Wednesday, July 5, 2017

Bài viết hay(5135)

Nhìn thiên nhiên hùng vỹ với vô vàn kỳ diệu rồi mới thán phục Tạo Hoá và khi đọc National Geographic mới biết trái đất chỉ là một trong vô số hành tinh nhỏ nhoi trong một dải ngân hà... Tui nghĩ đến Thượng Đế và con người rồi bắt đầu ...nghĩ bậy: Linh mục hay nhà sư có quyền năng gì mà làm sao có thể "thay mặt Thượng Đế" rửa tội cho người có tội? Hễ phạm tội mà đi gặp cha rửa tội cho là xong ngay? Sau đó lại có thể tiếp tục ngoại tình, hãm hiếp, lừa bịp, giết người? Có ai thấy Thiên Đàng hay cõi Niết Bàn ra sao chưa nhỉ? Từ đó, tui hoài nghi vô cùng khi thấy chuyện tôn giáo trở thành business ở Mỹ ngày càng nhiều hơn. Tại sao không lập chùa cho mau giàu nhỉ?  

Về đảo Tri Tôn và thông điệp của tàu chiến Mỹ

clip_image002Ảnh: VCG/GETTY IMAGES - Đảo Tri Tôn nằm về phía Nam của nhóm đảo Lưỡi Liềm thuộc Hoàng Sa

Tàu USS Stethem hôm 02/07/2017 áp sát đảo Tri Tôn thuộc Quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền, khiến Bắc Kinh gọi đây là "khiêu khích quân sự".
Vậy thông điệp từ hoạt động của tàu USS Stethem là gì và lịch sử tranh chấp tại vùng này có gì liên quan đến hòn đảo nhỏ này?
BBC Tiếng Việt điểm qua năm vấn đề cơ bản:
1. Không công nhận đường cơ sở quanh Hoàng Sa
Đài Fox News ở Hoa Kỳ nói đi vào phạm vi 12 hải lý cách đảo Tri Tôn là thông điệp "Hoa Kỳ không công nhận" chủ quyền của Trung Quốc tại đây.
Lucas Tomlinson trên trang Fox News, kênh truyền hình "yêu thích" của Tổng thống Trump, trích dẫn một quan chức quốc phòng Mỹ nói USS Stethem cũng "thách thức cả tuyên bố chủ quyền của Việt Nam và Đài Loan" về đảo này.
"Phạm vi 12 dặm biển là biên giới lãnh hải bao quanh mọi quốc gia có biển, và đi tàu vào bên trong phạm vi này chính là cách gửi ra thông điệp Hoa Kỳ không công nhận tuyên bố chủ quyền đó".
Cùng lúc, trang Independent ở Anh trích lời bà Mira Rapp-Hooper, chuyên gia về Biển Đông tại Center for a New American Security, nói:
Hoa Kỳ muốn thử thách đường cơ sở bất hợp pháp của Trung Quốc quanh vùng Hoàng Sa - Mira Rapp-Hooper
"Khác với Trường Sa, nơi Trung Quốc đã xây đảo nhân tạo mấy năm qua, tại Hoàng Sa, nước này trên thực tế đã kiểm soát toàn bộ từ 1974".
Bà giải thích mục đích của Hoa Kỳ sử dụng quyền tự do hàng hải (freedom-of-navigation operation, gọi tắt là FONOP) là nhằm thử thách "đường cơ sở bất hợp pháp của Trung Quốc quanh vùng Hoàng Sa".
2. Trump bắt đầu nản về Trung Quốc
clip_image004Ảnh: VCG/GETTY IMAGES - USS Stethem vào bên trong phạm vi 12 hải lý quanh đảo Tri Tôn để gửi thông điệp tới TQ
Nhưng động thái mới nhất của Hải quân Mỹ còn được thực hiện trong bối cảnh "có vẻ như chính quyền Trump hết kiên nhẫn với Bắc Kinh về các công tác tiếp tục xây đắp quân sự ở Biển Nam Trung Hoa", tác giả Tomlinson viết.
Bên cạnh đó, "Hoa Kỳ cũng thất vọng rằng Bắc Kinh không kiềm chế được Bắc Hàn về chương trình nguyên tử và hỏa tiễn".
Hôm 1/7, báo The Guardian ở Anh cũng nhận định rằng "tuần trăng mật của hai ông Trump và Tập Cận Bình đã chấm dứt".
Hoa Kỳ cố ý chọn ngày ông Tập Cận Bình sang duyệt binh ở Hong Kong tuần qua để kêu gọi "thêm dân chủ cho Hong Kong và rằng Trung Quốc phải tôn trọng các quyền tự do, gồm cả tự do báo chí".
clip_image006
Tàu Mỹ áp sát đảo Tri Tôn
3. Vì sao Tri Tôn quan trọng?
Quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) gồm 130 đảo san hô, bãi đá và đá ngầm, cách miền Trung Việt Nam 250 hải lý (400 km) về phía Đông và đảo Hải Nam của Trung Quốc 220 hải lý (350 km) về phía Nam, theo Britannica.
Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo, là nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía Tây, và nhóm đảo An Vĩnh ở phía Đông.
Đảo Tri Tôn - có tên theo chiếc tàu của Anh HMS Triton, nằm riêng lẻ ra về phía Nam và thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm. Trung Quốc gọi đây là đảo Trung Kiến.
Khoảng cách từ Tri Tôn vào đảo Lý Sơn của Việt Nam lại chỉ có 123 hải lý.
clip_image007Ảnh: TAILIEUTIENGVIET - Bản đồ và tên gọi nhiều đảo trong vùng Hoàng Sa từ một tài liệu tiếng Việt
Khoảng cách từ Tri Tôn đến mũi Ba Làng An trên đất liền Việt Nam chỉ có 135 hải lý, gần hơn khoảng cách từ đảo Hoàng Sa đến đảo Lăng Thuỷ thuộc Hải Nam của Trung Quốc (140 hải lý).
Cũng vì vị trí nằm ngoài hẳn nhóm đảo chính, Tri Tôn có ý nghĩa phòng thủ, chặn lối vào các đảo còn lại.
Trước lần vào gần đảo Tri Tôn hôm đầu tháng 7 mới đây, một chiến hạm của Hoa Kỳ hồi tháng 10 năm 2016 cũng đi vào gần đảo này.
Để thách thức chủ quyền của bất cứ nước nào đang kiểm soát Hoàng Sa, Hoa Kỳ không cần phải vào sâu trong nhóm đảo An Vĩnh và Lưỡi Liềm mà chỉ cần đến gần đảo Tri Tôn là đủ.
4. Lịch sử chủ quyền và quyền kiểm soát
Năm 1932, Pháp tuyên bố đưa quần đảo Hoàng Sa vào thuộc Liên bang Đông Dương và lập một trạm khí tượng tại đây.
clip_image008Ảnh: DIGITALGLOBE/SCAPEWARE3D - Không ảnh của DigitalGlobe tháng 2/2016 chụp Đảo Bắc (North Island), cách đảo Phú Lâm 12 km về phía Bắc
Năm 1933, Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier ra Nghị định đặt Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và Hoàng Sa tách khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào Thừa Thiên.
Trong Thế Chiến 2, Nhật Bản chiếm một số đảo nhưng rút đi để rồi đến năm 1951 tuyên bố từ bỏ chủ quyền tại đây.
Năm 1947, quân đội Trung Hoa Dân quốc chiếm đảo Phú Lâm (Woody Island), đảo lớn nhất trong nhóm An Vĩnh (phía Đông).
Cùng thời gian, trên đảo Hoàng Sa (Prattle Island), là đảo lớn nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm (phía Tây), người Pháp vẫn vận hành trạm khí tượng và sau đó, Quốc gia Việt Nam tiếp tục công tác này.
clip_image009Ảnh: GOOGLEMAP - Đảo Tri Tôn (đánh dấu đỏ trên bản đồ) nằm gần bờ biển VN hơn là khoảng cách từ đảo Hoàng Sa (trong cùng nhóm đảo Lưỡi Liềm) tới khu vực đảo Hải Nam của Trung Quốc
Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp đã yêu cầu quân Trung Hoa Dân quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng năm 1946 và Pháp đã cho quân thay thế quân Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng, đài vô tuyến.
Sau năm 1954, khi Hiệp định Geneva chia đôi Việt Nam (tạm thời), con số quốc gia tuyên bố chủ quyền tăng lên gấp đôi.
Sau khi tiếp quản từ Trung Hoa Dân quốc, Trung Quốc cộng sản và Việt Nam Cộng hòa là hai nước kiểm soát trên thực tế một số đảo, bên giữ nhóm đảo phía Đông, và bên giữ nhóm phía Tây.
Nhưng hai nước khác cũng nói họ là bên tiếp nhận chủ quyền đã nêu.
Trong trường hợp Đài Loan thì họ vẫn tiếp tục coi mình là Trung Hoa Dân quốc cùng mọi chủ quyền tại quần đảo này trước khi mất về tay Bắc Kinh.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng nói họ mới là bên có chủ quyền chính đáng từ tất cả những gì người Pháp trao trả lại.
5. Khai thác dầu khí và căn nguyên xung đột
clip_image011Ảnh: KYODO NEWS - Hải quân TQ tập trận gần Hoàng Sa hồi tháng 7/2016
Theo Bách khoa Toàn thư Anh, xung đột ở Biển Đông bùng lên năm 1974 sau khi Việt Nam Cộng hòa bắt đầu ký các hợp đồng khai thác dầu khí với công ty nước ngoài, khiến Trung Quốc có phản ứng.
Trung Quốc đã tấn công các đảo ở Quần đảo Hoàng Sa bằng không quân và hải quân, chiếm trạm khí tượng (trên đảo Phú Lâm), và kiểm soát toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa từ đó.
Nhưng kể từ đó đến nay, chủ quyền các hòn đảo ở đây vẫn là cốt lõi của tranh chấp, theo Britannica.
Các vấn đề lại bùng nổ năm 2014 khi giàn khoan HD-981 của Trung Quốc được kéo xuống khu vực gần Quần đảo Hoàng Sa, khiến Việt Nam phản đối.
Tin tức về một giàn khoan khác mà Trung Quốc đưa ra Biển Đông gần đây dù không được nước này xác nhận, đang tiếp tục làm nóng lên bầu không khí xung quanh các vùng đảo ở đây.
Nguồn: http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-40484726

Tâm lý đi xin

Khi còn làm việc ở vị trí tuyển dụng nhân sự, tôi tiếp xúc với rất nhiều hồ sơ xin việc.
Hầu hết hồ sơ đều bắt đầu từ “Đơn xin việc”. Tâm lý "xin việc" không chỉ nằm trên một cái đơn mà nó in dấu vào phong thái của người dự tuyển. Đó là phong thái của người đi xin một chỗ làm chứ không phải là một người đi thể hiện, chứng minh khả năng của mình để nhà tuyển dụng thấy được.
Thời bao cấp, thời mà mọi thứ đều phải xin - cho mới có, trôi qua đã lâu. Bây giờ là thời kinh tế thị trường, chúng ta phải xem sức lao động của mình là hàng hóa, phải thể hiện làm sao để hàng hóa của ta có giá trị và thỏa mãn được người mua đồng thời chúng ta hài lòng khi bán sức lao động của mình. Tôi nhiều lần tự hỏi, tại sao ứng viên không viết "đơn ứng tuyển" hay "đăng ký dự tuyển" mà lại phải dùng từ "xin - cho" ở đây?
Câu chuyện này chỉ là một ví dụ phổ biến cho lối tư duy lạc hậu đã hằn sâu vào tâm lý xã hội Việt Nam. Không chỉ mỗi cái đơn xin việc, hệ thống văn bản hành chính quy phạm của chúng ta vẫn tồn tại rất nhiều loại "đơn xin": xin cấp dịch vụ điện nước, xin cấp số nhà, xin tạm trú, xin chuyển trường… tất cả mọi thứ đều phải xin.
Trong khi, nhà nước là do nhân dân bầu ra để phục vụ cho nhân dân; cơ quan công quyền hoạt động bằng tiền thuế, để đảm bảo cung cấp mọi dịch vụ người dân cần. Vậy nhưng mối quan hệ giữa người dân và khu vực dịch vụ công này dường như vẫn tồn tại sự ban phát, ban cho thay vì một quan hệ kinh tế, dân sự ngang hàng và bình đẳng. Trước khi than phiền cung cách, lề thói phục vụ của công chức, tôi cho rằng người dân cũng đã tự làm khó mình khi vẫn giữ tâm lý bao cấp, bắt đầu từ những lá đơn. Sự nhún nhường, hạ mình, không ý thức đúng đắn về vai trò của người được phục vụ sẽ khiến người dân đánh mất những quyền chính đáng của bản thân.
Tâm thế người dưới, người đi xin sự ban phát cũng sẽ dễ làm nảy sinh những hành vi không đúng chuẩn mực như là chi tiền bôi trơn, lách luật cho xong việc của mình. Đó cũng là một trong những điều kiện, trạng huống nuôi dưỡng cho thói vòi vĩnh nơi cửa công.
Tại sao chúng ta không thay từ “xin” bằng một hình thức khác, nó thể hiện quyền dân chủ của nhân dân hơn như “ đề nghị”, “yêu cầu”. Bởi vì chúng ta hoàn có quyền, quyền được yêu cầu chính quyền làm việc gì đó đúng theo khuôn khổ pháp luật, theo quy định chung. Quyền được cung cấp các dịch vụ của công dân là hiển nhiên, cớ sao phải xin cho. Cơ quan công quyền được lập ra để phục vụ nhân dân chứ không phải để ban phát ân huệ. Người dân phải thể hiện quyền làm chủ theo đúng theo quy định của nhà nước chứ không phải lụy mình. Nếu giữ mãi tư tưởng xin cho sẽ mãi không bao giờ có công bằng để phát triển đi lên.
Ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Việc thay đổi một câu từ đơn giản có thể sẽ khởi động cho một sự thay đổi lớn trong tư duy của cả xã hội.Nguyễn Thanh Liêm

Lẵng hoa Mừng Quốc khánh Mỹ từ chốn lao tù Việt Nam

clip_image002
Lẵng hoa mừng Ngày Độc lập 4/7 Hoa Kỳ của cựu tù nhân lương tâm Bùi Thị Minh Hằng (bên phải) (Ảnh Facebook Bùi Thị Minh Hằng)

Mỗi năm cứ đến ngày Độc lập Hoa Kỳ 4 tháng 7, các nhà tranh đấu cho nhân quyền Việt Nam gửi đến các cơ quan ngoại giao Mỹ những lẵng hoa tôn vinh giá trị tự do, dân chủ, và nhân quyền. Trong đó có những lẵng hoa từ chốn lao tù Việt Nam gởi đến.
Nhà tranh đấu cho nhân quyền Bùi Thị Minh Hằng nói với VOA Việt ngữ rằng bà phải “bí mật” đặt hoa chúc mừng sinh nhật thứ 241 của Hoa Kỳ. Để tránh bị an ninh Việt Nam sách nhiễu, bà Hằng chọn những tiệm hoa đáng tin cậy, và biết rằng việc bị họ theo dõi, chụp hình, hay ghi lại nội dung trên lẵng hoa luôn xảy ra.
“Ngày mai là Quốc khánh, sáng nay tôi đã gửi hoa. Tôi gửi bí mật từ một địa chỉ cho đến khi hoa được giao đến cho sứ quán theo lịch hẹn”.
Bà Hằng cho biết rằng Văn phòng Công lý Hòa bình thuộc Dòng chúa Cứu thế Sài gòn, Hội Cựu tù nhân Lương tâm và Tù nhân chính trị, các cá nhân và tổ chức xã hội dân sự khác cũng gửi hoa chúc mừng ngày Độc lập của Mỹ.
Bà Hằng nói rằng các giá trị cao quý của nền dân chủ của Hoa Kỳ là niềm khao khát của các nhà tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam:
“Tôi nghĩ đến ngày Độc lập của Mỹ với tất cả tình cảm của một người khao khát độc lập, tự do, dân chủ. Ngày Độc lập của Mỹ tạo ấn tượng sâu sắc với tôi vì những giá trị nhân quyền rất quan trọng và có ý nghĩa rất nhiều so với những gì được nêu ra trong ngày Quốc Khánh 2/9 của Việt Nam. Vì những gì mà Việt Nam nêu ra trong ngày quốc khánh, người dân Việt Nam không thực sự được hưởng. Trong lúc đó thì người dân Hoa Kỳ đã được hưởng các giá trị của nền độc lập hơn 200 năm qua”.
Bà Hằng còn cho biết thêm rằng bà đã gửi hoa mừng Quốc khánh Mỹ ngay khi còn bị giam cầm:
“Trong những ngày bị cầm tù, tôi không có được sự tự do để chuyển những lẵng hoa đến Sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, nhưng tôi cũng nhắn gửi với gia đình và các con phải gửi hoa mừng ngày Quốc khánh Hoa Kỳ”.
Vào tháng 2, ngay sau khi thụ án 3 năm vì "gây rối trật tự công cộng", bà Minh Hằng cho VOA biết bà từ đã chối đề nghị đi định cư tại Hoa Kỳ. Bà cũng đã công bố bức thư cảm ơn Chính phủ Hoa Kỳ với đề xuất định cư này và cho biết dù được Bộ Công an Việt Nam khuyên nên đi Mỹ nhưng bà đã nhất mực từ chối.
clip_image003
Nhà hoạt động Bùi Thị Minh Hằng chào bạn bè ngay khi ra khỏi trại giam Gia Trung, Gia Lai ngày 11/2/2017.
Bà Hằng là nhà hoạt động nhân quyền được nhiều người biết đến từ năm 2011, khi bà tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa - Trường Sa. Kể từ đó, bà trở thành mục tiêu thường xuyên bị hành hung, bắt bớ và giam cầm.
Vào tháng 8 năm 2014, tòa án tỉnh Đồng Tháp tuyên án bà Hằng 3 năm tù giam theo điều 245 Bộ Luật hình sự vì bị quy tội “gây cản trở giao thông nghiêm trọng”.
Hoa Kỳ thường xuyên kêu gọi Việt Nam cải thiện nhân quyền và hối thúc lãnh đạo Hà Nội trả tự do cho các tù nhân chính trị và tôn giáo.
Việt Nam lâu nay vẫn tuyên bố không tống giam các tù nhân chính trị mà chỉ bắt những người vi phạm pháp luật.
Truyền thông Việt Nam ngày 3/7 loan tin, Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã gửi điện mừng tới ngài Donald Trump, Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 241 Quốc khánh của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Tương lai: Vàng hay người?

Ðộc giả Người Việt đang bàn tán về kế hoạch “huy động vàng” của Nhà nước Cộng sản Việt Nam. Ngày đầu Tháng Bảy, ông Nguyễn Xuân Phúc họp chính phủ đã “giao Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu” vấn đề “huy động vàng” để lấy vốn tăng tưởng kinh tế. Bên ngoài, Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đã đề nghị thành lập sàn giao dịch vàng, tương tự thị trường mua bán chứng khoán.
Dân Việt Nam đang cất giữ một “kho vàng”, hơn 13 triệu lượng, khoảng 20 tỷ đô la, bằng 10% Tổng sản lượng nội địa. Ðảng Cộng sản chắc vẫn nhìn vào 500 tấn vàng của dân với con mắt thèm thuồng. Bây giờ họ không thể tổ chức “Tuần lễ vàng” như thời 1946, vì dân Việt đã mở mắt rồi. Nay bỗng nhiên, đảng lại đưa vấn đề “huy động vàng” lên hàng quốc sách! Một lý do dễ hiểu là “đảng ta” cần tiền! Một nguồn thu lớn trước đây trong ngân sách là dầu lửa. Từ ba năm nay, giá dầu thô thế giới tụt từ 140 đô la xuống dưới 50 đô la một thùng. Tiền bán dầu giảm 57%, ngân sách, mất 255 triệu đô la. Huy động vàng có hy vọng bù lấp vào lỗ hổng đó chăng?
Nhưng muốn phát triển kinh tế, “thấy vàng là tối mắt” không thể trở thành một chính sách quốc gia đứng đắn và lâu dài.
Trong thế giới hiện nay, sức mạnh kinh tế không tùy thuộc vào những nguyên liệu và nhiên liệu đào từ dưới đất lên nữa. Sức mạnh lớn nhất là trí óc, là những con người có cái đầu chứa kiến thức. Con người chính là những “mỏ vàng” của quốc gia. Nước Việt Nam sẽ mạnh hay yếu là do có khai thác được kho tàng đó hay không.

Những mỏ vàng này là con người, tất cả tự có nhu cầu sống. Cho nên họ cũng không chịu “nằm ngủ” yên dưới đất. Những con người đó tự họ phải “cựa quậy”, không cần ai “huy động”. Vì thế, rất nhiều người phải “đứng dậy” tìm dường kiếm sống cho chính mình, và giúp kinh tế phát triển. Chúng ta có thể lạc quan khi theo dõi hoạt động kinh doanh của giới trẻ Việt Nam, nhất là trong vùng thành phố Sài Gòn trong mấy năm gần đây. Hàng ngàn người đã dấn thân vào đường kinh doanh, và đã thành công trong ngành tin học áp dụng.
Một bản tin trên trang mạng The News Lens (viết tên chữ Hán là Quan kiện Bình luận, 關鍵評論), nhà phân tích kinh tế Liu Tong cho biết trong bốn tháng đầu năm 2017 đã có 39,580 dự án kinh doanh mới (start ups) ra đời, số vốn sẽ lên tới 370 tỷ đồng, tương đương với 17 tỷ đô la. Con số này lớn cũng gần bằng giá trị vàng trong cả nước, chứng tỏ con người và tri thức là một kho tàng nhiều triển vọng cao gấp bội vàng.
Những dự án kinh doanh mới này đều do tư nhân, phần lớn là những người trẻ tuổi khởi xướng. Năm ngoái, có 110,000 dự án và xí nghiệp mới ra đời, mà Bộ Kế hoạch-Ðầu tư cho biết 90% đã khai thuế; năm nay có thể sẽ tăng thêm hơn 10%. Trong môi trường các doanh nghiệp mới, những “start ups” nổi bật nằm trong lãnh vực “kinh tế tri thức”, dùng Internet, điện thoại di động, mua bán và phục vụ qua mạng Internet.
Một vụ thành công nổi tiếng ở Mỹ đã khích lệ giới trẻ Việt Nam bước vào đường kinh doanh tự lập là chuyện Misfit Wearables. Công ty này bán những hàng hóa “Wearables, đeo được”, thí dụ, những chiếc đồng hồ “tinh khôn” rẻ và đẹp với giá 50 đến 100 đô la, chiếm phần thị trường thấp hơn các đồng hồ giá 500 đô la như Apple của Google! Năm 2015 đã được đại công ty Fossil mua với giá 260 triệu đô la. Khi bán Misfit, một nhà sáng lập Sonny Vũ, 42 tuổi, vốn đã hợp tác với Apple, nay trở thành Chủ tịch của công ty Fossil mới, đang bán 50 triệu đồng hồ một năm, với những bạn hàng lớn như Adidas, Emporio Armani, DKNY,…
Lên sáu tuổi khi cùng gia đình tìm tự do, Sonny Vũ đã trở về Sài Gòn tìm cơ hội kinh doanh. Nhưng 100 nhân viên trong công ty của anh ở Sài Gòn chỉ phục vụ cho thị trường ngoại quốc, không chế tạo một thứ hàng nào bán trong nước! Từ Việt Nam, công ty đã “xuất cảng” món hàng “tri thức” là các tác quyền, bằng sáng chế. Vũ cho biết, giấy quảng cáo và website của công ty anh đã được dịch qua 17 ngôn ngữ, kể cả tiếng Do Thái và tiếng Tagalog của Philippines. Nhưng chưa có bản tiếng Việt!
Nhưng thành công của Misfit Wearables đã trở thành một huyền thoại trong giới trẻ tốt nghiệp đại học. Từ hai năm nay, rất nhiều người đã bắt đầu tự gây vốn kinh doanh, không chịu sống cuộc đời làm công “sớm vác ô đi tối vác về,” dù có an toàn hơn.
Một gương thành công là anh Trần Tuấn Anh, 33 tuổi. Năm 2013, anh bắt đầu dùng mạng Ticketbox “bán vé” dự các cuộc trình diễn. Trong 9 tháng đầu, số thu tăng lên 24 lần. Và Ticketbox đã tiến sang các thị trường Singapore, Thái Lan và đang nhắm sẽ qua các nước Ðông Nam Á khác.
Nhà sáng chế Nguyễn Ðồng là tác giả trò chơi điện tử Flappy Bird, đã bán sản phẩm tinh thần của mình và mỗi ngày được trả 50,000 đô la tiền bản quyền. Một thành công khác là Big Cat Entertainment, sản xuất các video phổ biến trên mạng, nay đã bán cho tập đoàn Asia Innovations Group. Cô Trương Thủy cũng bán sản phẩm của mình, Tappy, một “áp” (app) dùng trong mạng xã hội cho công ty Weeby, ở Silicon Valley.
Nhà kinh doanh Nguyễn Khôi đã lập công ty WeFit, nhắm vào các khu tập thể dục, vận động. Sau bốn tháng hoạt động, WeFit đã có 500 hội viên đóng tiền và hợp tác với 150 nhà thể dục thể thao. Thể dục là một thị trường lớn với số doanh thu 60 triệu đô la mỗi năm và tăng trưởng 20% một năm.
Một dự án kinh doanh đáng chú ý nhất có lẽ là Mimosatek, ra đời năm 2015, vì họ dùng kỹ thuật tin học giúp cho các nhà trồng trọt tính toán số nước cần tưới cây mỗi ngày. Cô Lê Lan Anh, Tổng giám đốc Công ty cho biết họ giúp các nông gia lập hệ thống tưới nước tự động. Cô cho biết một nhà trồng trọt, đã tiết kiệm được 30% số nước tưới, số điện dùng để chạy máy tưới, và năng suất tăng thêm 25% mà chỉ dùng điện thoại tinh khôn (martphone) điều khiển! Từ số thân chủ 35 người, công ty hy vọng sẽ lên tới 200 trong vòng một năm!
Nhà kinh doanh trẻ Ðinh Việt Hùng lập Công ty Designbold vào Tháng Mười năm 2016; dùng kỹ thuật tin học trong việc thiết trí hình ảnh. Trong hai tuần lễ, công ty đã thâu 130,000 đô la và mỗi tháng 8,000 người sử dụng hơn một nửa trở lại. Một nhà kinh doanh Mỹ gốc Việt, Trần Hùng với Công ty GotIt ở Mỹ đã góp phần khuyến khích các đồng nghiệp trong ngành này ở trong nước; GotIt đã chịu đứng hạng nhì, nhường chức quán quân trong giải “Best Startup of the Year” cho Designbold.
Có hàng ngàn nhà kinh doanh trẻ ở trong nước có triển vọng sẽ thành công như các thí dụ trên.
Trong dân số hơn 90 triệu, một nửa là những người tuổi dưới 35, Việt Nam có 37 triệu người đang dùng Internet và 29 triệu người dùng smartphone. Hiện nay Việt Nam đã trở thành một nơi được các công ty quốc tế khai thác để sử dụng nguồn “năng lượng tri thức”, như nhà kinh doanh Sonny Vũ đang làm. Với đầu óc sáng tạo, cần cù sẵn có, khối người trẻ này sẽ giúp Việt Nam sẵn sàng trở thành đất dụng võ cho “kinh tế tri thức”. Nếu họ có đủ điều kiện để phát triển. Một điều kiện không thể thiếu được, là các quyền tự do, bắt đầu với tự do kinh doanh.
Câu hỏi là: Chính quyền Cộng sản Việt Nam có thể chuẩn bị môi trường cho “kinh tế tri thức” phát triển hay không?
Nếu họ chỉ nghĩ đến vàng mà không biết đến người thì không có hy vọng. Chúng tôi sẽ nêu lên những khó khăn trong môi trường kinh doanh trong một bài tới.Ngô Nhân Dụng

Thời sự kinh tế: Mỏ vàng doanh nhân trẻ

Những đảng viên Cộng Sản không được học khái niệm về “ecosystem”. Chủ nghĩa Mác xít nhìn thế giới như một bộ máy, như cái đồng hồ, vì thời Karl Marx còn sống ông chỉ có thể thấy “mô hình” đó. Lối nhìn máy móc này khiến các lãnh tụ cộng sản nghĩ kinh tế thị trường một cách máy móc, hư đâu sửa đó. Vì vậy, kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục tụt hậu so với lân bang. Vì có một mỏ vàng không được khai thác, là giới kinh doanh trẻ tuổi.
Tạm dịch “ecosystem” là một “hệ sinh thái” (người Trung Hoa gọi là sinh thái hệ thống, 生態系統) (chữ eco ở đây viết tắt ecology, sinh môi, không phải economics, kinh tế). Một hệ sinh thái bao gồm các sinh vật, sống với nhau và những thứ vô tri giác. Tất cả tác động lẫn nhau, tạo nên một hệ thống sinh thái. Thung lũng điện tử ở vùng Vịnh California là một hệ sinh thái kinh tế. Những người sống trong đó thành công nhờ hợp tác và cạnh tranh với những người khác, có những quy luật kinh doanh, những nguồn vốn, gần gũi các nhà cung cấp và thị trường tiêu thụ, và cả một hệ thống pháp luật  của nước Mỹ bảo vệ các quyền tự do và quyền tư hữu.
Sonny Vũ thành công ở Thung lũng Điện tử, như đã kể trong bài trước, vì đã từng làm việc với các người lãnh đạo Công ty Apple, như John Sculley, người sau này cùng Vũ và Sridhar Iyengar lập ra Công ty Misfit. Misfit thành công vì hoạt động ở nước Mỹ chứ không ở bên Tàu hay Việt Nam. Khi về làm việc trong nước, Sonny Vũ gặp những hạn chế, không thể phát triển lớn hơn mấy trăm nhân viên.
Những nhà kinh doanh trẻ Việt Nam còn ở vị thế bất lợi hơn một người Mỹ gốc Việt như Vũ. Họ không những thiếu cơ hội phát triển tài năng mà còn bị gò bó trong một chế độ chưa hiểu biết gì về sinh thái của kinh tế hiện đại.
Lâu lâu, các nhà kinh doanh trẻ này được mở mang tầm mắt nhờ gặp gỡ và cộng tác với những người Việt ở nước ngoài trở về hay khách nước ngoài. Một người trẻ dự cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Barack Obama ở Sài Gòn năm trước cho biết anh và các nhà kinh doanh trẻ cảm thấy đầy phấn khởi khi nghe ông Tổng thống Mỹ nói chuyện; cũng như khi họ được gặp hai người lãnh đạo Công ty Google, Mike Cassidy và Sundar Pichai. Họ thâu nhận kiến thức mới; nhưng quan trọng hơn nữa là họ tập nhiễm thói quen mới, có ý thức về quyền tự do suy nghĩ, tự do mơ ước, tự do hy vọng của chính mình!
Nhưng dù được khích lệ bao nhiêu, khi đụng chạm tới thực tế, các nhà kinh doanh trẻ sẽ thấy Sài Gòn hay Hà Nội chưa có một hệ sinh thái để phát triển tài năng. Sonny Vũ kể rằng nhân viên của Misfit tại Sài Gòn có thể làm rất nhiều công việc, nhưng thứ họ thiếu nhất là khả năng sáng tạo các sản phẩm mới (product development). Một sản phẩm thành công của công ty Misfit là Link App, cho phép người dùng điện thoại nghe nhạc và tự chụp hình dễ dàng hơn bằng cách bấm một cái nút. Mọi việc sáng chế ra Link App đều làm ở Sài Gòn. Nhưng công tác họa kiểu (product design) vẫn phải nhờ các đồng nghiệp sống ở Mỹ, trong đó chắc có nhiều người Việt trẻ tuổi khác.
Người Việt mình không thiếu sáng kiến, Chính Sonny Vũ nói, trong một bài phỏng vấn với CNET, rằng tất cả các “ý tưởng lớn” đều có thể vay mượn (Anh nói mạnh hơn – ăn trộm: All the great ideas are stolen). Vậy tại sao các kỹ sư trẻ tuổi ở nước ta chưa có được những khả năng như các đồng nghiệp sống ở Mỹ (và ngay cả ở bên Tàu)? Bởi vì Việt Nam thiếu một “hệ sinh thái” thích hợp cho giới kinh doanh.
Trong bài của Liu Tong, đăng trong mạng The News Lens (Quan kiện Bình luận), nhà phân tích này cho biết trong bốn tháng đầu năm 2017, có 38,590 dự án kinh doanh mới ra đời (startups), nhưng cũng có 27,400 doanh nghiệp ngưng hoạt động và hơn 4,000 đóng cửa luôn. Nghĩa là chỉ có thêm khoảng 7,000 doanh nghiệp mới. Tại sao có nhiều dự án kinh doanh phải ngưng hoặc chấm dứt hoạt động như vậy? Trong bài viết nêu trên, Liu Tong đã nêu ra những khó khăn trong môi trường kinh doanh ở nước ta.
Chính nhà nước Cộng sản cũng công nhận đến 90% các dự án kinh doanh đã thất bại. Tỷ lệ dó có thể coi là bình thường, vì tất cả các dự án, các xí nghiệp mới đều rất nhiều rủi ro. Những công ty thành công như Microsoft, Google, Facebook vượt lên sống được trong những “nghĩa địa” với hàng chục, hàng trăm ngàn “xác chết” của những doanh nghiệp cùng theo đuổi một kỳ vọng và mục tiêu!
Nhưng nếu các doanh nghiệp mới bị thất bại là chuyện bình thường, thì có một thứ bất bình thường là cái chết của mấy chục ngàn doanh nghiệp trong nước Việt Nam không phải do thiếu tài năng, thiếu sáng kiến! Lý do chính là họ bị cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội bóp đến nghẹt thở. Hơn thế nữa, còn bao nhiêu những dự án kinh doanh không bao giờ được mở mắt chào đời, vì không có một hệ sinh thái thích hợp làm mụ đỡ.
Nhìn các nước chung quanh, phải cảm thấy xấu hổ! Trong lãnh vực mua bán trên mạng (e-commerce), hiện nay Việt Nam là thị trường nhỏ nhất trong vùng Đông Nam Á mặc dù dân số cao nhất! Mặc dầu thị trường này có khả năng sẽ tăng trưởng rất nhanh, hơn 10% một năm. Công ty giao hàng UPS cũng nghiên cứu thị trường Việt Nam và thấy đó là một mỏ vàng chưa được khai thác.
Các công ty nho nhỏ của người Việt đã thành công những bước đầu, nhưng nếu muốn bành trướng sẽ gặp rất nhiều chướng ngại. Từ năm 2012, Sài Gòn có mạng Giaohangnhanh, được nhiều người sử dụng để “giao hàng nhanh” như họ tự giới thiệu. Mạng Chopp chuyên giao hàng cho các siêu thị, người mua có thể dùng những “app” đặt mua, với hứa hẹn trong vòng một giờ sẽ tới.
Tất cả các công ty loại này đều bị cản trở vì chưa có một hệ sinh thái thích đáng; từ chi phí chuyên chở đắt tiền và hay tắc nghẽn cho tới tinh thần của người tiêu thụ. Trong kinh tế Việt Nam, phí tổn về tiếp vận (logistics costs) cao bằng 20% Tổng sản lượng Nội địa, quá cao so với tỷ số trung bình của Ấn Độ (13%), Trung Quốc 15% hay 8% ở Mỹ.
Chướng ngại khó vược qua hơn nữa là mặt tinh thần: Lòng tin của những người tiêu thụ quá thấp. Người Việt Nam chưa có thói quen đặt tin tưởng vào những lời hứa của “người dưng nước lã!” Cũng vì cả xã hội đã mất niềm tin giữa con người với con người, hậu quả của một chế độ chuyên ăn gian nói dối! Vì vậy, hoạt động mua bán trên mạng, e-commerce, mới xâm nhập được dưới 1% thị trường bán lẻ ở Việt Nam, trong khi đã tiến tới 8% ở Trung Quốc khi được các đại công ty như Alibaba dẫn đầu.
Chưa hết, tất cả các doanh nghiệp dùng tin học đều bị đè nặng dưới điều 292 trong Bộ luật Hình sự. Ở các nước tự do dân chủ người ta có thể bắt đầu việc kinh doanh trước khi làm giấy tờ hợp thức hóa ở cơ quan hành chánh. Nhờ thế, nhiều doanh nghiệp ra đời, bán thử trong thị trường, kêu gọi vốn một cách dễ dàng.
Điều 292 cấm người Việt Nam không được cung cấp các dịch vụ trên mạng (online) nếu chưa có giấy phép! Ai làm sẽ bị coi là phạm tội hình! Sau khi bao nhiêu người phản đối, năm 2016 điều này mới được sửa đổi! Nhưng còn biết bao nhiêu thứ cấm đoán, ràng buộc, luật lệ kìm hãm sức phát triển kinh doanh của người dân, hệ sinh thái kinh doanh bị bóp nghẹt.
Nhưng các nhà kinh doanh trẻ trong nước còn gặp những chướng ngại cao như núi khác do chế độ dựng nên.
Trong bài của Liu Tong viết trên mạng The News Lens nêu ở trên, ông đưa ra mấy chướng ngại chính. Đầu tiên là không có nguồn vốn cho các doanh nghiệp tư nhân mới. Vốn đầu tư mạo hiểm (VC, venture capital) còn chưa thành hình. Hệ thống tài chánh của chế độ ưu đãi các doanh nghiệp nhà nước và bạc đãi tư nhân. Hiện nay hầu hết các công ty mới ra đời với tầm cỡ lớn đều do người nước ngoài tài trợ. Thí dụ, Mono, làm dịch vụ trả tiền trên mạng, đã được các ngân hàng  Standard Chartered và Goldman Sachs góp vốn 28 triệu Mỹ kim.
Nạn tham nhũng là chướng ngại lớn không khác gì bị kỳ thị trong hệ thống ngân hàng. Tư doanh bị gò ép gạt ra ngoài hệ thống cung cấp hàng hóa hay dịch vụ cho các cơ quan nhà nước. Chi phí “bôi trơn” của các xí nghiệp khiến cho tất cả đều kém hiệu năng (efficiency). Nếu họ có cạnh tranh được với các công ty trong nước, họ có thể chịu thua khi phải đối đầu với những công ty nước ngoài, nơi các quan tham nhũng không “tàn bạo” như các cán bộ đảng, vì chính những cán bộ này cũng phải dâng tiền lên cấp trên.
Chướng ngại lớn thứ ba mà Liu Tong nêu ra là hệ thống giáo dục yếu kém. Những người sáng lập các kinh doanh mới đều có học và tự học hỏi, và họ có thể phát đạt nhanh lúc khởi đầu vì thu hút được những người cùng trình độ và hoàn cảnh. Nhưng số người đó có giới hạn; khi  tới một trình độ cao hơn, muốn mở rộng thị trường, thì họ sẽ thiếu nhân viên đủ khả năng vì các đại học kém cỏi!
So với ba chướng ngại kể trên thì Liu Tong thấy nỗi khó khăn lớn nhất cho giới trẻ Việt Nam là thiếu một hệ sinh thái thích hợp cho công việc kinh doanh. Ông nhận xét rằng những nhà kinh nước ta đang thành công đều sống trong một ốc đảo, giữa cái hệ sinh thái chung quanh. Họ thành công nhờ đứng ngoài lề, không khác gì các bloggers thành công nhờ đi trên lề đường bên trái, khác các báo đài của đảng cộng sản!
Vì vậy, tất cả các người đã thành công kinh doanh trong ngành tin học và mạng lưới thường đứng bên lề, chân trước chân sau, và im hơi lặng tiếng! Họ có thể được đào tạo ở đại học Mỹ hay Úc, hoặc đã từng làm cho các công ty ngoại quốc, rồi tự ý rời bỏ công việc ở Facebook ra làm ăn riêng! Hoặc một số chuyên gia hẹn gặp nhau ở Singapore bàn chuyện mở một dự án chung. Hoặc một công ty ngoại quốc đến Việt Nam tìm cơ hội sử dụng các kỹ sư có tài và nhận lương thấp hơn ở Thái Lan hay ỏ Mỹ.
Tình trạng trên cho thấy chế độ Cộng Sản đang kìm hãm sức phát triển của giới kinh doanh trẻ trong nước. Mà đó chính là một kho vàng!
Một Giáo sư người Mỹ đi thăm nước Israel sau khi các nước Á Rập đang bắt chẹt Tây phương bằng cách tăng giá dầu lửa. Ông hỏi một bạn đồng nghiệp người Israel rằng nước ông ta không có dầu lửa, làm sao chống cự lâu dài với lân bang? Vị Giáo sư Israel đưa người hỏi tới một thư viện đại học, chỉ vào các sinh viên đang chúi đầu vào sách hoặc vào máy vi tính, nói: “Đây là mỏ dầu lửa của chúng tôi!”
Việt Nam đang tranh đấu với Trung Cộng dành quyền làm chủ những mỏ dầu nằm dưới đấy Biển Đông. Nhưng trong lúc đó, những mỏ vàng quý báu trong nước ta đang  bị bỏ quên uổng phí! Muốn phát triển kinh tế, tạo ra một ecosystem mới, phải xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị.
Ngô Nhân Dụng

No comments:

Post a Comment