Tuesday, July 4, 2017

Bài viết hay(5134)

Người Việt ta có nhiều bệnh thiệt. Ví dụ,chuyện thua VC hơn 42 năm rồi mà vẫn đổ thừa tại vì Mỹ bỏ. Giữa VNCH và Mỹ có làm hôn thú với nhau không nhỉ? Ta chống Cộng cho ta, hay chỉ là lính đánh thuê của Mỹ? Ai cũng biết Mỹ chỉ biết quyền lợi của họ là trên hết nên hết có lợi thì Mỹ đi chổ khác. Vậy thôi. Ai biểu lãnh đạo ta cứ bám theo Mỹ như chó chực xương ỷ lại vào Mỹ nên mọi phán quyết cuối cùng vẫn do Mỹ định đoạt thì ...ráng chịu, đổ thừa gì nữa? Hổng biết nhuc hay sao mà cứ trách Mỹ nhưng lại không cho phê phán lãnh đạo VNCH? Tức cười hơn khi nhiều ông bà Bolsa chửi Phạm Văn Thành, Huỳnh Quốc Huy, Đoàn Thị Thuỳ Dương là tay sai của phản gián VC. Biết đâu kẻ chụp mũ lại chính là VC?
Luật sư mà nói “ngơ”
Tôi không biết luật sư Vũ Tiến Vinh là ai, trình độ, danh tiếng thế nào trong giới luật sư. Nhưng khi đọc bài “Cần khép tội giết người với tất cả tài xế coi thường cảnh sát” của ông, đăng trên báo vnexpress.net số ra ngày 3/7. Tôi thực sự ngỡ ngàng, không thể ngờ một luật sư mà lại có những nhận xét về một vấn đề, hiện tượng xã hội hết sức chủ quan, quy kết hồ đồ đến vậy.
Đọc cái tiêu đề bài viết đã thấy không ổn rồi.
Mở đầu ông Vinh viết: “Cảnh tượng cảnh sát giao thông đánh đu trên ôtô xảy ra nhiều như cơm bữa ở Việt Nam. Sự việc này quá nguy hiểm và có thể nói những lần cảnh sát không bị thương tích hoặc thương tích nhẹ chỉ là may mắn, ngoài dự kiến của người phạm tội”.
Đúng là trong nhưng năm gần đây có rất nhiều vụ Cảnh sát giao thông đánh đu trên xe ôtô. Nhưng nguyên nhân vì đâu thì ông Vinh không lý giải. Ông quy kết lỗi thuộc về lái xe, họ cố ý làm như vậy - việc cảnh sát không bị thương hay thương tích nhẹ là ngoài dự kiến của người phạm tội. Đây là một quy hết sức hồ đồ, quy chụp.
Không thể khen hành động bám gương, trèo lên nắp đầu xe là dũng cảm, là bất chấp nguy hiểm vì nhiệm vụ mà đó là sự liều mạng, yếu kém về nghiệp vụ - trừ khi họ thấm nhuần bài học lấy thần mình chèn bánh pháo. Tôi chắc rằng trong các trường cảnh sát không ai dạy họ làm như thế cả.
Ông viết tiếp:“Chúng ta thấy ở nước ngoài, hành vi chống người thi hành công vụ có thể bị trấn áp ngay lập tức, thậm chí bị tiêu diệt. Tôi thầm nghĩ pháp luật họ nghiêm thế thì ai dám chống lệnh”
Hay cho ông Vinh biết một mà không biết hai. Nước ngoài ở đây là nước nào, Trung Quốc, Triều Tiên hay Mỹ, Đức, Pháp?
Đồng ý luật pháp họ nghiêm nhưng công tâm, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Ai làm sai cứ theo luật mà xử, kể cả tổng thống, thủ tướng chứ không như kiểu “quan thì xử nhẹ, dân thì xử nặng”, “cán bộ làm sai xin lỗi, dân làm sai chịu trách nhiệm trước pháp luật” như ở xứ ta.
Đồng ý là hành vi chống người thi hành công vụ sẽ bị trấn áp, nhưng hãy nhìn xem những người thực thi công vụ của họ hành xử như thế nào, có tùy tiện, lộng quyền như ở ta không? Cảnh sát Mỹ, họ có khi nào làm tiền lái xe như cảnh sát giao thông Việt Nam. Thậm chí ở Việt Nam, Cảnh sát giao thông còn tìm cách bẫy người tham gia giao thông để phạt kiếm tiền (ở Hà Nội).
Nếu xác định lái xe vi phạm, thiếu gì cách để xử lý, chẳng hạn như lưu lại biển số xe phạt sau, dùng xe chuyên dụng đuổi theo… Tại sao lại cứ bất chấp nguy hiểm lao vào đầu xe rồi đổ lỗi cho người khác coi thường tính mạng mình. Nói thật, nếu cảnh sát giao thông phạt đúng người, đúng tội, không nhận mãi lộ thì chẳng ai kinh thường họ cả. Chứ một khi đã nhận tiền mãi lộ của người tham gia giao thông thì làm sao nhận được sự tôn trọng nữa. Tôi đã hơn một lần chứng kiến tài xế xe khách đưa tiền mãi lộ cho Cảnh sát giao thông, nhưng sau lưng họ chửi đồ “chó vàng”. Đấy, như thế thì lấy đâu sự tôn trọng.
Thêm nữa ông Vinh ngụy biện: “tôi không bàn đến sự đúng - sai trong việc thổi phạt, không bàn đến việc cảnh sát phải bám đu trên đầu xe ôtô là bất khả kháng hay cố tình của người thực thi công vụ khi tình huống chưa đòi hỏi phải làm như vậy. Nhưng dù nguyên nhân gì, việc tài xế không dừng xe lập tức để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người thực thi công vụ thì đó là hành vi giết người”.
Đọc đoạn viết trên thật khó hiểu, không bàn đến đúng sai là thế nào? Không phải chỉ có cảnh sát mà tất cả những người thực thi công vụ, trước hết là phải đúng công vụ cái đã. Anh làm sai, không đúng chức năng, thẩm quyền, gây phiền hà, khó khăn mà bảo người ta chấp hành, tôn trọng anh. Nghe thật trái khoái. Còn nữa, ở đây ông Vinh lên tiếng bảo vệ sức khỏe của người thực thi công vụ, vậy còn sức khỏe tính mạng của người tham gia giao thông thì sao. Tôi đã từng chứng kiến cảnh 4 cảnh sát giao thông đi trên hai xe đặc chủng đuổi theo 2 thanh niên đi xe gắn máy (không rõ có vi phạm hay không). Đến khi ép được hai thanh niên kia vào lề đường, lập tức họ dùng dùi cui đánh tới tấp sau đó mới lập biên bản. Tôi đem thắc mắc đó hỏi người quen làm cảnh sát giao thông, thì nhận được câu trả lời lạnh tanh, đánh cho bỏ tức.
Ông Vinh quy kết, dù nguyên nhân gì thì đó cũng là hành vi giết người. Nói như thế có khác nào áp đặt, không xét theo hoàn cảnh, tình huống. Tôi lấy ví dụ, xe đang chạy ở vận tốc cho phép, không phạm lỗi, công an chạy ra giữa đường yêu cầu dừng xe. Nếu tài xế xử lý không kịp gây tai nạn, lỗi tính thế nào ?
Ông còn yêu cầu: “Tôi cho rằng, kể cả với những vụ án tài xế bất chấp cảnh sát đang bám đu mà không dừng xe, đã xét xử xong, đang thụ án hoặc đã thụ án xong nhưng chỉ bị xử về tội chống người thi hành công vụ thì cũng phải kháng nghị hủy án, xét xử lại theo tội giết người. Việc này là bất cập nhưng cũng phải làm”
Nói như thế là ngồi trên luật đấy ông Vinh ạ. Chỉ xứ man rợ, độc tài họ mới có kiểu ưng chi xử nấy như thế.
Tôi cũng lên án hành động của lái xe khi có hành vi đe dọa tính mạng người khác chứ không riêng gì cảnh sát giao thông. Nhưng không phải vì vậy thể mà quy kết cự đoan. Theo tôi nghĩ, mà thực ra là suy nghĩ chung của rất nhiều người. Việc lái xe đâm xe vào cảnh sát giao thông, nguyên nhân gốc rễ là hậu quả của một xã hội bất công, tham nhũng dai dẳng kéo dài. Nói theo kiểu người xưa “thượng bất chính, hạ tắc loạn”.
Cuối bài ông kết luận: “Tha thứ cho tội lỗi là xúi giục sự tái phạm” - nếu chúng ta không mạnh tay thay đổi cách xử lý, việc tái phạm có thể không xảy ra nhưng tái diễn thì chắc chắn có”.
Thế nào là xử mạnh tay? Chẳng lẽ một cô gái lãnh 9 tháng tù chỉ mấy cái tát vào mặt cảnh sát giao thông chưa đủ để gọi là xử lý mạnh? Trong khi cảnh sát đánh người vi phạm nhập viện chỉ bị kỷ luật, như thế là xử mạnh hay nhẹ?
Khi những hành vi cực đoan hình thành từ những bất công, mâu thuẩn của xã hội, cách để điều chỉnh nó chỉ có thể là tìm ra nguyên nhân gốc rễ thì mới giải quyết được vấn đề. Mọi thứ khác chỉ là tạm thời.
Định An Tác giả gửi tới Dân Luận

Thằng Khùng

THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài. Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân - không phải là nhà văn có cùng tên - khi cùng ở trong tù

THANH NGANG TRÊN THẬP TỰ GIÁ


Cha Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912 – 1971)
… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.
Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.
Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.
Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.
Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…
Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất?
- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? - anh ta hỏi.
- Voltaire! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
- Tôi thích nhất là Candide.
- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: "Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!".
- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! - anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
- Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn - ngu ngơ, đần độn như thường ngày.
Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… - những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi:
- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi:
- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói:
- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…
Phùng Quán
________
Ghi Chú:
(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.
***

CHÂN DUNG LINH MỤC VIỆT NAM: LINH MỤC GIOAN LASAN NGUYỄN VĂN VINH (1912 – 1971)

Cha chính Hà Nội
Tấm gương can trường
Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.
Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.
Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập. Ngài học Văn Khoa-Triết tại Đại Học Sorbonne, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: Bonjour Madame! Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.
Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbonne, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.
Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng một Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize - Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.
Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu. Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.
Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.
Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.
Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.
Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?”. Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.
Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.
Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, ngài kể chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội. Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm tôn giáo tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu ‘Ở Dưới Vực Sâu’ nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.
Cộng tác với Hùng Lân sáng tác ‘Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít’. Ngài còn sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: ‘Mở Đường Phúc Thật’, ‘Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi’, ‘Ôi GiaVi’, ‘Lạy Mừng Thánh Tử Đạo’. Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài ‘Bước Tới Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan.
Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn.
Ngài tổ chức và chỉ huy đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thở Lớn Hà Nội.
Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam Đạo Công giáo tự do hành đạo, và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dip Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công. Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng. Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt cho nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn: “Tự do thế này!” Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành.
Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án nhân dân Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo. Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).
Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.
Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi: “Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?” Ngài đáp: “Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”.
Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một... Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là ‘bố’.
Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.
Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.
Vì không khuất phục được ngài, nên bản án của ngài từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim biệt giam và án tử. Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”.
Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm trọn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.
Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.
Tổng Giáo Phận Hà Nội
Phùng Quán Theo Vietcatholic.net

Tản mạn về những người bất đồng chính kiến

Phải khẳng định là xã hội nào cũng cần phải có những người bất đồng chính kiến mà đặc biệt là đối với xã hội Việt Nam thì có thể nói là HOÀN TOÀN phải cần những người bất đồng chính kiến. Tại sao lại nói là hoàn toàn cần những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam?
Trước hết chúng ta có thể hiểu rằng những người bất đồng chính kiến ở những quốc gia mà công dân của họ được đảm bảo quyền tự do dân chủ thì đối với những quốc gia này thì những người bất đồng chính kiến là những người được xem là có quan điểm về chính trị khác với quan điểm của nhà nước, khác với các đảng chính trị nếu như là tại những quốc gia chủ trương đa nguyên đa đảng hoặc là khác với một chủ trương, chính sách cụ thể nào đó của nhà nước.Những người ở quốc gia này có quyền được thể hiện sự khác biệt về quan điểm của mình đối với nhà nước mà họ vẫn không bị bắt giam, bỏ tù, đe dọa đến tính mạng bởi nhà cầm quyền.
Thiết nghĩ rằng những người bất đồng chính kiến là những nhân tố mới của một xã hội, một đất nước.Nếu trông vào lịch sử thế giới thì ta chúng ta có thể nhận ra rằng đã có những tấm gương về bất đồng chính kiến điển hình đã xuất hiện thường trực trong lịch sử và là đại diện cho bánh xe của lịch sử tiếp tục chuyển động về phía trước, ví như ở phương Tây vào hàng trăm năm trước khi mà quyền lực của giáo hội bao trùm lên toàn Châu Âu trong suốt một thời gian dài với những tín điều của họ thì đến một thời điểm nào đó thì lịch sử lại xuất hiện những người có quan điểm ngược lại với giáo hội, có khuynh hướng đe dọa đến vị thế của Giáo hội và bản thân những người đó sẽ gặp nguy hiểm bởi giáo hội lúc bấy giờ, ở thời kỳ này thì những nhà khoa học như Copernicus, Galilei, Kepler là những ví dụ điển hình nhất, nhưng những đóng góp của họ cho kho tàng khoa học là không thể chối cãi. Ngay cả trong lòng truyền thống tôn giáo lúc thì chúng ta thấy Martin Luther là người khởi xướng cho phong trào Cải Cách tôn giáo, là một phong trào đối lập với uy quyền và đây là biểu hiện điển hình cho sự xét lại các tín điều của Giáo hội lúc bấy giờ, từ đó mới hình thành nên tôn giáo Cải Cách và tồn tại cho đến nay.Những nhân vật như vừa nêu, ta hoàn toàn có thể xem họ là những người bất đồng chính kiến và những người đó chỉ là vài khuôn mặt điển hình và chúng ta còn có chỉ ra hàng loạt những khuôn mặt khác theo chiều dài lịch sử, có thể nói bản thân lịch sử được đi đến đâu là có sự xuất hiện của những con người chứa đựng yếu tố mới lạ, họ đã xuất hiện và làm thay đổi cục diện lịch sử, của chính trị - xã hội của một quốc gia – dân tộc.
Lịch sử Việt Nam cũng tương tự như vậy, luôn chuyển động, như vậy thì người bất đồng chính kiến được sinh ra qua hàng thế hệ. Ngay cả bản thân Đảng Cộng sản, là đảng cầm quyền duy nhất, độc tôn quyền lực ở Việt Nam hiện nay cũng là một lực lượng đối lập với nhà cầm quyền đô hộ nước ta trước kia và ngay cả trong cuộc chiến tranh với quốc gia VNCH ở miền Nam thì những người ủng hộ hay là có cảm tình với chủ nghĩa Cộng sản ở miền Nam cũng hoạt động như là lực lượng đối lập với chính quyền VNCH một cách bí mật hoặc công khai, có thể thấy xã hội miền Nam trước 75 phải tự do đến mức nào mới có thể cho phép những người bất đồng chính kiến được tự do biểu lộ chính kiến của họ, trong ký ức của những người từng sống vào thời kỳ đó thì những cuộc biểu tình chính trị là cực kỳ sôi nổi trong lòng đô thị ở miền Nam khi đó, nhờ vậy mà những người Cộng sản mới có thể có thể khuếch trương lực lượng của họ và mới dẫn đến cái ngày 30/4/1975. Như vậy có thể nói những người bất đồng chính kiến bị xem là “bất bình thường,có vấn đề” đối với nhà cầm quyền, với Đảng Cộng sản hôm nay thì trong quá khứ chính họ là những người bất đồng chính kiến và bây giờ họ không cho phép ai được bất đồng chính kiến với họ nữa và bây giờ chúng ta vẫn nghe tin là luôn có những nhà bất đồng chính kiến bị nhà cầm quyền bắt bớ, tống giam, quấy nhiễu chỉ vì họ đã phát ngôn những quan điểm ngược lại với chính quyền, có thể nói đây tiếp tục là những gì mà lịch sử đã cho thấy giữa cái tiến bộ, cái mới với cái bảo thủ, trì trệ ở Việt Nam.
Những người bất đồng chính kiến hiện nay ở Việt Nam là gắn liền với bức xúc của họ và cũng là bức xúc của cả xã hội đối với tình hình đất nước nhưng tựu chung lại là những người bất đồng chính kiến tại Việt Nam làm những công việc mang tính xã hội như quan sát, bình luận, phản biện những hiện tượng về chính trị - xã hội, những chính sách của nhà nước đối nội lẫn đối ngoại, lên án những biểu hiện thi hành quyền lực một cách vô lý của nhà nước đối với các cá nhân và xã hội, quan trọng hơn hết là những người bất đồng chính kiến quyết liệt đấu tranh cho tự do - dân chủ - nhân quyền ở Việt Nam, đó là những giá trị cao nhất mà họ muốn mang đến cho đất nước, thiết nghĩ những mục tiêu này là hoàn toàn chính đáng và hợp lý đối với Việt Nam.Như trên đã nói, đối với những quốc gia đảm bảo về tự do - dân chủ - nhân quyền cho công dân thì những người bất đồng chính kiến hoàn toàn được tự do thể hiện quan điểm của mình mà không hề gặp phải bất kỳ điều gì từ nhà cầm quyền nhưng ở Việt Nam thì chúng ta vẫn nghe rằng những người bất đồng chính kiến vẫn còn bị bắt, bị gây khó dễ, bị sách nhiễu hàng ngày, hàng giờ, hàng năm bởi nhà cầm quyền thì chứng tỏ đã có sự khiếm khuyết về những giá trị trên nên bây giờ họ đứng lên đấu tranh cho những giá trị đó thì là điều tất yếu thôi, đó cũng là vì sự tiến bộ của đất nước và đây cũng là lý do vì sao hơn bao giờ hết Việt Nam hiện nay rất cần sự có mặt của những người bất đồng chính kiến, phải làm sao cho hiện tượng bất đồng chính kiến không còn là một sự “bất bình thường” nữa là mà phải được thừa nhận như là một điều hiển nhiên của một quốc gia.Hiện Hữu Tác giả gửi tới Dân Luận

No comments:

Post a Comment