Friday, July 7, 2017

Bài viết hay(5141)

Sau khi lấy lớp Econ 101, thằng cháu tui nói cho tui hiểu là tư bản làm giàu qua giá trị thặng dư(surplus) từ giới tiêu thụ chứ đâu có phải từ việc bóc lột công nhân như CS tuyên truyền? Ba má nó phải trả hàng trăm chi phí; chưa kể overhead cost trong khi công nhân chịu làm với lương trả bao nhiêu thì vô làm, hết giờ lãnh lương xong về nhà ăn ngủ khoẻ re chứ ba má nó mất ăn mất ngủ nếu không bán được sản phẩm. Một thằng nhóc mới lớn còn hiểu ra điều đó. Vậy mà cả triệu đứa già đầu vẫn bị CS lừa gạt thì hỏi sao tui luôn đấu tranh cho việc nâng cao dân trí. Khổ nỗi lắm đứa ở Mỹ thích ném đá, chụp mũ cứ chửi tui là ngu khi muốn nâng cao dân trí cho dân VN.

Những người thủy thủ bị tổ quốc chối bỏ

Tin liên quan:Hai thủy thủ Việt Nam bị chặt đầu ở Philippines

Khi Nguyễn Tường Vân - một công dân Úc gốc Việt dính án ma tuý tại Singapore, án này nặng và tử hình là xứng đáng. Nước Úc lúc đó đã làm tất cả mọi thứ để mong cứu Vân, họ thậm chí còn định thưa Sing ra toàn án quốc tế, quan hệ giữa hai nước cũng xấu đi cho đến tận bây giờ chỉ vì phía Sing nhất quyết tử hình Vân.
Khi một sinh viên Mỹ bị chế độ cộng sản Triều Tiên bắt giam và thả ra khi anh này đã ngắc ngoải, rồi sau một thời gian ngắn anh ta mất. Cả nước Mỹ phẫn nộ, tổng thống Trump còn họp khẩn lên án sự độc ác của Triều Tiên và doạ sẽ đánh cho Triều Tiên sấp mặt.
Còn tại một đất nước mà mở mắt ra là người dân đã được nghe rao giảng về đạo đức, mở mắt ra là đã học tập về tấm gương. Đất nước đó vừa có hai công dân bị bắt làm tù binh và vừa bị chặt đầu thị uy ở Philippines ngay mới đây có vài chục tiếng đồng hồ. Không một giới chức cấp cao nào lên tiếng, không một tờ báo chính thống nào đưa tin hoặc có thì cũng cố né đi quốc tịch Việt Nam của hai nạn nhân kể trên.
Vậy hai anh kia làm gì mà tổ quốc chối bỏ họ, họ buôn ma tuý, giết người hay họ là dân giang hồ thanh toán nhau ư? Không, họ chỉ là những thuỷ thủ hiền lành, bị bắt để đòi tiền chuộc nhưng xui xẻo cho đám bắt cóc lẫn người bị bắt cóc, khi nạn nhân lại là công dân của cái nước mà ở đó, mạng người còn rẻ hơn cả cỏ rác, và cuối cùng, hai sinh mạng kia cũng thuộc về thần chết.
Đã là công dân, tức họ là những người dân đóng thuế, họ là 1 phần của xã hội, là một phần của đất nước Việt Nam. Vậy tại sao lại bỏ rơi họ, sao lại để họ bơ vơ, và sao lại đối xử như kiểu họ là thứ đáng bỏ đi như thế?
Biết bao thận phận trôi dạt khắp mọi nơi trên thế giới để đem về hàng chục tỷ usd kiều hối mỗi năm. Họ đổ mồ hôi, đổ cả máu, thậm chí là hy sinh cả tính mạng để rồi khi xảy ra chuyện họ bị đối xử tệ hại như thế này hay sao? Rất nhiều người khi đi lao động, đi làm culi, làm điếm ở nước ngoài không may chết đi, thứ người ta nhận được duy nhất chỉ là lòng thiện của những đồng hương khi họ góp nhau từng xu lẻ để giúp đưa xác nạn nhân về đến nhà. Tuyệt nhiên người ta không bao giờ thấy hình bóng của giới chức Việt Nam nào xuất hiện trong những lúc như thế.
Anh đối xử với người dân như vậy rồi anh lại trách người dân vô cảm với xã hội, trách họ không đóng góp cho đất nước này kia, như thế thì có quá đáng không?Để đánh giá bộ mặt của một quốc gia, hãy nhìn cách mà chính quyền nước đó đối xử với người dân của mình.
Nhìn vào Việt Nam hiện giờ, dân với chính quyền hành xử với nhau cứ như là Tấm với Cám, khốn nỗi chính quyền lại cho mình là Tấm, mà độ độc ác của Tấm, thật ra, nó còn hơn Cám đến cả nghìn lần.
Tin liên quan: Hai thủy thủ Việt Nam bị chặt đầu ở Philippines Khi Nguyễn Tường Vân - một công dân Úc gốc Việt dính án ma tuý tại Singapore, án này nặng và tử hình là xứng đáng. Nước Úc lúc đó đã làm tất cả mọi thứ để mong cứu Vân, họ thậm chí còn định thưa Sing ra toàn án quốc tế, quan hệ giữa hai nước cũng xấu đi cho đến tận bây giờ chỉ vì phía Sing nhất quyết tử hình Vân. Khi một sinh viên Mỹ bị chế độ cộng sản Triều Tiên bắt giam và thả ra khi anh này đã ngắc ngoải, rồi sau một thời gian ngắn anh ta mất. Cả nước Mỹ phẫn nộ, tổng thống Trump còn họp khẩn lên án sự độc ác của Triều Tiên và doạ sẽ đánh cho Triều Tiên sấp mặt. Còn tại một đất nước mà mở mắt ra là người dân đã được nghe rao giảng về đạo đức, mở mắt ra là đã học tập về tấm gương. Đất nước đó vừa có hai công dân bị bắt làm tù binh và vừa bị chặt đầu thị uy ở Philippines ngay mới đây có vài chục tiếng đồng hồ. Không một giới chức cấp cao nào lên tiếng, không một tờ báo chính thống nào đưa tin hoặc có thì cũng cố né đi quốc tịch Việt Nam của hai nạn nhân kể trên. Vậy hai anh kia làm gì mà tổ quốc chối bỏ họ, họ buôn ma tuý, giết người hay họ là dân giang hồ thanh toán nhau ư? Không, họ chỉ là những thuỷ thủ hiền lành, bị bắt để đòi tiền chuộc nhưng xui xẻo cho đám bắt cóc lẫn người bị bắt cóc, khi nạn nhân lại là công dân của cái nước mà ở đó, mạng người còn rẻ hơn cả cỏ rác, và cuối cùng, hai sinh mạng kia cũng thuộc về thần chết. Đã là công dân, tức họ là những người dân đóng thuế, họ là 1 phần của xã hội, là một phần của đất nước Việt Nam. Vậy tại sao lại bỏ rơi họ, sao lại để họ bơ vơ, và sao lại đối xử như kiểu họ là thứ đáng bỏ đi như thế? Biết bao thận phận trôi dạt khắp mọi nơi trên thế giới để đem về hàng chục tỷ usd kiều hối mỗi năm. Họ đổ mồ hôi, đổ cả máu, thậm chí là hy sinh cả tính mạng để rồi khi xảy ra chuyện họ bị đối xử tệ hại như thế này hay sao? Rất nhiều người khi đi lao động, đi làm culi, làm điếm ở nước ngoài không may chết đi, thứ người ta nhận được duy nhất chỉ là lòng thiện của những đồng hương khi họ góp nhau từng xu lẻ để giúp đưa xác nạn nhân về đến nhà. Tuyệt nhiên người ta không bao giờ thấy hình bóng của giới chức Việt Nam nào xuất hiện trong những lúc như thế. Anh đối xử với người dân như vậy rồi anh lại trách người dân vô cảm với xã hội, trách họ không đóng góp cho đất nước này kia, như thế thì có quá đáng không?Để đánh giá bộ mặt của một quốc gia, hãy nhìn cách mà chính quyền nước đó đối xử với người dân của mình. Nhìn vào Việt Nam hiện giờ, dân với chính quyền hành xử với nhau cứ như là Tấm với Cám, khốn nỗi chính quyền lại cho mình là Tấm, mà độ độc ác của Tấm, thật ra, nó còn hơn Cám đến cả nghìn lần.
Nhân Thế Hoàng
Thấy gì qua bức hình bé gái bốn tuổi trước băng rôn đòi trả mẹ về cho bé
Trong khi chờ đợi làm thủ tục để xuất cảnh. Người mẹ mang bao lo âu, phần con bệnh, phần bị hăm dọa đe dọa từ phía công an rằng sẽ không cho chị xuất cảnh. Và điều mà chị lo lắng đã tới. Vào 5 giờ 30 phút chiều ngày 27/6. Chị đã bị an ninh sân bay Tân Sơn Nhất cấm xuất cảnh với một biên bản : vì lý do an ninh.
Chị đau đớn, nước mắt chị lăn tròn trên má vì nhớ con, vì lo cho con mình. Nhưng bên cạnh đó bao nỗi uất ức tột cùng mà chị cảm thấy không thể nào chấp nhận được, đó là cái cách hành xử của một bộ máy chính quyền. Họ đã tước đi quyền tự do đi lại của chị và xem chị như một con tin chỉ vì chị là một người chị của cô gái đấu tranh cho nghiệp đoàn.
19758429_842646755900224_280596315_n.jpg
Gia đình chị Trầm
Đó là chị gái tôi, Đỗ Ngọc Xuân Trầm. Bà chị khờ khạo và ngốc nghếch. Chị chỉ là một người phụ nữ bình thường, lo làm ăn và chăm sóc gia đình. Chị phải lo cho mẹ già và đứa con nhỏ. Chị sống đơn thuần và chưa bao giờ dám xen vào đời sống riêng tư của em gái mình.
Bị biến thành con tin và bị ép làm nội gián?
Chỉ vì chị quá hiền. Do đó, phía mang danh nghĩa đại diện cho Pháp luật lại là những kẻ khủng bố. Chúng nhắn tin, điện thoại , thậm chí mời lên làm việc và bắt trả lời những câu hỏi liên quan đến chồng, mẹ và em gái của chị. Chúng bắt chị phải theo dõi em gái mình đang ở đâu và làm gì. Chúng bắt chị phải làm tất cả những gì chúng yêu cầu và nếu không chúng không cho chị xuất cảnh.
19848881_842646769233556_1747784984_n.jpg
Chị gái tôi, chị chưa hiểu thế nào là những thủ đoạn đê hèn. Nhưng chị tôi hiểu rằng, chị chỉ muốn mình là một người bình thường, sống cuộc sống bình thường. Chị không tham gia hay quan tâm những công việc của chồng hay em gái và càng không chọn cách tự mình trở thành tay sai của một bọn hèn hạ. Điều này đã khiến chúng nỗi điên lên và dùng cách trả đũa đê hèn nhất : Cấm xuất cảnh vì lý do an ninh.
Chúng biết chị yêu chồng, yêu con. Chúng biết chị thương em. Chúng cũng biết rõ rằng với tính tình tồ tệch của chị thì chị cũng chẳng thể tham gia bất cứ hoạt động nào gọi là hoạt động đấu tranh cho công lý lẽ phải. Nhưng chúng muốn thế, muốn thõa mãn sự khát khao tàn sát và chia cắt người khác, muốn thõa mãn sự khủng bố tinh thần đối với những ai bất đồng chính kiến với chúng. Chúng muốn thõa mãn sự tàn độc luôn luôn chất chứa trong chúng. Nhưng có lẽ bấy nhiêu đó vẫn chưa đủ cho chúng thõa mãn. Chúng chia cắt những người mẹ với những đưa con thơ như mẹ Nấm, chị Thúy Nga. Chúng chia cắt tình cha con như thầy Minh Hoàng, anh Vịnh Lưu và anh Oai.
Bức hình và tiếng khóc trẻ thơ.
19692269_842646719233561_1184581767_n.jpg
Cháu bé khóc hằng đêm, không chịu ngủ và ăn uống. Bé đòi trả mẹ về. Bé biết những tên police kia bắt mẹ bé không có lý do.
Hình ảnh đứa bé bốn tuổi trước tấm băng rôn đã chứng minh một chính quyền vô nhân đạo, tàn độc.
Trong khi chờ đợi làm thủ tục để xuất cảnh. Người mẹ mang bao lo âu, phần con bệnh, phần bị hăm dọa đe dọa từ phía công an rằng sẽ không cho chị xuất cảnh. Và điều mà chị lo lắng đã tới. Vào 5 giờ 30 phút chiều ngày 27/6. Chị đã bị an ninh sân bay Tân Sơn Nhất cấm xuất cảnh với một biên bản : vì lý do an ninh. Chị đau đớn, nước mắt chị lăn tròn trên má vì nhớ con, vì lo cho con mình. Nhưng bên cạnh đó bao nỗi uất ức tột cùng mà chị cảm thấy không thể nào chấp nhận được, đó là cái cách hành xử của một bộ máy chính quyền. Họ đã tước đi quyền tự do đi lại của chị và xem chị như một con tin chỉ vì chị là một người chị của cô gái đấu tranh cho nghiệp đoàn. Gia đình chị Trầm Đó là chị gái tôi, Đỗ Ngọc Xuân Trầm. Bà chị khờ khạo và ngốc nghếch. Chị chỉ là một người phụ nữ bình thường, lo làm ăn và chăm sóc gia đình. Chị phải lo cho mẹ già và đứa con nhỏ. Chị sống đơn thuần và chưa bao giờ dám xen vào đời sống riêng tư của em gái mình. Bị biến thành con tin và bị ép làm nội gián? Chỉ vì chị quá hiền. Do đó, phía mang danh nghĩa đại diện cho Pháp luật lại là những kẻ khủng bố. Chúng nhắn tin, điện thoại , thậm chí mời lên làm việc và bắt trả lời những câu hỏi liên quan đến chồng, mẹ và em gái của chị. Chúng bắt chị phải theo dõi em gái mình đang ở đâu và làm gì. Chúng bắt chị phải làm tất cả những gì chúng yêu cầu và nếu không chúng không cho chị xuất cảnh. Chị gái tôi, chị chưa hiểu thế nào là những thủ đoạn đê hèn. Nhưng chị tôi hiểu rằng, chị chỉ muốn mình là một người bình thường, sống cuộc sống bình thường. Chị không tham gia hay quan tâm những công việc của chồng hay em gái và càng không chọn cách tự mình trở thành tay sai của một bọn hèn hạ. Điều này đã khiến chúng nỗi điên lên và dùng cách trả đũa đê hèn nhất : Cấm xuất cảnh vì lý do an ninh. Chúng biết chị yêu chồng, yêu con. Chúng biết chị thương em. Chúng cũng biết rõ rằng với tính tình tồ tệch của chị thì chị cũng chẳng thể tham gia bất cứ hoạt động nào gọi là hoạt động đấu tranh cho công lý lẽ phải. Nhưng chúng muốn thế, muốn thõa mãn sự khát khao tàn sát và chia cắt người khác, muốn thõa mãn sự khủng bố tinh thần đối với những ai bất đồng chính kiến với chúng. Chúng muốn thõa mãn sự tàn độc luôn luôn chất chứa trong chúng. Nhưng có lẽ bấy nhiêu đó vẫn chưa đủ cho chúng thõa mãn. Chúng chia cắt những người mẹ với những đưa con thơ như mẹ Nấm, chị Thúy Nga. Chúng chia cắt tình cha con như thầy Minh Hoàng, anh Vịnh Lưu và anh Oai. Bức hình và tiếng khóc trẻ thơ. Cháu bé khóc hằng đêm, không chịu ngủ và ăn uống. Bé đòi trả mẹ về. Bé biết những tên police kia bắt mẹ bé không có lý do. Hình ảnh đứa bé bốn tuổi trước tấm băng rôn đã chứng minh một chính quyền vô nhân đạo, tàn độc.Đỗ Thị Minh Hạnh
“Đảng sân golf” và “thằng Anh Lịch Sử”
Người viết đã nảy ra mấy ý trên ngay sau khi đọc qua bản tin về báo cáo của Thượng tướng Lê Chiêm trước Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong buổi làm việc tại Sài Gòn ngày 23.6.2017.
Tướng Chiêm là Thứ trưởng Quốc phòng, đã báo cáo với thủ tướng chuyện “sân golf trong Phi trường Tân Sơn Nhất”, cho biết vấn đề này “là do yếu tố lịch sử để lại” và “việc xây dựng sân golf đã được thủ tướng chính phủ và 7 bộ ngành liên quan phê duyệt, chấp thuận.” [1]
“Do lịch sử để lại” nhưng sao còn liên quan đến “thủ tướng và 7 bộ ngành”? Sự tréo ngoe này bắt chúng ta nghĩ đến ý niệm tréo ngoe “Thằng anh Lịch Sử”.
Nếu cụm từ này có hai “tứ” là “thằng anh” và “thằng Lịch Sử” thì để hiểu rõ lý do, chúng ta cần điểm tên qua từng… “thằng” một.
Thứ nhất là “thằng anh”. Hiếm ai gọi anh mình là “thằng” cả, trừ phi anh ta này là kẻ chẳng ra gì về mặt trí tuệ hay đạo nghĩa, hoặc cả hai.
Giao tiếp ở đời, thỉnh chúng ta lại nghe ai đó lôi anh mình ra mắng: “Thằng anh của tôi nó ngu quá…” rồi kể ra một loạt những hành động ngu đần của anh ta, nào là để kẻ khác cướp hết đất, hết nhà, nào là để vợ con bán đứng mình, cắm sừng mình v.v...
Lại có kẻ hậm hực vì ông anh của mình là kẻ bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu, xem máu mủ trong nhà không ra gì, lại a tòng với người ngoài mà dày xéo mồ mả hương linh của ông bà, tổ tiên: “Thằng anh của tôi là thứ trời không dung, đất không tha, thứ ăn thịt người mà không cần chấm muối, chỉ trừ bộ xương của cha tôi nó chưa đào lên chẻ ra làm quân bài mạt chược thôi, không có việc gì mà nó không từ...
“Thằng anh” thì đại khái như vậy. Còn “thằng Lịch Sử” thì đã đi vào văn học dân gian hiện đại như là một danh từ riêng, là một trong những chuyện tiếu lâm giúp dân ta xả xú bắp khá hiệu quả trong cái thời ăn cơm độn nhưng phải hùng hục “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.
Chuyện kể rằng một anh cán bộ Mặt Trận xã về thôn vận động nhân dân đôn đốc con em tham gia nghĩa vụ quân sự và xuất tiền mua công trái để xây dựng Thủy Điện Thác Bà. Sau khi nêu hai chỉ tiêu thật cao mà huyện đã giao cho xã, anh cán bộ này hùng hồn: “Lịch sử đã giao phó thì bà con xã ta hãy gánh nhận, lịch sử đang nhìn vào thì mong rằng bà con xã ta hãy tiếp tục truyền thống vung đất cách mạng, lịch sử đang mong đợi thì bà con xã ta hãy…”.
Anh ta đang ngon trớn đọc bài đã luyện sẵn thì một cụ già thuộc lại “có công với cách mạng” đứng phắt dậy, hầm hầm, nói như muốn nhảy vào họng anh ta: “Lịch Sử là cái thằng bố láo nào mà giao cho xã ta chỉ tiêu cao như thế”.
“Thằng Lịch Sử phản động”
Nếu theo dõi thật kỹ ngôn từ của báo chí chính thống thì “Lịch Sử” không chỉ là một “thằng bố láo” mà còn phản động nữa. Vì bao nhiêu “tồn tại” của chế độ ta đều do nó mà ra cả.
Các đồng chí lãnh đạo đảng nhà nước -- hay các thư ký, trợ lý viết diễn văn -- có thói xấu là hay dẫm lên các quy tắc ngữ pháp để “trái khoáy hóa” tiếng Việt. Xã hội có gì bất ý, tiêu cực, tóm lại là những điều làm cho các quan chức lãnh đạo cảm thấy xấu hổ, là thứ mà về mặt ngữ pháp chúng ta phải diễn đạt bằng một danh từ, họ lại ngang phè gói gọn nó bằng động từ “tồn tại”. Hậu quả là bài diễn văn “tổng kết” hay “đánh giá tình hình chung” nào cũng… tồn tại cái sáo ngữ “biết rồi khổ quá nói mãi”: “Bên cạnh những biến chuyển tích cực (hay ‘ưu điểm’, ‘tiến bộ’ v.v..) vẫn còn một số tồn tại nhất định”.
Một trong những “tồn tại nhất định” đang làm xã hội sục sôi là cái sân golf Tân Sơn Nhất. Máy bay kẹt đường bay trên trời hay kẹt bãi đỗ: mặc; giao thông kẹt cứng bên ngoài phi trường, mặc; trời mưa nước ngập phi đạo, cũng mặc: cái sân golf và hàng loạt quán nhậu nhà hàng phục vụ vẫn tà tà… tồn tại.
Tại sao “tồn tại” ấy có thể… tồn tại ngay giữa vị trí trọng yếu của quốc gia đang bị áp lưc quá tải qua nhiều năm như vậy?
Theo lời của Tướng Chiêm thì cơn cớ là “do lịch sử”! Thử mang lời vàng ý ngọc của Tướng Chiêm đi google, chúng ta sẽ tìm thấy “lịch sử” trở thành một thứ thân tằm gánh chịu trăm dâu với các bài báo như thế này:
- Lạm phát vụ trưởng, vụ phó ở Bộ KH&ĐT: 'Do lịch sử để lại'
- Một sở có 6 phó giám đốc: Do lịch sử để lại?
- Tồn tại về nhà đất do lịch sử để lại - khó cũng phải làm –
- Trạm thu phí đặt nhầm chỗ: Do lịch sử để lại –
- Vỉa hè trước cổng Sở TNMT Hải Phòng thành bãi đỗ xe: Do lịch sử để lại
- Lương giáo viên mầm non không đủ sống do... lịch sử để lại
- Hơn 20 người họ hàng cùng làm 'quan' một xã là do... lịch sử để lại ...
Bổ nhiệm anh em và vây cánh tràn lan: “do lịch sử để lại”; xây trạm thu phí BOT tùy hứng khiến dân kêu trời: “do lịch sử để lại”; cả cái vỉa hè thành bãi đỗ xe hay lương không đủ sống, cũng là “do lịch sử để lại”.
“Nếu cần thì Satan cũng có thể viện dẫn kinh thánh” còn các quan chức của chế độ ta thì đụng đâu cũng lôi đầu lịch sử ra trút bỏ trách nhiệm. Nói tóm lại, toàn bộ những yếu tố chính trị - xã hội khiến dân ta oán thán, khiến đất nước ta lạc hậu thua sút các láng giềng từng thua kém láng giềng từng thua xa mình đều là do “lịch sử” cả!
Nếu cụ già trong chuyện tiếu lâm kia xuất hiện, cụ sẽ quá tháo rằng “Lịch Sử” là cái thằng đéo nào phản động thế, sao không lôi cổ nó ra bắn quách hay bắt đi cải tạo?
Nhưng “thằng” ấy là ai, muốn bắn, muốn bắt đi cải tạo hay công bằng hơn là truy tố ra tòa thì phải có tên có tuổi cụ thể chứ?
Phải có ông quan nào đó ở Hải Phòng ký giấy phê duyệt thì vỉa hè trước trụ sở Sở Tài nguyên & Môi trường mới thành bãi đổ xe chứ?
Phải có sự chia chác giữa nhóm lợi ích nào đó với quan chức nào đó thì các trạm BOT mới mọc lên ngang phè chứ?
Phải có nhóm quan nào đó phù phép để biến nhà mượn của dân làm cơ quan thành nhà riêng của mình thì dân mới vác đơn kêu oan và đòi nhà suốt mấy chục năm chứ?
Rõ ràng phải có tên, có tuổi, chó chức vụ cụ thể chứ không thể nói khơi khơi “do lịch sử”.
Cũng như “tồn tại” giữa Phi trường Tân Sơn Nhất.
Theo Tướng Chiêm thì “việc xây dựng sân golf đã được thủ tướng chính phủ và 7 bộ ngành liên quan phê duyệt, chấp thuận” thì vấn để phải làm tới nơi tới chốn là ông thủ tướng nào đã phê? Bộ trưởng nào đã duyệt? Và ông “ngành trưởng” nào đã ký?
Tạm gọi bọn này là “đảng sân golf” và đê tuy tìm lại lịch của đám này, chúng ta phải tìm hiểu hành tung của chúng và “lịch sử” của Tân Sơn Nhất.
“Đảng sân golf”
Cuối năm 2007, do áp lực quá tải, ngành hàng không đề nghị chính phủ cắt lô đất quân sự rộng 30 ha “nhàn rỗi” làm chỗ đáp máy bay và nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gật đầu đồng ý cái rụp. Nhưng cánh quân sự không chịu nên Dũng phải chiều, trở mặt 180 độ để ký quyết định 1946/2009 “về quy hoạch sân golf”.
Bánh ít trao đi, bánh quy trao lại và năm 2010 khi sinh mạng chính trị Dũng ở trong tình thế chuông treo sợi chỉ vì vụ Vinashin thì chính phe quân đội đã nhảy ra ứng cứu. Tại diễn đàn quốc hội, nhiều đại biểu đòi lôi cổ thủ tướng ra hạch tội nhưng rồi phe quân đội đã nhảy ra phản pháo: dẫu gì thủ tướng cũng là… thủ tướng, không thể có kiểu phê bình chỉ trích thủ tướng theo kiểu này.
Sinh họat bề nổi tại quốc hội, cơ quan chẳng có thực chất quyền lực mà đã thể thì cuộc đấu đá trong chốn thâm cung còn dữ dội đến nhường nào. Không rõ phe quân đội dàn trận thế nào, và Dũng quyến biến ra sao, kết quả Đại hội đảng thứ 11 (tháng 1 năm 2011) làm nhiều nhà bình luận thời cuộc chưng hửng: Dũng chuyển bại thành thắng, không chỉ thoát nạn mà còn chiến thắng vẻ vang!
Nhưng đến năm 2015, trước nhu cầu khẩn cấp về bãi đỗ và thấy dư luận kêu quá, phía quân đội cũng cảm chột dạ hay kỳ kỳ sao đó nên nhường cho ngành hàng không 7.3 ha. Dĩ nhiên đây chỉ là muối bỏ biển và phần đất “trả lấy thảo” này chẳng thấm vào đâu, Tân Sơn Nhất vẫn phải hoạt động trong cảnh quá tải, nhiều chuyến bay đến nơi phải bay lòng vòng chờ trên không cả tiếng đồng hồ tốn kém vô cùng lớn, gây mất an toàn và làm nản lòng nhiều hãng hàng không quá cảnh.
Tháng Tám năm câu chuyện lại bùng lên khi “dư luận” yêu cầu “Ủy ban kiểm tra Trung ương đảng” vào cuộc. Như có sự đạo diễn, bật đèn xanh từ trên, vấn đề lại làm nóng các diễn đàn, từ các phóng sự trên báo hay các cuộc thảo luận tại các cuộc “gặp mặt cử tri”. Sau nhiều tuần tranh cãi, ngày 21.2.2017 quân đội tạm lui một bước, trả 21 ha đất bằng cách chuyển Lữ đoàn 918 và Trung đoàn 917 không quân về Biên Hòa.
Chúng ta thấy gì ở đây?
Bọn họ có thể dời hai trung đoàn không quân bảo vệ Sài Gòn là “thủ đô kinh tế” nhưng không chịu dời cái sân golf. Rõ ràng thế lực của “đảng sân golf” này có thể khuynh loát cả vận mạng quốc gia. Sự việc càng khiến dư luận bất bình hơn, báo chí càng tấn công ráo riết hơn và phút mong đợi đã đến.
Chiều tối ngày 12.6.2017, Thủ tướng Phúc công bố quyết định: “khẩn trương nghiên cứu làm thêm đường băng số 3 tại phi trường Tân Sơn Nhất”.
Tuy nhiên ít ai chú ý đến sự trùng hợp này: ngay sau tuyên bố của Phúc, có vẻ như phe quân đội đã phản công bằng vụ Đồng Tâm. Tối 13.6.2017 Ban An ninh của Công an Hà Nội Nội công bố quyết định “khởi tố” người dân xã Đồng Tâm, thuộc huyện Mỹ Đức, ngoại thành Hà Nội, dù trước đó ngày 22.4.2018 chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung, đã cam kết với bằng văn bản là sẽ không truy tố họ,
Điểm đầu tiên ai cũng có thể thấy là quyết định trên đã “nhổ” vào mặt ông Chung. Ông này trước đây là Thiếu tướng Giám đốc Công An Hà Nội, Ban an ninh Công an Hà Nội khó mà qua mặt cựu giám đốc của mình nếu không có sự giật dây của các thể lực còn cao hơn ông ta.
Thế lực này phải đứng về phe nhóm lợi ích quân đội vì cuộc tranh của nông dân Đồng Tâm là liên quan đến kế hoạch thu tóm đất đai của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), công ty viễn thông trực thuộc Bộ Quốc phòng, là tập đoàn kinh doanh duy nhất có tổng giám đốc là một ủy viên trung ương đảng và có tổng thu nhập 2 tỷ Mỹ kim (2015).
“Chính phủ lấy Tân Sơn Nhất từ trong tay tôi à? Ừ, thì cũng được, nhưng nhớ nhé, chúng tôi sẽ không nhả Đồng Tâm ra đâu!”, phải chăng đó là thông điệp của phe quân đội?
Quân đội phải phục tùng quốc gia nhưng qua các thông tin trên chúng ta đã thấy là quốc gia phải phục tùng quân đội, và do đó tài sản quốc gia đã trở thành túi riêng của quân đội!
Vấn đề này đã khởi sự như thế nào?
“Đất quân đội”
Đó là tên một tiểu mục trong Chương 18: “Tam nhân phân quyền”, trong cuốn Bên thắng cuộc - - Quyển II: Quyền bính của Huy Đức. Xin trích một vài đoạn có những thông tin liên quan:
Tướng Lê Đức Anh có một quyết định khác làm đổi đời nhiều sỹ quan, đó là quyết định lấy đất doanh trại và đất mà các đơn vị quân đội đang nắm giữ ở các thành phố như Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ, Đã Nẵng… chia cho cán bộ xây nhà…
[…] Ông Lê Văn Năm, khi ấy là Viện trưởng Viện Quy hoạch Thành phố Hồ Chí Minh, nói: “Thành phố biết trước những khu đất này sẽ được chuyển giao cho mục tiêu dân sự nên muốn chủ động quy hoạch để phát triển đồng bộ. Nhưng, những năm 1987, 1988, mỗi lần vào khu vực Tân Sơn Nhất hay Hoàng Hoa Thám, chúng tôi đều phải xin phép trước. Chủ tịch Thành phố Phan Văn Khải dặn: Giữ thân, Lê Văn Năm ơi. Tôi đến Quân khu 7 xin cho làm quy hoạch, làm không công, tôi nói: Làm xong sẽ trình các anh trước. Nhưng chỉ khi chia đất, xây nhà xong, quân đội mới giao cho Thành phố. Chúng tôi lại phải điều chỉnh quy hoạch, khép mối các tuyến đường vừa mở”.
[…] Theo ông Lê Văn Năm, khi Thành phố trình phương án Quy hoạch Tổng mặt bằng, dự kiến bắc bốn cây cầu qua sông Sài Gòn ở hướng Thủ Thiêm, ông Lê Đức Anh nói: “Tại sao các cậu đòi nhiều cầu thế, trước nay Sài Gòn chỉ có một cầu cũng đủ kia mà!”. Theo quy định, Bộ Chính trị trực tiếp xem xét và quyết định quy hoạch của những thành phố như Hà Nội, Sài Gòn. Thay vì dự báo mức tăng trưởng để phát triển hạ tầng tương ứng, các nhà quy hoạch phải “vẽ” một thành phố chỉ với quy mô dân số mà Bộ Chính trị phê duyệt. Theo ông Lê Văn Năm: “Năm 1993, Bộ Chính trị yêu cầu khống chế quy hoạch Thành phố ở quy mô 5 triệu dân. Khi đó, chúng tôi đã thấy là không thể nào đáp ứng yêu cầu. Năm 1998, Bộ Chính trị phải đồng ý điều chỉnh quy mô dân số Thành phố lên 10 triệu”.
Trở lại với Tân Sơn Nhất thì thời Việt Nam Cộng Hòa Phi trường này có tổng diện tích 3,000 ha, trong đó vành đai phòng thủ với những cọc rào kẽm gai bên ngoài chiếm một diện tích khá lớn. Đây là điều dễ hiểu vì phi trường này là mục tiêu của bao nhiêu trận tấn công ác liệt.
Sau năm 1975 quân đội “tiếp thu” toàn bộ các căn cứ quân sự và doanh trại của quân đội miền Nam, trong dó có phần đất trên của Tân Sơn Nhất. Như đã thấy ở trên, khi Lê Đức Anh lên làm Bộ trưởng quốc phòng (1987 – 1991) thì tài sản quốc gia trở thành tài sản riêng của Bộ Quốc phòng. Có quyền, kẻ từng là cai đồn điền cao su này đã xem đất này như là cái… đồn điền riêng của quân đội nên cho phân lô, cấp cho các sĩ quan quân đội.
Không rõ trong chủ trương này Tân Sơn Nhất bị teo tóp bao nhiêu, nhưng nếu nói về lịch sử “cắt xẻ” Tân Sơn Nhất, chúng ta phải bắt đầu từ Anh.
Từ bước đi của Anh, Tân Sơn Nhất ngày càng teo tóp. Nó không còn là mục tiêu của các cuộc tấn công quân sự như trước năm 1975 nữa nhưng “vành đai phòng thủ” của Không quân VNCH xưa bị biến thành “vành đai lợi nhuận” của nhóm lợi ích quân đội, chi riêng phần bị “chuyển đổi mục đích” thành sân golf, nhà hàng, khách sạn đã rộng đến 175 ha.
Dĩ nhiên chuyện cắt xẻ phi trường để dẫn đến cái sân golf hiện tại còn nhiều mắc mứu khác. Sân golf được xây dựng vào năm 2010, trực tiếp liên quan đến cha con Phùng Quang Thanh – Phùng Quang Hải nhưng đầu mối của sự cắt xẻ là từ Anh.
Tướng Chiêm nói cái sân golf ấy là “do lịch sử để lại” nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể nhận diện ra ngay: ngoài Lê Đức Anh ra thì có ai khác “trồng khoai đất này”?
Nhưng ông tướng này còn để lại chuyện “do lịch sử” nhức nhối khác, trong đó đau nhức nhất là “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử”.
“Gạc Ma - Vòng tròn bất tử”
Đó tên là cuốn sách tập hợp từ các bài báo do nhiều nhà báo thực hiện, chủ biên là Lê Mã Lương, Thiếu tướng, cựu Giám đốc Bảo tàng Quân đội, thời chiến từng được phong “Anh hùng Lực lượng vũ trang”.
Các bài báo này nói về 64 bộ đội Hải quân Nhân dân Việt Nam bị bọn “bành trướng bá quyền Trung Quốc” sát hại ngày 14.3.1988 trên đảo Gạc Ma, sau khi bị cấp trên ra lệnh là “tuyệt đối không được nổ súng”.
Trên đã ra lệnh vậy, họ trở thành những bia sống cho quân Trung Quốc nả đạn và trận đánh “cố ý thua” này đã xoay chuyển hẳn thế cờ Biển Đông. Từ chỗ “không đất cắm dùi” tại Trường Sa, Trung Quốc đã chiếm cứ đảo này vả mở rộng sự hiện diện, tiến đến việc xây dựng các đảo nhân tạo ngày nay, uy hiếp nghiêm trọng an ninh của Việt Nam.
Cuốn sách trên được công ty First News thực hiện năm 2014 với mục đích “tưởng nhớ 64 liệt sĩ hy sinh tại bãi đá san hô Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa Việt Nam ngày 14.3.1988”, dự tính sẽ phát hành vào ngày 27.7.2014, tức ngày “Thương binh Liệt sĩ”.
Thế nhưng sau mãi đến nay, sau khi chuyền tay qua 13 nhà xuất bản khác nhau, Cục Xuất bản vẫn không cho phép với lý do rất mơ hồ, lãng nhách. Thí dụ lúc Nhà xuất bản Thuận Hóa và Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM đồng ý in sách thì Cục Xuất bản bác bỏ vì hai nhà xuất bản này “không có chức năng in các sách lịch sử về quân đội”.
Lý do rất dễ hiểu: cuốn sách này chẳng khác nào nào một bản cáo trạng gián tiếp hạch tội Lê Đức Anh?
Cáo trạng này đã được chính Tướng Lương phơi bày vào ngày 14.6.2014 trong cuộc hội thảo “Minh Triết Biển Đông”. Video bài phát biểu đã được ghi lại và đưa trên mạng youtube. Trong cuộc hội thảo Tướng Lương không nêu đích danh mà chỉ nói “một đồng chí lãnh đạo cấp cao”.
Dĩ nhiên, Lê Đức Anh – lúc đó là Bộ trưởng Quốc phòng - là người duy nhất có quyền ra lệnh bộ đội không được nổ súng.
Theo Tướng Lương thì trong cuộc họp của Bộ chính trị diễn ra sau đó, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch - người có lập trường chống Trung Quốc – đã đập bàn chất vấn: “Ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?
Các nguồn tin “thâm cung” khác cũng xác nhận việc này, cho biết trong cuộc họp trên ông Thạch đã đứng dậy chỉ vào mặt Anh chất vấn: “Nó không có gì, anh lại tạo cho nó chỗ đứng ở Trường Sa, làm thay đổi hẳn bàn cờ chiến lược, hình thành thế xôi đỗ rất nguy hiểm”.
Tuy nhiên lúc đó Anh có sự ủng hộ của Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười. Đây là ba nhân vật chủ chốt trong vụ “đi đêm” với Trung Quốc trong Hội Nghị Thành Đô 1990. Cả ba đã nhận áp lực từ Trung Cộng là loại bỏ Nguyễn Cơ Thạch vì quan điểm chống Trung Quốc. Sau đó năm 1992 Lê Đức Anh trở thành chủ tịch nước.
Hiện đã về hưu nhưng Anh vẫn tiếp tục thao túng chính trường, sử dụng vây cánh của mình ở để ngăn chặn việc phơi bày tội bán nước, cụ thể ở đây là tội cố ý làm mất Gạc Ma.
Tại sao cuốn sách trên không được xuất bản, chẳng lẽ phải giải thích là “do lịch sử để lại”?
Hơn ai hết, với Tướng Lê Chiêm thì cái cụm từ “Thằng anh Lịch sử nói trên trở nên cực kỳ hàm súc.
Là Thượng tướng, lại là kẻ đi sau, Tướng Chiêm phải xem bậc Đại tướng đi trước mình là bậc đàn anh: từ “anh” trong cụm từ này có thể hiểu như như một danh từ chung viết thường: “Thằng anh Lịch Sử”
Nhưng bậc đàn anh này cũng có tên có tuổi và từ này có thể hiểu danh từ riêng viết hoa “Thằng Anh Lịch Sử”.
Bất luận trường hợp nào, “anh” viết thường hay “Anh” viết hoa đều có lý cả, nhân vậy này đều đáng gọi là “thằng” – “thằng bố láo” hay “thằng phản động” -- như lời lẽ của ông già trong câu chuyện tiếu lâm xã hội chủ nghĩa nói trên. Đó là kẻ đáng để thế hệ đi sau sỉ vả như là kẻ đi trước bất tài, bất trí, bất nghĩa và bất đạo.
Thân làm tướng mà đánh trận “cố ý thua”, để mặc lính của mình cho quân thù nhắm bắn như những tấm bia thịt; đã vậy, bao nhiêu năm qua y lại cố tình ém nhẹm, thậm chí cấm cản cả việc hương khói họ? Bất nhân và bất nghĩa như thế, y có khác nào thứ “anh” rất đáng để em mình sỉ vả như là thứ “ăn thịt người không cần chấm muối”?
Để bảo vệ xã hội chủ nghĩa và cũng là bảo vệ các lô đất mà mình đã tự chia cho mình, y chọn con đường đầu hàng và mở cửa cho kẻ thù thò chân vào Biển Đông, uy hiếp nghiêm trọng an ninh và chủ quyền quốc gia của mình. Cái nước cờ chính trị mà y vận dụng này cũng đốn mạt không thua như hành vi của kẻ đào xương cha lên chẻ làm quân bài mạt chược để ngồi xoa với kẻ thù! [2]
Chú thích
[1] Đã ngưng mọi hoạt động xây dựng trong sân golf Tân Sơn Nhất, Huy Thịnh, baos Tiền Phong ngày 23 tháng 06 năm 2017
[2] Sau trận Gạc Ma, Lê Đức Anh đã lọt mắt xanh của Bắc Kinh và là kẻ “se duyên” để đi đến vụ bán nước mang tên “Hội nghị Thành Đô”.
Trung Quốc đã chủ động xúc tiến Hội nghị này để gài bẫy Việt Nam và nhân vật đầu tiên được nhắm là Anh.
Thay vì đến gặp Ngọai trưởng Nguyễn Cơ Thạch, ngày 21.10.1989 Đại sứ TQ tại Việt Nam Trương Đức Duy trực tiếp tới Bộ Quốc phòng gặp Bộ truởng Lê Đức Anh, tỏ ý muốn nói chuyện thẳng với nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Ngay sáng hôm sau, Linh đến Nhà khách Bộ Quốc phòng hội kiến với Duy tại Nhà khách Bộ Quốc phòng. Sau nhiều vòng quan lại, Linh đã đến Thành Đô vào tháng 9 năm 1990 và đẩy Việt Nam vào vòng phụ thuộc Trung Quốc.
Người viết đã nảy ra mấy ý trên ngay sau khi đọc qua bản tin về báo cáo của Thượng tướng Lê Chiêm trước Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong buổi làm việc tại Sài Gòn ngày 23.6.2017. Tướng Chiêm là Thứ trưởng Quốc phòng, đã báo cáo với thủ tướng chuyện “sân golf trong Phi trường Tân Sơn Nhất”, cho biết vấn đề này “là do yếu tố lịch sử để lại” và “việc xây dựng sân golf đã được thủ tướng chính phủ và 7 bộ ngành liên quan phê duyệt, chấp thuận.” [1] “Do lịch sử để lại” nhưng sao còn liên quan đến “thủ tướng và 7 bộ ngành”? Sự tréo ngoe này bắt chúng ta nghĩ đến ý niệm tréo ngoe “Thằng anh Lịch Sử”. Nếu cụm từ này có hai “tứ” là “thằng anh” và “thằng Lịch Sử” thì để hiểu rõ lý do, chúng ta cần điểm tên qua từng… “thằng” một. Thứ nhất là “thằng anh”. Hiếm ai gọi anh mình là “thằng” cả, trừ phi anh ta này là kẻ chẳng ra gì về mặt trí tuệ hay đạo nghĩa, hoặc cả hai. Giao tiếp ở đời, thỉnh chúng ta lại nghe ai đó lôi anh mình ra mắng: “Thằng anh của tôi nó ngu quá…” rồi kể ra một loạt những hành động ngu đần của anh ta, nào là để kẻ khác cướp hết đất, hết nhà, nào là để vợ con bán đứng mình, cắm sừng mình v.v... Lại có kẻ hậm hực vì ông anh của mình là kẻ bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu, xem máu mủ trong nhà không ra gì, lại a tòng với người ngoài mà dày xéo mồ mả hương linh của ông bà, tổ tiên: “Thằng anh của tôi là thứ trời không dung, đất không tha, thứ ăn thịt người mà không cần chấm muối, chỉ trừ bộ xương của cha tôi nó chưa đào lên chẻ ra làm quân bài mạt chược thôi, không có việc gì mà nó không từ...” “Thằng anh” thì đại khái như vậy. Còn “thằng Lịch Sử” thì đã đi vào văn học dân gian hiện đại như là một danh từ riêng, là một trong những chuyện tiếu lâm giúp dân ta xả xú bắp khá hiệu quả trong cái thời ăn cơm độn nhưng phải hùng hục “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Chuyện kể rằng một anh cán bộ Mặt Trận xã về thôn vận động nhân dân đôn đốc con em tham gia nghĩa vụ quân sự và xuất tiền mua công trái để xây dựng Thủy Điện Thác Bà. Sau khi nêu hai chỉ tiêu thật cao mà huyện đã giao cho xã, anh cán bộ này hùng hồn: “Lịch sử đã giao phó thì bà con xã ta hãy gánh nhận, lịch sử đang nhìn vào thì mong rằng bà con xã ta hãy tiếp tục truyền thống vung đất cách mạng, lịch sử đang mong đợi thì bà con xã ta hãy…”. Anh ta đang ngon trớn đọc bài đã luyện sẵn thì một cụ già thuộc lại “có công với cách mạng” đứng phắt dậy, hầm hầm, nói như muốn nhảy vào họng anh ta: “Lịch Sử là cái thằng bố láo nào mà giao cho xã ta chỉ tiêu cao như thế”. “Thằng Lịch Sử phản động” Nếu theo dõi thật kỹ ngôn từ của báo chí chính thống thì “Lịch Sử” không chỉ là một “thằng bố láo” mà còn phản động nữa. Vì bao nhiêu “tồn tại” của chế độ ta đều do nó mà ra cả. Các đồng chí lãnh đạo đảng nhà nước -- hay các thư ký, trợ lý viết diễn văn -- có thói xấu là hay dẫm lên các quy tắc ngữ pháp để “trái khoáy hóa” tiếng Việt. Xã hội có gì bất ý, tiêu cực, tóm lại là những điều làm cho các quan chức lãnh đạo cảm thấy xấu hổ, là thứ mà về mặt ngữ pháp chúng ta phải diễn đạt bằng một danh từ, họ lại ngang phè gói gọn nó bằng động từ “tồn tại”. Hậu quả là bài diễn văn “tổng kết” hay “đánh giá tình hình chung” nào cũng… tồn tại cái sáo ngữ “biết rồi khổ quá nói mãi”: “Bên cạnh những biến chuyển tích cực (hay ‘ưu điểm’, ‘tiến bộ’ v.v..) vẫn còn một số tồn tại nhất định”. Một trong những “tồn tại nhất định” đang làm xã hội sục sôi là cái sân golf Tân Sơn Nhất. Máy bay kẹt đường bay trên trời hay kẹt bãi đỗ: mặc; giao thông kẹt cứng bên ngoài phi trường, mặc; trời mưa nước ngập phi đạo, cũng mặc: cái sân golf và hàng loạt quán nhậu nhà hàng phục vụ vẫn tà tà… tồn tại. Tại sao “tồn tại” ấy có thể… tồn tại ngay giữa vị trí trọng yếu của quốc gia đang bị áp lưc quá tải qua nhiều năm như vậy? Theo lời của Tướng Chiêm thì cơn cớ là “do lịch sử”! Thử mang lời vàng ý ngọc của Tướng Chiêm đi google, chúng ta sẽ tìm thấy “lịch sử” trở thành một thứ thân tằm gánh chịu trăm dâu với các bài báo như thế này: - Lạm phát vụ trưởng, vụ phó ở Bộ KH&ĐT: 'Do lịch sử để lại' - Một sở có 6 phó giám đốc: Do lịch sử để lại? - Tồn tại về nhà đất do lịch sử để lại - khó cũng phải làm – - Trạm thu phí đặt nhầm chỗ: Do lịch sử để lại – - Vỉa hè trước cổng Sở TNMT Hải Phòng thành bãi đỗ xe: Do lịch sử để lại - Lương giáo viên mầm non không đủ sống do... lịch sử để lại - Hơn 20 người họ hàng cùng làm 'quan' một xã là do... lịch sử để lại ... Bổ nhiệm anh em và vây cánh tràn lan: “do lịch sử để lại”; xây trạm thu phí BOT tùy hứng khiến dân kêu trời: “do lịch sử để lại”; cả cái vỉa hè thành bãi đỗ xe hay lương không đủ sống, cũng là “do lịch sử để lại”. “Nếu cần thì Satan cũng có thể viện dẫn kinh thánh” còn các quan chức của chế độ ta thì đụng đâu cũng lôi đầu lịch sử ra trút bỏ trách nhiệm. Nói tóm lại, toàn bộ những yếu tố chính trị - xã hội khiến dân ta oán thán, khiến đất nước ta lạc hậu thua sút các láng giềng từng thua kém láng giềng từng thua xa mình đều là do “lịch sử” cả! Nếu cụ già trong chuyện tiếu lâm kia xuất hiện, cụ sẽ quá tháo rằng “Lịch Sử” là cái thằng đéo nào phản động thế, sao không lôi cổ nó ra bắn quách hay bắt đi cải tạo? Nhưng “thằng” ấy là ai, muốn bắn, muốn bắt đi cải tạo hay công bằng hơn là truy tố ra tòa thì phải có tên có tuổi cụ thể chứ? Phải có ông quan nào đó ở Hải Phòng ký giấy phê duyệt thì vỉa hè trước trụ sở Sở Tài nguyên & Môi trường mới thành bãi đổ xe chứ? Phải có sự chia chác giữa nhóm lợi ích nào đó với quan chức nào đó thì các trạm BOT mới mọc lên ngang phè chứ? Phải có nhóm quan nào đó phù phép để biến nhà mượn của dân làm cơ quan thành nhà riêng của mình thì dân mới vác đơn kêu oan và đòi nhà suốt mấy chục năm chứ? Rõ ràng phải có tên, có tuổi, chó chức vụ cụ thể chứ không thể nói khơi khơi “do lịch sử”. Cũng như “tồn tại” giữa Phi trường Tân Sơn Nhất. Theo Tướng Chiêm thì “việc xây dựng sân golf đã được thủ tướng chính phủ và 7 bộ ngành liên quan phê duyệt, chấp thuận” thì vấn để phải làm tới nơi tới chốn là ông thủ tướng nào đã phê? Bộ trưởng nào đã duyệt? Và ông “ngành trưởng” nào đã ký? Tạm gọi bọn này là “đảng sân golf” và đê tuy tìm lại lịch của đám này, chúng ta phải tìm hiểu hành tung của chúng và “lịch sử” của Tân Sơn Nhất. “Đảng sân golf” Cuối năm 2007, do áp lực quá tải, ngành hàng không đề nghị chính phủ cắt lô đất quân sự rộng 30 ha “nhàn rỗi” làm chỗ đáp máy bay và nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gật đầu đồng ý cái rụp. Nhưng cánh quân sự không chịu nên Dũng phải chiều, trở mặt 180 độ để ký quyết định 1946/2009 “về quy hoạch sân golf”. Bánh ít trao đi, bánh quy trao lại và năm 2010 khi sinh mạng chính trị Dũng ở trong tình thế chuông treo sợi chỉ vì vụ Vinashin thì chính phe quân đội đã nhảy ra ứng cứu. Tại diễn đàn quốc hội, nhiều đại biểu đòi lôi cổ thủ tướng ra hạch tội nhưng rồi phe quân đội đã nhảy ra phản pháo: dẫu gì thủ tướng cũng là… thủ tướng, không thể có kiểu phê bình chỉ trích thủ tướng theo kiểu này. Sinh họat bề nổi tại quốc hội, cơ quan chẳng có thực chất quyền lực mà đã thể thì cuộc đấu đá trong chốn thâm cung còn dữ dội đến nhường nào. Không rõ phe quân đội dàn trận thế nào, và Dũng quyến biến ra sao, kết quả Đại hội đảng thứ 11 (tháng 1 năm 2011) làm nhiều nhà bình luận thời cuộc chưng hửng: Dũng chuyển bại thành thắng, không chỉ thoát nạn mà còn chiến thắng vẻ vang! Nhưng đến năm 2015, trước nhu cầu khẩn cấp về bãi đỗ và thấy dư luận kêu quá, phía quân đội cũng cảm chột dạ hay kỳ kỳ sao đó nên nhường cho ngành hàng không 7.3 ha. Dĩ nhiên đây chỉ là muối bỏ biển và phần đất “trả lấy thảo” này chẳng thấm vào đâu, Tân Sơn Nhất vẫn phải hoạt động trong cảnh quá tải, nhiều chuyến bay đến nơi phải bay lòng vòng chờ trên không cả tiếng đồng hồ tốn kém vô cùng lớn, gây mất an toàn và làm nản lòng nhiều hãng hàng không quá cảnh. Tháng Tám năm câu chuyện lại bùng lên khi “dư luận” yêu cầu “Ủy ban kiểm tra Trung ương đảng” vào cuộc. Như có sự đạo diễn, bật đèn xanh từ trên, vấn đề lại làm nóng các diễn đàn, từ các phóng sự trên báo hay các cuộc thảo luận tại các cuộc “gặp mặt cử tri”. Sau nhiều tuần tranh cãi, ngày 21.2.2017 quân đội tạm lui một bước, trả 21 ha đất bằng cách chuyển Lữ đoàn 918 và Trung đoàn 917 không quân về Biên Hòa. Chúng ta thấy gì ở đây? Bọn họ có thể dời hai trung đoàn không quân bảo vệ Sài Gòn là “thủ đô kinh tế” nhưng không chịu dời cái sân golf. Rõ ràng thế lực của “đảng sân golf” này có thể khuynh loát cả vận mạng quốc gia. Sự việc càng khiến dư luận bất bình hơn, báo chí càng tấn công ráo riết hơn và phút mong đợi đã đến. Chiều tối ngày 12.6.2017, Thủ tướng Phúc công bố quyết định: “khẩn trương nghiên cứu làm thêm đường băng số 3 tại phi trường Tân Sơn Nhất”. Tuy nhiên ít ai chú ý đến sự trùng hợp này: ngay sau tuyên bố của Phúc, có vẻ như phe quân đội đã phản công bằng vụ Đồng Tâm. Tối 13.6.2017 Ban An ninh của Công an Hà Nội Nội công bố quyết định “khởi tố” người dân xã Đồng Tâm, thuộc huyện Mỹ Đức, ngoại thành Hà Nội, dù trước đó ngày 22.4.2018 chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung, đã cam kết với bằng văn bản là sẽ không truy tố họ, Điểm đầu tiên ai cũng có thể thấy là quyết định trên đã “nhổ” vào mặt ông Chung. Ông này trước đây là Thiếu tướng Giám đốc Công An Hà Nội, Ban an ninh Công an Hà Nội khó mà qua mặt cựu giám đốc của mình nếu không có sự giật dây của các thể lực còn cao hơn ông ta. Thế lực này phải đứng về phe nhóm lợi ích quân đội vì cuộc tranh của nông dân Đồng Tâm là liên quan đến kế hoạch thu tóm đất đai của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), công ty viễn thông trực thuộc Bộ Quốc phòng, là tập đoàn kinh doanh duy nhất có tổng giám đốc là một ủy viên trung ương đảng và có tổng thu nhập 2 tỷ Mỹ kim (2015). “Chính phủ lấy Tân Sơn Nhất từ trong tay tôi à? Ừ, thì cũng được, nhưng nhớ nhé, chúng tôi sẽ không nhả Đồng Tâm ra đâu!”, phải chăng đó là thông điệp của phe quân đội? Quân đội phải phục tùng quốc gia nhưng qua các thông tin trên chúng ta đã thấy là quốc gia phải phục tùng quân đội, và do đó tài sản quốc gia đã trở thành túi riêng của quân đội! Vấn đề này đã khởi sự như thế nào? “Đất quân đội” Đó là tên một tiểu mục trong Chương 18: “Tam nhân phân quyền”, trong cuốn Bên thắng cuộc - - Quyển II: Quyền bính của Huy Đức. Xin trích một vài đoạn có những thông tin liên quan: “Tướng Lê Đức Anh có một quyết định khác làm đổi đời nhiều sỹ quan, đó là quyết định lấy đất doanh trại và đất mà các đơn vị quân đội đang nắm giữ ở các thành phố như Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ, Đã Nẵng… chia cho cán bộ xây nhà… […] Ông Lê Văn Năm, khi ấy là Viện trưởng Viện Quy hoạch Thành phố Hồ Chí Minh, nói: “Thành phố biết trước những khu đất này sẽ được chuyển giao cho mục tiêu dân sự nên muốn chủ động quy hoạch để phát triển đồng bộ. Nhưng, những năm 1987, 1988, mỗi lần vào khu vực Tân Sơn Nhất hay Hoàng Hoa Thám, chúng tôi đều phải xin phép trước. Chủ tịch Thành phố Phan Văn Khải dặn: Giữ thân, Lê Văn Năm ơi. Tôi đến Quân khu 7 xin cho làm quy hoạch, làm không công, tôi nói: Làm xong sẽ trình các anh trước. Nhưng chỉ khi chia đất, xây nhà xong, quân đội mới giao cho Thành phố. Chúng tôi lại phải điều chỉnh quy hoạch, khép mối các tuyến đường vừa mở”. […] Theo ông Lê Văn Năm, khi Thành phố trình phương án Quy hoạch Tổng mặt bằng, dự kiến bắc bốn cây cầu qua sông Sài Gòn ở hướng Thủ Thiêm, ông Lê Đức Anh nói: “Tại sao các cậu đòi nhiều cầu thế, trước nay Sài Gòn chỉ có một cầu cũng đủ kia mà!”. Theo quy định, Bộ Chính trị trực tiếp xem xét và quyết định quy hoạch của những thành phố như Hà Nội, Sài Gòn. Thay vì dự báo mức tăng trưởng để phát triển hạ tầng tương ứng, các nhà quy hoạch phải “vẽ” một thành phố chỉ với quy mô dân số mà Bộ Chính trị phê duyệt. Theo ông Lê Văn Năm: “Năm 1993, Bộ Chính trị yêu cầu khống chế quy hoạch Thành phố ở quy mô 5 triệu dân. Khi đó, chúng tôi đã thấy là không thể nào đáp ứng yêu cầu. Năm 1998, Bộ Chính trị phải đồng ý điều chỉnh quy mô dân số Thành phố lên 10 triệu”. Trở lại với Tân Sơn Nhất thì thời Việt Nam Cộng Hòa Phi trường này có tổng diện tích 3,000 ha, trong đó vành đai phòng thủ với những cọc rào kẽm gai bên ngoài chiếm một diện tích khá lớn. Đây là điều dễ hiểu vì phi trường này là mục tiêu của bao nhiêu trận tấn công ác liệt. Sau năm 1975 quân đội “tiếp thu” toàn bộ các căn cứ quân sự và doanh trại của quân đội miền Nam, trong dó có phần đất trên của Tân Sơn Nhất. Như đã thấy ở trên, khi Lê Đức Anh lên làm Bộ trưởng quốc phòng (1987 – 1991) thì tài sản quốc gia trở thành tài sản riêng của Bộ Quốc phòng. Có quyền, kẻ từng là cai đồn điền cao su này đã xem đất này như là cái… đồn điền riêng của quân đội nên cho phân lô, cấp cho các sĩ quan quân đội. Không rõ trong chủ trương này Tân Sơn Nhất bị teo tóp bao nhiêu, nhưng nếu nói về lịch sử “cắt xẻ” Tân Sơn Nhất, chúng ta phải bắt đầu từ Anh. Từ bước đi của Anh, Tân Sơn Nhất ngày càng teo tóp. Nó không còn là mục tiêu của các cuộc tấn công quân sự như trước năm 1975 nữa nhưng “vành đai phòng thủ” của Không quân VNCH xưa bị biến thành “vành đai lợi nhuận” của nhóm lợi ích quân đội, chi riêng phần bị “chuyển đổi mục đích” thành sân golf, nhà hàng, khách sạn đã rộng đến 175 ha. Dĩ nhiên chuyện cắt xẻ phi trường để dẫn đến cái sân golf hiện tại còn nhiều mắc mứu khác. Sân golf được xây dựng vào năm 2010, trực tiếp liên quan đến cha con Phùng Quang Thanh – Phùng Quang Hải nhưng đầu mối của sự cắt xẻ là từ Anh. Tướng Chiêm nói cái sân golf ấy là “do lịch sử để lại” nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể nhận diện ra ngay: ngoài Lê Đức Anh ra thì có ai khác “trồng khoai đất này”? Nhưng ông tướng này còn để lại chuyện “do lịch sử” nhức nhối khác, trong đó đau nhức nhất là “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử”. “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử” Đó tên là cuốn sách tập hợp từ các bài báo do nhiều nhà báo thực hiện, chủ biên là Lê Mã Lương, Thiếu tướng, cựu Giám đốc Bảo tàng Quân đội, thời chiến từng được phong “Anh hùng Lực lượng vũ trang”. Các bài báo này nói về 64 bộ đội Hải quân Nhân dân Việt Nam bị bọn “bành trướng bá quyền Trung Quốc” sát hại ngày 14.3.1988 trên đảo Gạc Ma, sau khi bị cấp trên ra lệnh là “tuyệt đối không được nổ súng”. Trên đã ra lệnh vậy, họ trở thành những bia sống cho quân Trung Quốc nả đạn và trận đánh “cố ý thua” này đã xoay chuyển hẳn thế cờ Biển Đông. Từ chỗ “không đất cắm dùi” tại Trường Sa, Trung Quốc đã chiếm cứ đảo này vả mở rộng sự hiện diện, tiến đến việc xây dựng các đảo nhân tạo ngày nay, uy hiếp nghiêm trọng an ninh của Việt Nam. Cuốn sách trên được công ty First News thực hiện năm 2014 với mục đích “tưởng nhớ 64 liệt sĩ hy sinh tại bãi đá san hô Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa Việt Nam ngày 14.3.1988”, dự tính sẽ phát hành vào ngày 27.7.2014, tức ngày “Thương binh Liệt sĩ”. Thế nhưng sau mãi đến nay, sau khi chuyền tay qua 13 nhà xuất bản khác nhau, Cục Xuất bản vẫn không cho phép với lý do rất mơ hồ, lãng nhách. Thí dụ lúc Nhà xuất bản Thuận Hóa và Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM đồng ý in sách thì Cục Xuất bản bác bỏ vì hai nhà xuất bản này “không có chức năng in các sách lịch sử về quân đội”. Lý do rất dễ hiểu: cuốn sách này chẳng khác nào nào một bản cáo trạng gián tiếp hạch tội Lê Đức Anh? Cáo trạng này đã được chính Tướng Lương phơi bày vào ngày 14.6.2014 trong cuộc hội thảo “Minh Triết Biển Đông”. Video bài phát biểu đã được ghi lại và đưa trên mạng youtube. Trong cuộc hội thảo Tướng Lương không nêu đích danh mà chỉ nói “một đồng chí lãnh đạo cấp cao”. Dĩ nhiên, Lê Đức Anh – lúc đó là Bộ trưởng Quốc phòng - là người duy nhất có quyền ra lệnh bộ đội không được nổ súng. Theo Tướng Lương thì trong cuộc họp của Bộ chính trị diễn ra sau đó, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch - người có lập trường chống Trung Quốc – đã đập bàn chất vấn: “Ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?” Các nguồn tin “thâm cung” khác cũng xác nhận việc này, cho biết trong cuộc họp trên ông Thạch đã đứng dậy chỉ vào mặt Anh chất vấn: “Nó không có gì, anh lại tạo cho nó chỗ đứng ở Trường Sa, làm thay đổi hẳn bàn cờ chiến lược, hình thành thế xôi đỗ rất nguy hiểm”. Tuy nhiên lúc đó Anh có sự ủng hộ của Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười. Đây là ba nhân vật chủ chốt trong vụ “đi đêm” với Trung Quốc trong Hội Nghị Thành Đô 1990. Cả ba đã nhận áp lực từ Trung Cộng là loại bỏ Nguyễn Cơ Thạch vì quan điểm chống Trung Quốc. Sau đó năm 1992 Lê Đức Anh trở thành chủ tịch nước. Hiện đã về hưu nhưng Anh vẫn tiếp tục thao túng chính trường, sử dụng vây cánh của mình ở để ngăn chặn việc phơi bày tội bán nước, cụ thể ở đây là tội cố ý làm mất Gạc Ma. Tại sao cuốn sách trên không được xuất bản, chẳng lẽ phải giải thích là “do lịch sử để lại”? Hơn ai hết, với Tướng Lê Chiêm thì cái cụm từ “Thằng anh Lịch sử nói trên trở nên cực kỳ hàm súc. Là Thượng tướng, lại là kẻ đi sau, Tướng Chiêm phải xem bậc Đại tướng đi trước mình là bậc đàn anh: từ “anh” trong cụm từ này có thể hiểu như như một danh từ chung viết thường: “Thằng anh Lịch Sử” Nhưng bậc đàn anh này cũng có tên có tuổi và từ này có thể hiểu danh từ riêng viết hoa “Thằng Anh Lịch Sử”. Bất luận trường hợp nào, “anh” viết thường hay “Anh” viết hoa đều có lý cả, nhân vậy này đều đáng gọi là “thằng” – “thằng bố láo” hay “thằng phản động” -- như lời lẽ của ông già trong câu chuyện tiếu lâm xã hội chủ nghĩa nói trên. Đó là kẻ đáng để thế hệ đi sau sỉ vả như là kẻ đi trước bất tài, bất trí, bất nghĩa và bất đạo. Thân làm tướng mà đánh trận “cố ý thua”, để mặc lính của mình cho quân thù nhắm bắn như những tấm bia thịt; đã vậy, bao nhiêu năm qua y lại cố tình ém nhẹm, thậm chí cấm cản cả việc hương khói họ? Bất nhân và bất nghĩa như thế, y có khác nào thứ “anh” rất đáng để em mình sỉ vả như là thứ “ăn thịt người không cần chấm muối”? Để bảo vệ xã hội chủ nghĩa và cũng là bảo vệ các lô đất mà mình đã tự chia cho mình, y chọn con đường đầu hàng và mở cửa cho kẻ thù thò chân vào Biển Đông, uy hiếp nghiêm trọng an ninh và chủ quyền quốc gia của mình. Cái nước cờ chính trị mà y vận dụng này cũng đốn mạt không thua như hành vi của kẻ đào xương cha lên chẻ làm quân bài mạt chược để ngồi xoa với kẻ thù! [2] Chú thích [1] Đã ngưng mọi hoạt động xây dựng trong sân golf Tân Sơn Nhất, Huy Thịnh, baos Tiền Phong ngày 23 tháng 06 năm 2017 http://www.tienphong.vn/xa-hoi/da-ngung-moi-hoat-dong-xay-dung-trong-san-golf-tan-son-nhat-1160804.tpo [2] Sau trận Gạc Ma, Lê Đức Anh đã lọt mắt xanh của Bắc Kinh và là kẻ “se duyên” để đi đến vụ bán nước mang tên “Hội nghị Thành Đô”. Trung Quốc đã chủ động xúc tiến Hội nghị này để gài bẫy Việt Nam và nhân vật đầu tiên được nhắm là Anh. Thay vì đến gặp Ngọai trưởng Nguyễn Cơ Thạch, ngày 21.10.1989 Đại sứ TQ tại Việt Nam Trương Đức Duy trực tiếp tới Bộ Quốc phòng gặp Bộ truởng Lê Đức Anh, tỏ ý muốn nói chuyện thẳng với nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Ngay sáng hôm sau, Linh đến Nhà khách Bộ Quốc phòng hội kiến với Duy tại Nhà khách Bộ Quốc phòng. Sau nhiều vòng quan lại, Linh đã đến Thành Đô vào tháng 9 năm 1990 và đẩy Việt Nam vào vòng phụ thuộc Trung Quốc.
Lê Trọng Hiệp

Về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Một số năm gần đây, nhiều văn bản của Trung ương, và gần nhất là nghị quyết TW 4 khóa XII, khi nói về vấn đề suy thoái của một bộ phận cán bộ đảng viên, đã nhấn mạnh cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng còn các cách hiểu không giống nhau. Đó là lý do khiến tôi muốn tiếp cận vấn đề này, mong góp vài ý kiến để bạn đọc tham khảo.

TS Vũ Ngọc Hoàng.
“Tự” là tự mình, do mình, chứ không phải do ai bắt mình phải thế. Tự mình thì mình phải chịu trách nhiệm chứ không đổ lỗi cho ai, tức là loại trừ nguyên nhân kẻ khác phá ta. Phá là việc của họ, còn tự diễn biến, tự chuyển hóa là việc của chính ta, tự ta, do ta. Nhưng “tự diễn biến” muốn nói ở đây là “tự” của ai? Theo tôi, không phải là của nhân dân. Nhân dân không có “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trách nhiệm trực tiếp trong việc này nếu để xảy ra sẽ thuộc về nhà nước và đảng cầm quyền, chứ không phải do nhân dân.
Trước đây ít năm ta hay nói về việc phải cảnh giác các âm mưu của thế lực thù địch và cơ hội chính trị tác động lôi kéo nhân dân theo hướng “diễn biến hòa bình” nhằm thay đổi chế độ chính trị. Nhưng đó là nói về “diễn biến hòa bình”. Còn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tôi hiểu là nói về hệ thống chính trị, trước nhất là cán bộ của hệ thống chính trị ấy. Mà cán bộ không có chức vụ quan trọng thì dù cá nhân người ấy có thay đổi cũng không dễ gì chuyển hóa được ai. Đáng lo và đáng đề phòng nhiều, chính là cán bộ có chức quyền, nhất là cấp chiến lược.
Thế giới và cuộc sống quanh ta không đứng yên, không cố định, không bất biến, mà ngược lại nó phải vận động, biến đổi liên tục, không ngừng. Vận động là phương thức tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng. Đó là quy luật tất yếu của cuộc sống. Tự diễn biến, tự chuyển hóa cũng là một sự vận động, do vậy, nó cũng là tất yếu khách quan. Ba mươi năm qua, Đảng CSVN đã chủ trương đổi mới. Hiện tại cũng đang chủ trương phải tiếp tục đổi mới, mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn. Chủ trương đó là đúng, rất đúng, không có gì phải bàn cãi. Trong quá trình thực hiện đổi mới, ta đã độc lập tư duy, tự mình nghĩ ra việc này, việc khác và cũng tự mình tổ chức thực hiện để thay đổi. Tự là đúng, là chủ động, không bị động. Đó là tự đổi mới. Bản thân việc tự đổi mới cũng là tự diễn biến, tự chuyển hóa đó thôi. Cho nên, việc tự diễn biến, tự chuyển hóa cũng là đương nhiên, tất yếu, và không hàm ý là xấu hay tốt. Để nói nó tốt hay xấu thì phải xem thử nó diễn biến theo hướng nào. Hướng nào đó sẽ là tốt, là cần thiết. Hướng nào đó sẽ là xấu, là nguy hại, phải ngăn ngừa. Và cũng có hướng không tốt, không xấu, đó là trạng thái tạm thời. Trong một số văn bản chính thống, cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường viết trong ngoặc kép. Tôi nghĩ thế là đúng, hàm ý muốn chỉ ra một xu hướng không lành mạnh, một xu hướng xấu, phải đề phòng, phải ngăn ngừa, chứ không phải là tự diễn biến, tự chuyển hóa một cách bình thường.
Như đoạn trên đã nói, biến đổi không ngừng là một tất yếu, là yêu cầu nội tại, tự nó, của sự vật, và xã hội. Trong thời kỳ quá độ, sự biến đổi như vậy càng nhiều hơn. Mọi việc không thể đứng yên. Nếu không tốt thì sẽ xấu. Vì vậy, cần phải tốt, để không bị xấu. Muốn có sự biến đổi theo hướng tốt, không bị rơi vào xu hướng xấu thì phải liên tục dẫn dắt và tác động theo hướng tốt. Tích cực đổi mới, kể cả thường xuyên và căn bản, theo đúng hướng, có cơ sở khoa học-khách quan, là cách tốt nhất để không rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu. Cuộc sống biến đổi liên tục, không đổi mới thì tất yếu sẽ tha hóa. Sự bảo thủ và trì trệ giam cầm cuộc sống, kìm hãm nó, trong khi cuộc sống nhất thiết không chịu đứng yên, phải vùng vẫy để thoát ra, vậy là mâu thuẩn và xung đột, mà rồi trước sau gì cũng phải mở lối đi cho cuộc sống tiến lên. Tốt nhất là nên chủ động đổi mới sớm, không để bị động. Không thể khác được. Không chống lại quy luật được. Trong lịch sử, mọi triều đại đã phải đi qua, chỉ có sự thật bướng bỉnh thì còn ở lại. Không nhận thức rõ điều đó, mà cứ bảo thủ, không chịu đổi mới, không đủ nhạy bén để chủ động thúc đẩy theo hướng đi đúng thì đến một lúc nhất định sẽ phải trả giá đắt. Thậm chí là đổ vỡ.
Thế nào là tự diễn biến, tự chuyển hóa theo hướng tốt? Đó là sự vận động tự nhiên, theo đúng quy luật khách quan, với sự lành mạnh về động cơ, với các quyết định có đủ cơ sở khoa học, đem lại lợi ích chính đáng, hiệu quả, bình đẳng cho từng con người và cho cả cộng đồng xã hội. Mấy năm trước cũng có một số ý kiến cho rằng có những người tuy có “lợi ích nhóm” nhưng họ có khả năng đổi mới thì nên giao cho họ làm, tham nhũng đủ rồi thì không tham nhũng nữa, còn tốt hơn là không “lợi ích nhóm” nhưng bảo thủ trì trệ? Tôi đã có lần viết và trả lời phỏng vấn là coi chừng “gởi trứng cho ác”. Đó là một kiểu suy nghĩ không trên nền tảng của văn hóa. Chẳng thể nào có thể dẫn dắt xã hội đi theo hướng tốt bằng những động cơ xấu, cá nhân chủ nghĩa và bè phái vụ lợi. Đạo đức là cái gốc. Đó là ý kiến của bác Hồ, và cũng là tư duy khoa học. Đạo đức là cái cốt lõi của văn hóa. Văn hóa là những gì thuộc về con người, là dấu vết của con người “in” trong tự nhiên, là tính người, chất người, là chữ “Người” viết hoa. Không có đạo đức thì mất tính người, mất chất người. Không thể trao gởi cơ đồ, sự nghiệp của dân tộc và đất nước vào tay những con người vô đạo đức. Đừng nghe họ lập luận kiểu mị dân. Mặt khác, chỉ có động cơ tốt chưa chắc thúc đẩy được xã hội theo hướng tốt. Nếu như chủ quan, bảo thủ, bất chấp khoa học, không đủ nhạy bén và thông minh để nhìn ra lẽ đúng thì cũng có thể sai lầm, dẫn xã hội đi theo hướng xấu, thậm chí là đến bờ vực của sụp đổ, dù không cố tình như vậy. Trong trường hợp đó, vẫn là có lỗi, thậm chí là có tội với nhân dân, dù có thể không phải động cơ xấu, mà chỉ là do không đủ trí tuệ, năng lực và lòng dũng cảm.
Thế nào là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu? Nguyên nhân tại đâu và ngăn ngừa cách nào? Để nói sự diễn biến và chuyển hóa ấy là xấu hay tốt thì phải căn cứ vào kết quả, hậu quả do nó gây ra. Thực tiễn là cơ sở để kiểm nghiệm chân lý. Tốt xấu là khách quan. Các ý muốn chủ quan bảo thủ, duy ý chí không phải là căn cứ để khẳng định tốt xấu, dù cho nó đã được ghi trong nhiều văn bản. Kết quả thực tế và cơ sở khoa học mới là căn cứ để đánh giá. Nhưng đối với một sự vật hay hiện tượng đang diễn biến, đang chuyển hóa thì chưa có kết quả thực tế cuối cùng để đánh giá là tốt hay xấu, mà đợi cho đến khi có kết quả cuối cùng thì quá lâu hoặc phải trả giá quá đắc, vì vậy, đối với các trường hợp ấy, căn cứ chủ yếu, và trong nhiều trường hợp là căn cứ duy nhất, để đánh giá tốt xấu, đó là các cơ sở khoa học và tư duy lô-gic. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, một người nào đó, chỉ một mình, ngồi trong phòng làm thí nghiệm, vẫn có thể tìm ra được chân lý. Còn trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, sự tiếp cận chân lý chủ yếu phải bằng tranh luận, đối thoại bình đẳng, thông qua các hội thảo, các diễn đàn khoa học và thông qua thực chứng (nếu có thể). Nói vậy để thấy rằng, để đánh giá sự diễn biến và chuyển hóa cần phải có cách tiếp cận mở, chứ không phải áp đặt bằng ý chí chủ quan. Đối với xã hội VN hiện tại, xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đáng lo nhất không phải là từ ý nghĩ, tư tưởng mà là do hành động, từ hành động. Tất nhiên, phần lớn hành động của con người đều gắn với những suy nghĩ, tư tưởng; các quan điểm sai trái nếu lan rộng cũng dẫn đến “tự diễn biến”. Nhưng cái “tự diễn biến” nguy hiểm nhất chính là hành động trên thực tế, chứ không phải lời nói. Đối với luật pháp tiến bộ thì suy nghĩ không cấu thành tội phạm. Suy nghĩ, tư tưởng của con người là cái tự do. Xã hội không thể không có tự do về tư tưởng. Chỉ có chế độ toàn trị mới quản lý, giám sát tư tưởng của con người. Mà toàn trị là thứ chống lại tự do - giá trị thiêng liêng đối với cuộc sống của con người. Toàn trị không phải là chế độ dân chủ và tiến bộ, mà là một chế độ lạc hậu, xa lạ và trái ngược với CNXH. CNXH phải là dân chủ và tự do, chứ không phải là toàn trị. Nếu cứ bám theo hướng của chế độ toàn trị thì thực chất đó là sự chệch hướng khỏi mục tiêu XHCN, rời bỏ CNXH. Phải đề phòng nhiều lúc cái “phi XHCN” lại nhân danh CNXH. Cần phải có tư duy sắc bén trước những vấn đề như vậy. Không nhầm lẫn cái nó nhân danh với bản chất thực của chính nó.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm nhất chính là sự thoái hóa về chính trị do “lợi ích nhóm” gây nên. Ban đầu, các “nhóm lợi ích” nói chung, không phải đã có mục đích xấu về chính trị, mà chỉ là do lòng tham quá lớn, nặng chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Từ đó, đồng tiền làm tha hóa họ về đạo đức. Đạo đức là giá trị lõi của văn hóa. Đạo đức hỏng tức là nền tảng văn hóa hỏng. Mặt khác, đạo đức của cán bộ hỏng thì dẫn đến chất lượng của hệ thống chính trị giảm và niềm tin của mọi người đối với Đảng và Nhà nước không còn. Khi chất lượng của hệ thống chính trị suy giảm nghiêm trọng và niềm tin của nhân dân không còn tức là nền tảng chính trị đổ vỡ và do đó, chế độ chính trị không còn chỗ dựa để tồn tại. Về bản chất thì các “nhóm lợi ích” mâu thuẩn với nhau, không thống nhất được, do luôn có xung đột lợi ích. Tuy nhiên, có những thời điểm, khi lãnh đạo Đảng và Nhà nước quyết liệt thực thi pháp luật về chống tham nhũng thì, do sự mất còn về “lợi ích” cá nhân và sinh mạng chính trị, các “nhóm lợi ích” có thể sẽ thỏa hiệp và liên kết với nhau để đối phó và bằng mọi cách nhằm chống lại các cơ quan lãnh đạo. Kể cả việc họ sử dụng một bộ phận truyền thông để tác động thông tin nhằm làm cho dư luận lẫn lộn “trắng-đen”, “phải-trái”, kể cả họ xuyên tạc ý nghĩa và mục đích của cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng và Nhà nước phát động và lãnh đạo. Họ xuyên tạc rằng, đây là “nhóm này đánh nhóm kia”, nhằm tác động tư tưởng gây khó cho việc thực hiện chủ trương chống tham nhũng và bảo vệ cho “nhóm lợi ích”. Khi cần và nếu có thể được thì họ cũng sẵn sàng thay đổi lãnh đạo để bảo vệ cho quyền lợi bất chính của họ. Đây không phải là sự đổi mới trong sáng vì lợi ích chung và hầu hết sự thay đổi như thế sẽ hình thành chế độ độc tài, thối nát, do “maphia-lợi ích nhóm” chi phối. Như vậy, quá trình đó bắt đầu là chuyện kinh tế, tiếp theo là văn hóa và cuối cùng thành chuyện chính trị. Nếu giới hạn vấn đề ở mức thấp hơn, chỉ có tham nhũng và “nhóm lợi ích”, đương nhiên đã gắn với cán bộ có chức quyền, và dừng lại ở đó, không đi xa hơn về chính trị, thì bản thân việc phá hỏng niềm tin cũng đã là chính trị rồi.
Tự diễn biến, tự chuyển hóa là một sự thay đổi, tự thay đổi, mà chủ yếu muốn nói ở đây là đối với lĩnh vực chính trị, có thể theo hướng tốt, hoặc theo hướng xấu. Tốt xấu là so với cái gì, căn cứ vào cái gì để nói tốt hay xấu? Thường thì mọi người vẫn hay lấy ý muốn chủ quan của mình để làm căn cứ. Phương pháp tiếp cận đó chưa phải là khoa học. Những ý muốn chủ quan, giáo điều, bảo thủ, không đủ cơ sở khoa học, thì chưa phải là căn cứ khoa học, cùng lắm thì đó cũng mới là ý kiến tư biện có lô-gich. Nếu diễn biến và chuyển hóa theo hướng tốt thì chẳng có gì đáng phải lo ngại. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đáng lo là sự thay đổi của chế độ chính trị theo hướng xấu, nói cách khác đó là một sự thoái hóa nghiêm trọng về chính trị. Thế nào là sự thoái hóa về chính trị? Trước tiên thử xem thế nào là một nền chính trị tốt? Đó phải là một nền chính trị chân chính, dân chủ và tự do, dân là chủ, do nhân dân làm chủ, nhà nước là công cụ bảo vệ và phục vụ nhân dân, bảo đảm đầy đủ các quyền con người và quyền dân chủ, con người được thật sự tự do về tư tưởng, về ngôn luận và các quyền tự do khác trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chính trị ổn định và tác động tích cực cho kinh tế phát triển, văn hóa lành mạnh và nhân văn, mọi người hạnh phúc. Nếu tự diễn biến, tự chuyển hóa theo hướng tạo ra một nền chính trị tốt như vừa nói thì chẳng có gì đáng ngại, mà là cần thiết, là mong muốn, kể cả phải thúc đẩy nữa. Đó mới là XHCN chân chính. Còn nếu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu, xa rời mục tiêu một nền chính trị tốt, để hình thành một nền chính trị không chân chính, dã hiệu và mị dân, mất dân chủ, nhân dân không được làm chủ, không có tự do, không được nhà nước bảo vệ và phục vụ, mà là đối tượng bị cai trị, bị ức hiếp, tham nhũng và “lợi ích nhóm” tràn lan, các “nhóm lợi ích” thâu tóm kinh tế và chính trị, xã hội bị phân hóa giàu-nghèo bất hợp lý và gây nên mất ổn định, gia tăng sự bất bình và mâu thuẫn xã hội, cuộc sống của nhân dân không có hạnh phúc, thì cái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” kiểu ấy chúng ta không cần, phải ngăn chặn, phải phòng chống. Xa rời mục tiêu của một nền chính trị tốt để chuyển theo hướng một nền chính trị xấu, đấy chính là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phê phán và đề phòng; cũng chính là sự chệch hướng, xa rời mục tiêu XHCN chân chính và khoa học. Tôi muốn dùng chữ “chân chính” và “khoa học” để phân biệt với “CNXH” giả hiệu và ngộ nhận, ảo tưởng. Điều đó là rất đáng lưu ý, bởi vì, như tôi hiểu, trong tư duy cũ, từ Liên-xô và Trung Quốc đã tác động vào Việt Nam ta, cách hiểu, cách nghĩ về CNXH có nhiều điều không đúng khoa học, không đúng theo cách tư duy của K.Marx, đến nay qua đổi mới ta đã điều chỉnh khá nhiều, nhưng vẫn còn không ít vấn đề cần phải đổi mới nữa, một cách căn bản (sẽ bàn sau, trong các chuyên đề khác).
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu do cái gì gây nên? Có ý kiến muốn nhấn mạnh nguyên nhân do sai lầm về nhận thức. Có nguyên nhân ấy thật! Nhưng nếu đó là nhận thức của một người bình thường thì tác động không nhiều, vì họ không có quyền lực để áp đặt, và vì nhận thức của cộng đồng xã hội có tư duy không dễ bị mê hoặc, lừa phỉnh. Cái đáng lo là nhận thức của lãnh đạo, của những người có quyền lực, có thể áp đặt tư duy của mình lên cộng đồng. Như vậy, cái chính ở đây là lãnh đạo phải lo giữ mình, chứ không phải bận tâm nhiều về việc các cá nhân nào đó nói ý kiến khác lãnh đạo. Nói đi rồi cũng phải nói lại để góp cho cái nhìn toàn diện hơn. Một người nào đó nói khác ý kiến lãnh đạo thì lãnh đạo hoàn toàn có quyền phản biện và tranh luận để làm rõ chân lý. Đó là sự phản biện khoa học, rất cần thiết. Chứ tại sao không? Tại sao người khác thì được nói ý kiến phản biện của mình còn nhà lãnh đạo thì không được? Nếu vậy thì mất dân chủ ngược. Thật là không công bằng khi thấy một nhà lãnh đạo nào đó có ý kiến phản biện lại, tranh luận lại thì cho rằng ông ấy mất dân chủ, ông ấy áp đặt. Chỉ có điều là, đối với khoa học, thì phải khách quan và bình đẳng, lãnh đạo hay người bình thường đều bình đẳng như nhau, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng ý kiến khác mình, không ai áp đặt cho ai, không được quy chụp nhau, đó là thái độ khoa học và ứng xử có văn hóa, biết khoan dung và rộng mở, tôn trọng sự đa dạng trong văn hóa và trong tư duy. Đó là con đường tiếp cận chân lý, con đường phát triển nhân tố con người – cái lõi quan trọng nhất đối với mọi sự phát triển, cũng như đối với những cuộc “cách mạng” xã hội sâu sắc bậc nhất. Xã hội ta rất cần những người lãnh đạo sẵn sàng đối thoại, tranh luận với mọi người. Với cách đó, các ý kiến đúng của đôi bên sẽ được lan tỏa và góp phần hoàn thiện tư duy lẫn nhau, cho cả cộng đồng. Nếu lãnh đạo có nhiều ý kiến đúng thì sự lan tỏa sẽ lớn và rất cần cho xã hội. Nếu lãnh đạo có ý kiến sai hoặc chưa đúng thì sẽ sớm được điều chỉnh, cũng là có lợi, vừa lợi cho việc chung, vừa lợi cho chính các lãnh đạo ấy. Mặt khác cũng là tạo điều kiện để nhân dân phát huy quyền dân chủ, dễ đánh giá và lựa chọn những người lãnh đạo.
Như phần trước của bài viết đã nói, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đáng lo nhất thuộc về nguyên nhân do “lợi ích nhóm” gây nên. Nó không phải từ lời nói, mà từ việc làm, từ hành động. Nó phá vỡ các nền tảng, các trật tự. Các “nhóm lợi ích” có thể vẫn nói những lời, hô to những khẩu hiệu tưởng như “quan điểm lập trường” vô cùng vững vàng. Nhưng họ làm khác. Nói kiểu này nhưng làm kiểu khác, nói một đường làm một nẻo. Đó cũng là cách hoặc do bị ngộ nhận, hoặc là “đánh lạc hướng” mà những người “ngây thơ” dễ bị lầm tưởng, mất cảnh giác. Lâu nay, khi nói đến chuyện đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì các nhà tuyên truyền thường tập trung vào những người có ý kiến khác với lãnh đạo, khác với văn bản, nghị quyết, nhất là về quan điểm, chứ ít người nhấn mạnh về “lợi ích nhóm” và nạn tham nhũng – cái đang hằng ngày hằng giờ làm sụp đổ lòng tin, tức là sụp đổ nền tảng chính trị.
Các nhà tuyên truyền thì cho rằng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là đấu tranh về quan điểm (chứ không phải hành động?). Nói quan điểm là để ngăn chặn hành động sai, mục đích chính là vậy, chứ nếu không cần quan tâm đến hành động thì lời nói chỉ là chuyện “gió bay”. Quan điểm cũng là quan trọng, quan điểm sai cũng cần phải “đấu tranh”, nhưng hành động mới là quan trọng hơn, quan trọng nhất. Khi buộc phải dùng từ “đấu tranh” về quan điểm như các văn bản chính thống đã nêu, tôi muốn viết chữ ấy trong ngoặc kép là nhằm tránh sai lầm về phương pháp mà lâu nay ta vẫn gặp. Nó là sự thuyết phục lẫn nhau chứ không phải là sự áp đặt và quy chụp, càng không được dùng biện pháp hành chính để đối phó. Trong các quan điểm khác với lãnh đạo ấy có nhiều động cơ khác nhau mà phải phân tích rất kỹ và ứng xử phù hợp mới có hiệu quả thiết thực, nếu không, đôi khi lợi bất cập hại. Có người có động cơ xấu, chống cộng cực đoan, muốn chống phá, muốn gây mất ổn định tư tưởng để dẫn đến mất ổn định chính trị, thì đúng là phải đấu tranh vạch rõ cái sai để cho mọi người cùng hiểu. Mà ngay cả đối với loại này vẫn phải có cách trình bày rõ cơ sở khoa học của vấn đề một cách thuyết phục, chứ không phải “đao to búa lớn” mà có kết quả. Trường hợp khác, đối với những người do cách hiểu, do nhận thức thì càng cần phải làm rõ cơ sở khoa học để thuyết phục nhau bằng chân lý. Chưa thuyết phục được thì thuyết phục nữa. Không đủ sức thuyết phục thì yếu kém của người nói, chứ đừng đổ lỗi cho người nghe. Trường hợp khác nữa là những ý kiến mới, khác với quan điểm đã có, khác với lãnh đạo, nhưng đúng, có cơ sở khoa học, cần được khuyến khích, trân trọng và lắng nghe một cách cầu thị, tiếp thu để hoàn thiện hoặc điều chỉnh đường lối. Đó chính là sự phản biện xã hội đối với các chủ trương đường lối mà chúng ta rất cần, trong một xã hội dân chủ. Lắng nghe những ý kiến khác ấy-đó chính là dân chủ và khoa học. Mà dân chủ và khoa học thì vừa là mục tiêu vừa là động lực. Nếu không có những ý kiến khác ấy thì xã hội sẽ một chiều, không còn sự đa dạng văn hóa, mất sức đề kháng và mất sức sống, giống như thế giới tự nhiên sẽ tàn lụi dần khi bị triệt tiêu tính đa dạng sinh học. Đừng chủ quan nghĩ rằng, mọi cái đã nêu ra đều đúng và đúng mãi. Nghĩ vậy là không duy vật, cũng chẳng biện chứng. Nói thì duy vật và biện chứng mà làm thì duy tâm và siêu hình. Thỉnh thoảng tôi thấy có bài viết hoặc nói nhân danh bảo vệ Đảng và bảo vệ chế độ, nhưng toàn đi “trên mây”, tung hô ca ngợi thành tích một chiều và cường điệu, hô vang các khẩu hiệu. Kiểu ấy chẳng những không thuyết phục được ai mà còn làm người ta chán, thậm chí nguy hiểm hơn nữa là vô tình “đẩy” đến sụp đổ khi mà tình thế đang đứng trước một bờ vực. Nếu người làm tuyên truyền không đủ trí tuệ và tầm văn hóa thì rất dễ đẩy tất cả mọi người có ý kiến khác về phía đối lập, làm cho đảng và nhà nước bị cô lập, giảm uy tín về trí tuệ và văn hóa, gây nên sự xơ cứng và thụ động cho hệ thống chính trị và cho cả xã hội, trong khi rất cần sự năng động, chủ động và liên tục khai hóa văn minh. Công tác tư tưởng, xét cho đến cùng, chỉ có lợi và đáng làm khi nó là công việc khai phá văn minh, nâng đở cái tốt và cái đẹp, chống lại sự kìm hảm lạc hậu, cái xấu và cái ác, chứ không phải là “cảnh sát tư tưởng”, làm cho một tập thể đảng và tầng lớp trí thức bị thụ động, từ đó mà lan ra làm cho một dân tộc phải thụ động. Nói gọn lại là phải khai phá văn minh, chứ không được ngu dân. Còn đối với những người hầm hồ, chưởi đổng, ngôn ngữ “chợ búa” hoặc cố tình xuyên tạc, nói xấu người khác và nói xấu các tổ chức, thì có lẽ cũng chẳng đáng ngại lắm. Tự họ đang tích cực hạ thấp và vô hiệu hóa chính họ đó thôi, kể cả đối mặt với pháp luật nữa nếu như họ vu cáo. Với trình độ dân trí của ngày nay thì nói chung cán bộ và nhân dân sẽ không khó khăn lắm để hiểu đâu là chính đâu là tà.
Chuyện tự diễn biến, tự chuyển hóa, lần này xin được góp một số ý kiến như vậy.
Quảng Nam tháng 6. 2017
Một số năm gần đây, nhiều văn bản của Trung ương, và gần nhất là nghị quyết TW 4 khóa XII, khi nói về vấn đề suy thoái của một bộ phận cán bộ đảng viên, đã nhấn mạnh cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng còn các cách hiểu không giống nhau. Đó là lý do khiến tôi muốn tiếp cận vấn đề này, mong góp vài ý kiến để bạn đọc tham khảo. TS Vũ Ngọc Hoàng. “Tự” là tự mình, do mình, chứ không phải do ai bắt mình phải thế. Tự mình thì mình phải chịu trách nhiệm chứ không đổ lỗi cho ai, tức là loại trừ nguyên nhân kẻ khác phá ta. Phá là việc của họ, còn tự diễn biến, tự chuyển hóa là việc của chính ta, tự ta, do ta. Nhưng “tự diễn biến” muốn nói ở đây là “tự” của ai? Theo tôi, không phải là của nhân dân. Nhân dân không có “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trách nhiệm trực tiếp trong việc này nếu để xảy ra sẽ thuộc về nhà nước và đảng cầm quyền, chứ không phải do nhân dân. Trước đây ít năm ta hay nói về việc phải cảnh giác các âm mưu của thế lực thù địch và cơ hội chính trị tác động lôi kéo nhân dân theo hướng “diễn biến hòa bình” nhằm thay đổi chế độ chính trị. Nhưng đó là nói về “diễn biến hòa bình”. Còn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tôi hiểu là nói về hệ thống chính trị, trước nhất là cán bộ của hệ thống chính trị ấy. Mà cán bộ không có chức vụ quan trọng thì dù cá nhân người ấy có thay đổi cũng không dễ gì chuyển hóa được ai. Đáng lo và đáng đề phòng nhiều, chính là cán bộ có chức quyền, nhất là cấp chiến lược. Thế giới và cuộc sống quanh ta không đứng yên, không cố định, không bất biến, mà ngược lại nó phải vận động, biến đổi liên tục, không ngừng. Vận động là phương thức tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng. Đó là quy luật tất yếu của cuộc sống. Tự diễn biến, tự chuyển hóa cũng là một sự vận động, do vậy, nó cũng là tất yếu khách quan. Ba mươi năm qua, Đảng CSVN đã chủ trương đổi mới. Hiện tại cũng đang chủ trương phải tiếp tục đổi mới, mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn. Chủ trương đó là đúng, rất đúng, không có gì phải bàn cãi. Trong quá trình thực hiện đổi mới, ta đã độc lập tư duy, tự mình nghĩ ra việc này, việc khác và cũng tự mình tổ chức thực hiện để thay đổi. Tự là đúng, là chủ động, không bị động. Đó là tự đổi mới. Bản thân việc tự đổi mới cũng là tự diễn biến, tự chuyển hóa đó thôi. Cho nên, việc tự diễn biến, tự chuyển hóa cũng là đương nhiên, tất yếu, và không hàm ý là xấu hay tốt. Để nói nó tốt hay xấu thì phải xem thử nó diễn biến theo hướng nào. Hướng nào đó sẽ là tốt, là cần thiết. Hướng nào đó sẽ là xấu, là nguy hại, phải ngăn ngừa. Và cũng có hướng không tốt, không xấu, đó là trạng thái tạm thời. Trong một số văn bản chính thống, cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường viết trong ngoặc kép. Tôi nghĩ thế là đúng, hàm ý muốn chỉ ra một xu hướng không lành mạnh, một xu hướng xấu, phải đề phòng, phải ngăn ngừa, chứ không phải là tự diễn biến, tự chuyển hóa một cách bình thường. Như đoạn trên đã nói, biến đổi không ngừng là một tất yếu, là yêu cầu nội tại, tự nó, của sự vật, và xã hội. Trong thời kỳ quá độ, sự biến đổi như vậy càng nhiều hơn. Mọi việc không thể đứng yên. Nếu không tốt thì sẽ xấu. Vì vậy, cần phải tốt, để không bị xấu. Muốn có sự biến đổi theo hướng tốt, không bị rơi vào xu hướng xấu thì phải liên tục dẫn dắt và tác động theo hướng tốt. Tích cực đổi mới, kể cả thường xuyên và căn bản, theo đúng hướng, có cơ sở khoa học-khách quan, là cách tốt nhất để không rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu. Cuộc sống biến đổi liên tục, không đổi mới thì tất yếu sẽ tha hóa. Sự bảo thủ và trì trệ giam cầm cuộc sống, kìm hãm nó, trong khi cuộc sống nhất thiết không chịu đứng yên, phải vùng vẫy để thoát ra, vậy là mâu thuẩn và xung đột, mà rồi trước sau gì cũng phải mở lối đi cho cuộc sống tiến lên. Tốt nhất là nên chủ động đổi mới sớm, không để bị động. Không thể khác được. Không chống lại quy luật được. Trong lịch sử, mọi triều đại đã phải đi qua, chỉ có sự thật bướng bỉnh thì còn ở lại. Không nhận thức rõ điều đó, mà cứ bảo thủ, không chịu đổi mới, không đủ nhạy bén để chủ động thúc đẩy theo hướng đi đúng thì đến một lúc nhất định sẽ phải trả giá đắt. Thậm chí là đổ vỡ. Thế nào là tự diễn biến, tự chuyển hóa theo hướng tốt? Đó là sự vận động tự nhiên, theo đúng quy luật khách quan, với sự lành mạnh về động cơ, với các quyết định có đủ cơ sở khoa học, đem lại lợi ích chính đáng, hiệu quả, bình đẳng cho từng con người và cho cả cộng đồng xã hội. Mấy năm trước cũng có một số ý kiến cho rằng có những người tuy có “lợi ích nhóm” nhưng họ có khả năng đổi mới thì nên giao cho họ làm, tham nhũng đủ rồi thì không tham nhũng nữa, còn tốt hơn là không “lợi ích nhóm” nhưng bảo thủ trì trệ? Tôi đã có lần viết và trả lời phỏng vấn là coi chừng “gởi trứng cho ác”. Đó là một kiểu suy nghĩ không trên nền tảng của văn hóa. Chẳng thể nào có thể dẫn dắt xã hội đi theo hướng tốt bằng những động cơ xấu, cá nhân chủ nghĩa và bè phái vụ lợi. Đạo đức là cái gốc. Đó là ý kiến của bác Hồ, và cũng là tư duy khoa học. Đạo đức là cái cốt lõi của văn hóa. Văn hóa là những gì thuộc về con người, là dấu vết của con người “in” trong tự nhiên, là tính người, chất người, là chữ “Người” viết hoa. Không có đạo đức thì mất tính người, mất chất người. Không thể trao gởi cơ đồ, sự nghiệp của dân tộc và đất nước vào tay những con người vô đạo đức. Đừng nghe họ lập luận kiểu mị dân. Mặt khác, chỉ có động cơ tốt chưa chắc thúc đẩy được xã hội theo hướng tốt. Nếu như chủ quan, bảo thủ, bất chấp khoa học, không đủ nhạy bén và thông minh để nhìn ra lẽ đúng thì cũng có thể sai lầm, dẫn xã hội đi theo hướng xấu, thậm chí là đến bờ vực của sụp đổ, dù không cố tình như vậy. Trong trường hợp đó, vẫn là có lỗi, thậm chí là có tội với nhân dân, dù có thể không phải động cơ xấu, mà chỉ là do không đủ trí tuệ, năng lực và lòng dũng cảm. Thế nào là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu? Nguyên nhân tại đâu và ngăn ngừa cách nào? Để nói sự diễn biến và chuyển hóa ấy là xấu hay tốt thì phải căn cứ vào kết quả, hậu quả do nó gây ra. Thực tiễn là cơ sở để kiểm nghiệm chân lý. Tốt xấu là khách quan. Các ý muốn chủ quan bảo thủ, duy ý chí không phải là căn cứ để khẳng định tốt xấu, dù cho nó đã được ghi trong nhiều văn bản. Kết quả thực tế và cơ sở khoa học mới là căn cứ để đánh giá. Nhưng đối với một sự vật hay hiện tượng đang diễn biến, đang chuyển hóa thì chưa có kết quả thực tế cuối cùng để đánh giá là tốt hay xấu, mà đợi cho đến khi có kết quả cuối cùng thì quá lâu hoặc phải trả giá quá đắc, vì vậy, đối với các trường hợp ấy, căn cứ chủ yếu, và trong nhiều trường hợp là căn cứ duy nhất, để đánh giá tốt xấu, đó là các cơ sở khoa học và tư duy lô-gic. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, một người nào đó, chỉ một mình, ngồi trong phòng làm thí nghiệm, vẫn có thể tìm ra được chân lý. Còn trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, sự tiếp cận chân lý chủ yếu phải bằng tranh luận, đối thoại bình đẳng, thông qua các hội thảo, các diễn đàn khoa học và thông qua thực chứng (nếu có thể). Nói vậy để thấy rằng, để đánh giá sự diễn biến và chuyển hóa cần phải có cách tiếp cận mở, chứ không phải áp đặt bằng ý chí chủ quan. Đối với xã hội VN hiện tại, xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đáng lo nhất không phải là từ ý nghĩ, tư tưởng mà là do hành động, từ hành động. Tất nhiên, phần lớn hành động của con người đều gắn với những suy nghĩ, tư tưởng; các quan điểm sai trái nếu lan rộng cũng dẫn đến “tự diễn biến”. Nhưng cái “tự diễn biến” nguy hiểm nhất chính là hành động trên thực tế, chứ không phải lời nói. Đối với luật pháp tiến bộ thì suy nghĩ không cấu thành tội phạm. Suy nghĩ, tư tưởng của con người là cái tự do. Xã hội không thể không có tự do về tư tưởng. Chỉ có chế độ toàn trị mới quản lý, giám sát tư tưởng của con người. Mà toàn trị là thứ chống lại tự do - giá trị thiêng liêng đối với cuộc sống của con người. Toàn trị không phải là chế độ dân chủ và tiến bộ, mà là một chế độ lạc hậu, xa lạ và trái ngược với CNXH. CNXH phải là dân chủ và tự do, chứ không phải là toàn trị. Nếu cứ bám theo hướng của chế độ toàn trị thì thực chất đó là sự chệch hướng khỏi mục tiêu XHCN, rời bỏ CNXH. Phải đề phòng nhiều lúc cái “phi XHCN” lại nhân danh CNXH. Cần phải có tư duy sắc bén trước những vấn đề như vậy. Không nhầm lẫn cái nó nhân danh với bản chất thực của chính nó. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm nhất chính là sự thoái hóa về chính trị do “lợi ích nhóm” gây nên. Ban đầu, các “nhóm lợi ích” nói chung, không phải đã có mục đích xấu về chính trị, mà chỉ là do lòng tham quá lớn, nặng chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Từ đó, đồng tiền làm tha hóa họ về đạo đức. Đạo đức là giá trị lõi của văn hóa. Đạo đức hỏng tức là nền tảng văn hóa hỏng. Mặt khác, đạo đức của cán bộ hỏng thì dẫn đến chất lượng của hệ thống chính trị giảm và niềm tin của mọi người đối với Đảng và Nhà nước không còn. Khi chất lượng của hệ thống chính trị suy giảm nghiêm trọng và niềm tin của nhân dân không còn tức là nền tảng chính trị đổ vỡ và do đó, chế độ chính trị không còn chỗ dựa để tồn tại. Về bản chất thì các “nhóm lợi ích” mâu thuẩn với nhau, không thống nhất được, do luôn có xung đột lợi ích. Tuy nhiên, có những thời điểm, khi lãnh đạo Đảng và Nhà nước quyết liệt thực thi pháp luật về chống tham nhũng thì, do sự mất còn về “lợi ích” cá nhân và sinh mạng chính trị, các “nhóm lợi ích” có thể sẽ thỏa hiệp và liên kết với nhau để đối phó và bằng mọi cách nhằm chống lại các cơ quan lãnh đạo. Kể cả việc họ sử dụng một bộ phận truyền thông để tác động thông tin nhằm làm cho dư luận lẫn lộn “trắng-đen”, “phải-trái”, kể cả họ xuyên tạc ý nghĩa và mục đích của cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng và Nhà nước phát động và lãnh đạo. Họ xuyên tạc rằng, đây là “nhóm này đánh nhóm kia”, nhằm tác động tư tưởng gây khó cho việc thực hiện chủ trương chống tham nhũng và bảo vệ cho “nhóm lợi ích”. Khi cần và nếu có thể được thì họ cũng sẵn sàng thay đổi lãnh đạo để bảo vệ cho quyền lợi bất chính của họ. Đây không phải là sự đổi mới trong sáng vì lợi ích chung và hầu hết sự thay đổi như thế sẽ hình thành chế độ độc tài, thối nát, do “maphia-lợi ích nhóm” chi phối. Như vậy, quá trình đó bắt đầu là chuyện kinh tế, tiếp theo là văn hóa và cuối cùng thành chuyện chính trị. Nếu giới hạn vấn đề ở mức thấp hơn, chỉ có tham nhũng và “nhóm lợi ích”, đương nhiên đã gắn với cán bộ có chức quyền, và dừng lại ở đó, không đi xa hơn về chính trị, thì bản thân việc phá hỏng niềm tin cũng đã là chính trị rồi. Tự diễn biến, tự chuyển hóa là một sự thay đổi, tự thay đổi, mà chủ yếu muốn nói ở đây là đối với lĩnh vực chính trị, có thể theo hướng tốt, hoặc theo hướng xấu. Tốt xấu là so với cái gì, căn cứ vào cái gì để nói tốt hay xấu? Thường thì mọi người vẫn hay lấy ý muốn chủ quan của mình để làm căn cứ. Phương pháp tiếp cận đó chưa phải là khoa học. Những ý muốn chủ quan, giáo điều, bảo thủ, không đủ cơ sở khoa học, thì chưa phải là căn cứ khoa học, cùng lắm thì đó cũng mới là ý kiến tư biện có lô-gich. Nếu diễn biến và chuyển hóa theo hướng tốt thì chẳng có gì đáng phải lo ngại. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đáng lo là sự thay đổi của chế độ chính trị theo hướng xấu, nói cách khác đó là một sự thoái hóa nghiêm trọng về chính trị. Thế nào là sự thoái hóa về chính trị? Trước tiên thử xem thế nào là một nền chính trị tốt? Đó phải là một nền chính trị chân chính, dân chủ và tự do, dân là chủ, do nhân dân làm chủ, nhà nước là công cụ bảo vệ và phục vụ nhân dân, bảo đảm đầy đủ các quyền con người và quyền dân chủ, con người được thật sự tự do về tư tưởng, về ngôn luận và các quyền tự do khác trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chính trị ổn định và tác động tích cực cho kinh tế phát triển, văn hóa lành mạnh và nhân văn, mọi người hạnh phúc. Nếu tự diễn biến, tự chuyển hóa theo hướng tạo ra một nền chính trị tốt như vừa nói thì chẳng có gì đáng ngại, mà là cần thiết, là mong muốn, kể cả phải thúc đẩy nữa. Đó mới là XHCN chân chính. Còn nếu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu, xa rời mục tiêu một nền chính trị tốt, để hình thành một nền chính trị không chân chính, dã hiệu và mị dân, mất dân chủ, nhân dân không được làm chủ, không có tự do, không được nhà nước bảo vệ và phục vụ, mà là đối tượng bị cai trị, bị ức hiếp, tham nhũng và “lợi ích nhóm” tràn lan, các “nhóm lợi ích” thâu tóm kinh tế và chính trị, xã hội bị phân hóa giàu-nghèo bất hợp lý và gây nên mất ổn định, gia tăng sự bất bình và mâu thuẫn xã hội, cuộc sống của nhân dân không có hạnh phúc, thì cái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” kiểu ấy chúng ta không cần, phải ngăn chặn, phải phòng chống. Xa rời mục tiêu của một nền chính trị tốt để chuyển theo hướng một nền chính trị xấu, đấy chính là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phê phán và đề phòng; cũng chính là sự chệch hướng, xa rời mục tiêu XHCN chân chính và khoa học. Tôi muốn dùng chữ “chân chính” và “khoa học” để phân biệt với “CNXH” giả hiệu và ngộ nhận, ảo tưởng. Điều đó là rất đáng lưu ý, bởi vì, như tôi hiểu, trong tư duy cũ, từ Liên-xô và Trung Quốc đã tác động vào Việt Nam ta, cách hiểu, cách nghĩ về CNXH có nhiều điều không đúng khoa học, không đúng theo cách tư duy của K.Marx, đến nay qua đổi mới ta đã điều chỉnh khá nhiều, nhưng vẫn còn không ít vấn đề cần phải đổi mới nữa, một cách căn bản (sẽ bàn sau, trong các chuyên đề khác). “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu do cái gì gây nên? Có ý kiến muốn nhấn mạnh nguyên nhân do sai lầm về nhận thức. Có nguyên nhân ấy thật! Nhưng nếu đó là nhận thức của một người bình thường thì tác động không nhiều, vì họ không có quyền lực để áp đặt, và vì nhận thức của cộng đồng xã hội có tư duy không dễ bị mê hoặc, lừa phỉnh. Cái đáng lo là nhận thức của lãnh đạo, của những người có quyền lực, có thể áp đặt tư duy của mình lên cộng đồng. Như vậy, cái chính ở đây là lãnh đạo phải lo giữ mình, chứ không phải bận tâm nhiều về việc các cá nhân nào đó nói ý kiến khác lãnh đạo. Nói đi rồi cũng phải nói lại để góp cho cái nhìn toàn diện hơn. Một người nào đó nói khác ý kiến lãnh đạo thì lãnh đạo hoàn toàn có quyền phản biện và tranh luận để làm rõ chân lý. Đó là sự phản biện khoa học, rất cần thiết. Chứ tại sao không? Tại sao người khác thì được nói ý kiến phản biện của mình còn nhà lãnh đạo thì không được? Nếu vậy thì mất dân chủ ngược. Thật là không công bằng khi thấy một nhà lãnh đạo nào đó có ý kiến phản biện lại, tranh luận lại thì cho rằng ông ấy mất dân chủ, ông ấy áp đặt. Chỉ có điều là, đối với khoa học, thì phải khách quan và bình đẳng, lãnh đạo hay người bình thường đều bình đẳng như nhau, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng ý kiến khác mình, không ai áp đặt cho ai, không được quy chụp nhau, đó là thái độ khoa học và ứng xử có văn hóa, biết khoan dung và rộng mở, tôn trọng sự đa dạng trong văn hóa và trong tư duy. Đó là con đường tiếp cận chân lý, con đường phát triển nhân tố con người – cái lõi quan trọng nhất đối với mọi sự phát triển, cũng như đối với những cuộc “cách mạng” xã hội sâu sắc bậc nhất. Xã hội ta rất cần những người lãnh đạo sẵn sàng đối thoại, tranh luận với mọi người. Với cách đó, các ý kiến đúng của đôi bên sẽ được lan tỏa và góp phần hoàn thiện tư duy lẫn nhau, cho cả cộng đồng. Nếu lãnh đạo có nhiều ý kiến đúng thì sự lan tỏa sẽ lớn và rất cần cho xã hội. Nếu lãnh đạo có ý kiến sai hoặc chưa đúng thì sẽ sớm được điều chỉnh, cũng là có lợi, vừa lợi cho việc chung, vừa lợi cho chính các lãnh đạo ấy. Mặt khác cũng là tạo điều kiện để nhân dân phát huy quyền dân chủ, dễ đánh giá và lựa chọn những người lãnh đạo. Như phần trước của bài viết đã nói, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đáng lo nhất thuộc về nguyên nhân do “lợi ích nhóm” gây nên. Nó không phải từ lời nói, mà từ việc làm, từ hành động. Nó phá vỡ các nền tảng, các trật tự. Các “nhóm lợi ích” có thể vẫn nói những lời, hô to những khẩu hiệu tưởng như “quan điểm lập trường” vô cùng vững vàng. Nhưng họ làm khác. Nói kiểu này nhưng làm kiểu khác, nói một đường làm một nẻo. Đó cũng là cách hoặc do bị ngộ nhận, hoặc là “đánh lạc hướng” mà những người “ngây thơ” dễ bị lầm tưởng, mất cảnh giác. Lâu nay, khi nói đến chuyện đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì các nhà tuyên truyền thường tập trung vào những người có ý kiến khác với lãnh đạo, khác với văn bản, nghị quyết, nhất là về quan điểm, chứ ít người nhấn mạnh về “lợi ích nhóm” và nạn tham nhũng – cái đang hằng ngày hằng giờ làm sụp đổ lòng tin, tức là sụp đổ nền tảng chính trị. Các nhà tuyên truyền thì cho rằng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là đấu tranh về quan điểm (chứ không phải hành động?). Nói quan điểm là để ngăn chặn hành động sai, mục đích chính là vậy, chứ nếu không cần quan tâm đến hành động thì lời nói chỉ là chuyện “gió bay”. Quan điểm cũng là quan trọng, quan điểm sai cũng cần phải “đấu tranh”, nhưng hành động mới là quan trọng hơn, quan trọng nhất. Khi buộc phải dùng từ “đấu tranh” về quan điểm như các văn bản chính thống đã nêu, tôi muốn viết chữ ấy trong ngoặc kép là nhằm tránh sai lầm về phương pháp mà lâu nay ta vẫn gặp. Nó là sự thuyết phục lẫn nhau chứ không phải là sự áp đặt và quy chụp, càng không được dùng biện pháp hành chính để đối phó. Trong các quan điểm khác với lãnh đạo ấy có nhiều động cơ khác nhau mà phải phân tích rất kỹ và ứng xử phù hợp mới có hiệu quả thiết thực, nếu không, đôi khi lợi bất cập hại. Có người có động cơ xấu, chống cộng cực đoan, muốn chống phá, muốn gây mất ổn định tư tưởng để dẫn đến mất ổn định chính trị, thì đúng là phải đấu tranh vạch rõ cái sai để cho mọi người cùng hiểu. Mà ngay cả đối với loại này vẫn phải có cách trình bày rõ cơ sở khoa học của vấn đề một cách thuyết phục, chứ không phải “đao to búa lớn” mà có kết quả. Trường hợp khác, đối với những người do cách hiểu, do nhận thức thì càng cần phải làm rõ cơ sở khoa học để thuyết phục nhau bằng chân lý. Chưa thuyết phục được thì thuyết phục nữa. Không đủ sức thuyết phục thì yếu kém của người nói, chứ đừng đổ lỗi cho người nghe. Trường hợp khác nữa là những ý kiến mới, khác với quan điểm đã có, khác với lãnh đạo, nhưng đúng, có cơ sở khoa học, cần được khuyến khích, trân trọng và lắng nghe một cách cầu thị, tiếp thu để hoàn thiện hoặc điều chỉnh đường lối. Đó chính là sự phản biện xã hội đối với các chủ trương đường lối mà chúng ta rất cần, trong một xã hội dân chủ. Lắng nghe những ý kiến khác ấy-đó chính là dân chủ và khoa học. Mà dân chủ và khoa học thì vừa là mục tiêu vừa là động lực. Nếu không có những ý kiến khác ấy thì xã hội sẽ một chiều, không còn sự đa dạng văn hóa, mất sức đề kháng và mất sức sống, giống như thế giới tự nhiên sẽ tàn lụi dần khi bị triệt tiêu tính đa dạng sinh học. Đừng chủ quan nghĩ rằng, mọi cái đã nêu ra đều đúng và đúng mãi. Nghĩ vậy là không duy vật, cũng chẳng biện chứng. Nói thì duy vật và biện chứng mà làm thì duy tâm và siêu hình. Thỉnh thoảng tôi thấy có bài viết hoặc nói nhân danh bảo vệ Đảng và bảo vệ chế độ, nhưng toàn đi “trên mây”, tung hô ca ngợi thành tích một chiều và cường điệu, hô vang các khẩu hiệu. Kiểu ấy chẳng những không thuyết phục được ai mà còn làm người ta chán, thậm chí nguy hiểm hơn nữa là vô tình “đẩy” đến sụp đổ khi mà tình thế đang đứng trước một bờ vực. Nếu người làm tuyên truyền không đủ trí tuệ và tầm văn hóa thì rất dễ đẩy tất cả mọi người có ý kiến khác về phía đối lập, làm cho đảng và nhà nước bị cô lập, giảm uy tín về trí tuệ và văn hóa, gây nên sự xơ cứng và thụ động cho hệ thống chính trị và cho cả xã hội, trong khi rất cần sự năng động, chủ động và liên tục khai hóa văn minh. Công tác tư tưởng, xét cho đến cùng, chỉ có lợi và đáng làm khi nó là công việc khai phá văn minh, nâng đở cái tốt và cái đẹp, chống lại sự kìm hảm lạc hậu, cái xấu và cái ác, chứ không phải là “cảnh sát tư tưởng”, làm cho một tập thể đảng và tầng lớp trí thức bị thụ động, từ đó mà lan ra làm cho một dân tộc phải thụ động. Nói gọn lại là phải khai phá văn minh, chứ không được ngu dân. Còn đối với những người hầm hồ, chưởi đổng, ngôn ngữ “chợ búa” hoặc cố tình xuyên tạc, nói xấu người khác và nói xấu các tổ chức, thì có lẽ cũng chẳng đáng ngại lắm. Tự họ đang tích cực hạ thấp và vô hiệu hóa chính họ đó thôi, kể cả đối mặt với pháp luật nữa nếu như họ vu cáo. Với trình độ dân trí của ngày nay thì nói chung cán bộ và nhân dân sẽ không khó khăn lắm để hiểu đâu là chính đâu là tà. Chuyện tự diễn biến, tự chuyển hóa, lần này xin được góp một số ý kiến như vậy. Quảng Nam tháng 6. 2017Vũ Ngọc Hoàng Theo Viet-Studies
Nguồn: Tạp chí Tuyên Giáo, 6/2017 (Viet-studies bôi đậm những câu nổi bật)

No comments:

Post a Comment