại của chủ thuyết Putin. Thực tế là, con số những vụ tấn công của bọn khủng bố đã gia tăng dưới thời Putin. Hai vụ tấn công khủng bố lớn nhất trong lịch sử Nga xảy ra dưới chế độ độc tài của Putin chứ không phải dưới thời dân chủ của Yeltsin. Theo số liệu của cục Thống kê Nhà nước Liên bang Nga, số án mạng cũng gia tăng dưới thời Putin. Trong những năm “hỗn loạn” 1995-1999, trung bình mỗi năm có 30.200 vụ giết người; trong những năm “có kỷ cương” 2000-2004, con số đó là 32.200. Số người chết vì hỏa hoạn tại Nga ở vào khoảng 40 người một ngày, gấp chừng 10 lần con số trung bình tại Tây Âu. Y tế cộng đồng cũng không được cải thiện trong 8 năm qua. Mặc dù điện Cẩm Linh có đầy tiền trong kho, nhưng việc chi tiêu cho ngành y tế từ năm 2000 đến 2005 trung bình chỉ chiếm 6% tổng sản lượng quốc gia (GDP), so với con số 6,4% từ năm 1996 đến 1999. Dân số Nga co lại kể từ năm 1990 vì số sinh giảm và số tử tăng, nhưng chiều đi xuống này trở nên tệ hại hơn kể từ năm 1998. Khoảng 0,9% dân số Nga hiện đang nhiễm HIV. Nga hiện có tỉ số nhiễm HIV cao hơn bất cứ quốc gia nào nằm ngoài châu Phi, ít nhất một phần là kết quả của những chính sách ứng phó tai hại hoặc không phù hợp cộng với hệ thống y tế yếu kém, lỗi thời. Tuổi thọ trung bình của người Nga gia tăng từ năm 1995 đến 1998. Nhưng kể từ năm 1999, nó tụt xuống 59 tuổi ở nam giới và 72 tuổi ở nữ giới. Đồng thời với tình trạng xã hội Nga ngày càng trở nên kém an ninh và kém lành mạnh dưới thời Putin, vị trí của Nga trên trường quốc tế cũng đi xuống trong các lãnh vực như sức cạnh tranh kinh tế, tính thân thiện đối với doanh nghiệp, tính minh bạch và khả năng chống tham nhũng. Viện nghiên cứu INDEM của Nga ước tính nạn tham nhũng đã tăng vọt trong 6 năm qua. Năm 2006, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) đã xếp Nga ở một vị trí tệ hại hơn bao giờ hết, đứng thứ 121 trong số 163 quốc gia về nạn tham nhũng, nằm giữa Philippines và Rwanda. Năm 2006 Nga đứng thứ 62 trong số 125 nước theo chỉ số cạnh tranh toàn cầu do Diễn đàn Kinh tế Thế giới đề ra, nghĩa là Nga đã tuột 9 nấc trong một năm. Theo chỉ số “dễ dàng cho doanh nghiệp” do Ngân hàng Thế giới đề ra, năm 2006 Nga đứng thứ 96 trong số 175 nước, cũng là vị thứ tệ nhất từ trước đến nay. Quyền sở hữu tài sản cũng bị phá hoại. Putin và những người cộng sự của ông trong điện Cẩm Linh đã dùng quyền lực chính trị không bị kiềm toả của mình để phân phối lại một số tài sản có giá trị nhất tại Nga. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, hầu hết các chỉ số điều hành của Nga về các vấn đề như chế độ pháp trị và kiểm soát nạn tham nhũng chỉ ở số không hoặc âm dưới thời Putin. Những lãnh vực mà Nga có cải tiến trong mười năm qua, đặc biệt là phẩm chất các luật điều hành và hiệu năng của chính phủ, thật ra đã bắt đầu tăng tiến khá lâu trước khi thời đại Putin bắt đầu. Nói tóm lại, các dữ liệu rõ ràng không bênh vực cho quan niệm thông thường rằng, bằng cách dựng lên chế độ độc tài Putin đã xây dựng được một nhà nước có kỷ cương và đầy đủ khả năng, một nhà nước đang ra tay giải quyết và khắc phục những vấn đề phát triển khá ghê gớm của Nga. Những thất bại này của Putin càng rõ nét hơn khi xét đến mức độ tăng trưởng kinh tế mạnh hàng năm kể từ 1999: ngay với tiền bạc dồi dào đi qua nền kinh tế, chính quyền Putin vẫn chưa có thành tích gì khá hơn và có khi còn tệ hơn chính quyền Yeltsin (trong những năm kinh tế suy thoái của thập niên 1990) trong việc cung ứng cho người dân các tiện ích và dịch vụ công cộng cơ bản. Từ năm 2000, thu nhập khả dụng (disposable income) của dân chúng tăng 10% một năm, mức chi tiêu của người tiêu thụ tăng vọt, chỉ số thất nghiệp giảm từ 12% năm 1999 xuống 6% năm 2006. Theo một thống kê, số người nghèo giảm từ 41% năm 1999 xuống 14% năm 2006. Chưa bao giờ người Nga giàu như hiện nay. Nhưng, thập niên 1990 là một thời kỳ kinh tế cực kỳ khó khăn. Sau khi nước Nga chính thức độc lập vào tháng 12 năm 1991, tổng sản lượng quốc nội (GDP) bị suy giảm trong 7 năm liền. Một điều cần lưu ý là, suy thoái kinh tế đã xảy ra trước thời độc lập của nước Nga. Thật ra, nó là nguyên nhân chính đưa đến sự sụp đổ của chế độ Xô-viết. Không chỉ giới hạn tại Nga nó diễn ra sau khi chế độ cộng sản sụp đổ tại mọi quốc gia trong vùng, bất luận quốc gia đó theo chế độ nào. Trong trường hợp nước Nga, Yeltsin thừa hưởng một nền kinh tế vốn đã rơi vào cuộc khủng hoảng tồi tệ chưa từng có. Vào tháng 8 năm 1998, chính phủ Nga thực sự bị phá sản. Vụ suy sụp tài chánh này cuối cùng đã chấm dứt cuộc tranh luận chính về chính sách kinh tế tại Nga. Vì những cơ chế dân chủ vẫn còn giá trị, chính phủ đi theo hướng tự do chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng tài chính phải rút lui, quốc hội đã buộc Yeltsin chỉ định một chính phủ nghiêng về cánh tả, do Thủ tướng Yevgeny Primakov đứng đầu. Phó thủ tướng đặc trách kinh tế trong chính phủ Primakov là một lãnh tụ Đảng Cộng sản. Ở vào vị trí cầm quyền lúc này, Primakov và chính phủ của ông phải theo đuổi những chính sách có trách nhiệm tài chính, nhất là vào lúc không còn ai chịu cho chính phủ Nga vay mượn. Như vậy những nhà “xã hội chủ nghĩa” này phải cắt xén việc chi tiêu của chính phủ và giảm bớt vai trò của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế. Cùng với việc hạ giá đồng rúp nhằm giảm bớt số lượng hàng nhập khẩu và thúc đẩy hàng xuất khẩu của Nga, chính sách khắc khổ ngân sách mới đã tạo những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế thật sự bắt đầu từ năm 1999. Như vậy kinh tế Nga đã bắt đầu phục hồi trước khi Putin lên cầm quyền và cũng trước khi chế độ độc tài của Putin bắt đầu đâm rễ. Thoạt đầu trong vai trò Thủ tướng và sau đó trên cương vị Tổng thống, Putin bám sát chính sách tài chính lành mạnh mà trước đó Primakov đã đề ra. Sau cuộc bầu cử đầy tính cạnh tranh tháng 12 năm 1999, phe đổi mới trong quốc hội thậm chí đã thông qua được một đạo luật quân bình ngân sách đầu tiên trong lịch sử nước Nga thời hậu Xô-viết. Với sự cộng tác của quốc hội, chính phủ đầu tiên của Putin đã đem ra áp dụng một số cải tổ thông thoáng được soạn thảo nhiều năm trước, dưới thời Yeltsin, trong đó có một thuế thu nhập đồng hạng 13%, một luật mới về đất đai (cho phép quyền sở hữu đất thương mại và đất định cư), một luật mới về ngành tư pháp, một chế độ mới ngăn chặn việc rửa tiền, một chế độ mới cho tự do hóa tiền tệ, và giảm thuế lợi tức (từ 35% xuống 24%). Vận may thật sự của Putin đã đến khi giá dầu trên thế giới tăng. Chính sách ngày càng độc tài tại Nga rõ ràng không phải là nguyên nhân khiến cho tài nguyên của Nga lên giá. Ngược lại: những thu nhập do dầu khí mang lại đã cho phép chế độ độc tài tái xuất trên đất Nga. Với lượng tiền trời cho khổng lồ từ dầu khí trong ngân khố của điện Cẩm Linh, Putin có thể đàn áp hoặc kết nạp các lực lượng chính trị độc lập, để mua đứt hay đàn áp đối lập trong ngành truyền thông hay trong dân. Nếu có một mối liên hệ nhân quả nào giữa chế độ độc tài và tăng trưởng kinh tế tại Nga, thì đó là một mối liên hệ tiêu cực. Chế độ ngày càng độc tài tại Nga trong mấy năm qua đã khiến nạn tham nhũng gia tăng và giảm sự an toàn trong quyền sở hữu tài sản. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Châu Âu Tái thiết và Phát triển, điều này sẽ cản trở việc phát triển về lâu dài. Sự chuyển nhượng tài sản đã biến một khu vực công nghiệp năng lượng tư nhân đang sinh lợi trở thành một khu vực quốc doanh và kém hiệu quả hơn. (Các hãng tư đã sản xuất đến 90% lượng dầu tại Nga năm 2004; hiện nay con số này là khoảng 60%.) Việc tái quốc hữu hoá đã làm suy giảm hiệu quả làm việc tại các công ti trước đây thuộc về tư nhân, hủy hoại giá trị của các công ti sinh lợi nhất trong nước, và làm khựng nguồn đầu tư, cả từ trong lẫn ngoài nước. Có lẽ bằng cách so sánh với các nước trong vùng, ta sẽ có được bằng chứng rõ nhất cho thấy chế độ độc tài của Putin có hại hơn là có lợi cho nền kinh tế Nga. Đáng chú ý nhất là dù với nguồn tài nguyên năng lượng khổng lồ của Nga, mức phát triển kinh tế dưới thời Putin còn thấp hơn mức trung bình của thời hậu Xô-viết. Vào năm 2000, năm Putin đắc cử Tổng thống, kinh tế Nga phát triển nhanh thứ hai trong các nước thuộc Xô-viết cũ, chỉ sau nước có nhiều khí đốt Turkmenistan. Tuy vậy, vào năm 2005, Nga tụt xuống hàng thứ 13, chỉ hơn Ukraine và Kyrgyzstan, hai nuớc đang hồi phục sau “các cuộc cách mạng màu”. Từ năm 1999 đến 2006, Nga xếp hạng 9 trong 15 quốc gia hậu Xô-viết về mức phát triển kinh tế bình quân. Tương tự, mức đầu tư ở Nga, chiếm 18% tổng sản phẩm nội địa, dù hiện nay mạnh hơn hẳn trước kia, vẫn còn nằm xa dưới mức trung bình so với các nước dân chủ ở trong vùng. Hiện nay kinh tế Nga đang phát triển tốt, nhưng là bất chấp chế độ độc tài, chứ không phải là nhờ có nó. Putin và phe nhóm của ông đã vạch ra kế hoạch nhằm tránh việc phải trao quyền lực lại cho một phe nhóm khác trong năm nay. Tài uốn éo của họ nhằm giữ quyền đứng đầu nhà nước có vẻ thành công hơn nỗ lực cải thiện bộ máy công quyền hay tăng tốc độ phát triển kinh tế. Giá năng lượng và nhiên liệu trên thế giới vẫn giữ kinh tế Nga tăng trưởng trong tương lai tới. Nhưng sự thống trị độc tài được giữ lại sẽ không đóng góp được gì cho sự phát triển này. Việc tiếp tục chính sách cai trị tồi này sẽ trở thành một lực kéo trì hoãn phát triển kinh tế về lâu về dài. Hiện nay người dân Nga đúng là giàu hơn trước, nhưng họ hoàn toàn có thể giàu hơn thậm chí nhanh hơn nhiều dưới thể chế dân chủ. _____________________________________________ 
Cựu TT và thủ tướng Putin cùng với tài sản ngầm của ông trị giá cỡ $40bn theo tin của guardian.co.uk 
Xem thêm về MAFIOCRACY IN RUSSIA Link này dùng tiếng Pháp có thể chi bộ đọc qua Google Translate vậy.
Michael McFaul và Kathryn Stoner-Weiss Osin's blog

Hai bức hình đáng xấu hổ của báo Người Lao động

Đề cập phiên tòa sơ thẩm xử Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, chỉ thấy có vài trang báo điện tử của nhà nước nhắc đến qua loa như Thể thao văn hóa, Tiền phong. Có vẻ các báo "uể oải" không mặn mà gì với vụ án này. Có lẽ họ chờ kết quả rồi đưa ra một mẩu tin chăng. 
Riêng báo Người lao động điện tử có bài đưa lên vào lúc phiên tòa kết thúc buổi sáng "Đề nghị 8-10 năm tù đối với mẹ Nấm", tác giả Kỳ Nam.
Bài báo nhắc đến tội trạng của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh theo bản cáo trạng. Nếu chỉ thế thì cũng tạm chấp nhận. Điều muốn nói ở đây là bài báo đưa ra một số hình ảnh trong đó có hai hình gây nên sự bức xúc cho dư luận
Hình thứ nhất, bài báo lấy một cái ảnh chụp ở chỗ nào đó, rồi chú thích "Mẹ bị cáo Quỳnh tham dự phiên tòa".
Không may cho tác giả, bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ Nguyễn Ngọc Như Quỳnh thì nhiều người biết nên việc gian dối này mau chóng bị lộ. 
Hình bà Nguyễn Thị Tuyết Lan giả 
Hình bà Nguyễn Thị Tuyết Lan thật 
Không hiểu tác giả Kỳ Nam có ý gì. Một facebooker cho rằng lấy một tấm ảnh có người đàn bà nào đó có gương mặt thiếu thiện cảm rồi bảo đấy là mẹ Quỳnh; rồi đặt câu hỏi: "đây là hành động sai sót hay tiểu nhân của nhà báo?".
Do bị cộng đồng lên tiếng vạch mặt, báo Người lao động đã gỡ tấm hình này sau đó.
Bức hình thứ hai chụp những người ngồi trong phiên tòa với ghi chú "Nhiều người dân tham dự phiên tòa công khai"
Thì bao giờ, họ chẳng rêu rao là công khai, trong khi thực tế lại khác hẳn. Những phiên tòa xử người đấu tranh bao giờ cũng được bảo vệ thật kỹ. Công an phong tỏa mọi ngả đường vào tòa từ hôm trước, an ninh mật vụ dày đặc. Ai đó chỉ cần giơ máy ảnh lên lập tức bị bắt về đồn. Những việc như thế không mấy ai lạ, chẳng lẽ tác giả Kỳ Nam vào đến trong tòa rồi mà lại không nhìn thấy. Đến người thân trong gia đình bị cáo như bố mẹ, anh em ruột nhiều khi còn không được vào nói chi đến mở cửa cho người dân tham dự. Những người có mặt trong phiên tòa không phải là ai khác ngoài người của nhà cầm quyền được bố trí đến theo nhiệm vụ. Bức hình trên với ghi chú như thế, tác giả muốn minh họa cho tính dân chủ trong phiên tòa xử Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hôm nay, hoàn toàn trái với thực tế.
Nhà báo phải tôn trọng sự thật. Bịa đặt, minh họa một cách sống sượng cho nhà cầm quyền không phải là thiên chức của người làm báo.
Bài báo đưa tin về phiên tòa xử Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hôm nay của tác giả Kỳ Nam, báo Người lao động điện tử sặc mùi bút nô, thật đáng xấu hổ.Nguyễn Tường Thụy.

No comments:

Post a Comment