Friday, July 7, 2017

Bài viết hay(5143)

Sau khi Trump gặp Putin, liệu Trump có thể gầy dựng lại uy tín? Thật khó cho những người chống Trump tin rằng Trump vô tội và thực tế cho thấy nước Mỹ chia rẻ nghiêm trọng hơn từ khi Trump đắc cử. Dân Chủ vẫn chưa biết làm sao lấy lại thế thượng phong mặc dù CH vẫn không có gì khởi sắc hơn. Con voi và con lừa đều same shit khi lũ dân cử chỉ nói dóc hơn là làm ra trò. Lương cao, bổng lộc hậu hĩnh nhưng lo cho dân chỉ là ...đầu môi chót lưỡi. Chính trị Mỹ cần một đại phẩu chứ không thể duy trì sinh hoạt theo kiểu salon xôi thịt mãi được.

40 năm sau: Lich sử đang lặp lại

Có lẽ chúng ta đã tạo ra một quái vật Frankenstein”
(Richard Nixon nói với William Safire (bình luận gia của New York Times) năm 1994, trước khi chết).
40 năm sau Chiến tranh Viêt Nam, cuối cùng người Mỹ và Việt Nam đang làm những gì mà họ đáng lẽ phải làm từ năm 1978 khi nước Việt Nam thống nhất rất cần hòa giải và hợp tác với Mỹ (là kẻ thù cũ) để tái thiết và đối phó với hiểm họa mới từ Trung Cộng (là anh em bạn thù); hoặc từ năm 1945 khi nước Việt Nam mới do Ho Chi Minh đứng đầu đang cố giành sự ủng hộ của Mỹ để hóa giải sự thù nghịch của nước Pháp thực dân và Trung hoa Dân quốc; hoặc từ năm 1875 khi vua Tự Đức cử ông Bùi Viện sang Mỹ tìm kiếm sự ủng hộ để chống lại ý đồ nước Pháp thực dân muốn biến Annam thành thuộc địa. Nhưng hai nước đã để tuột mất những cơ hội lịch sử, bây giờ phải “trở về tương lai”, sau khi bị bầm dập bởi cuộc chiến tranh sai lầm đẫm máu, và lãng phí quá nhiều thời gian, sức lực và mạng sống vào những trò chơi hậu chiến điên khùng, bao gồm cái gọi là “Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba” không kém khôc liệt giữa “anh em bạn thù” và những đồng minh mới của họ.   
Đấy là phác thảo nhanh bức chân dung đầy bi kịch của quan hệ Việt-Mỹ. Thật trớ trêu là tương lai quan hệ Việt-Mỹ lại gắn liền với tương lai của Biển Đông, mà tương lai của Biển Đông nay lại gắn liền với quan hệ Trung-Việt, cũng như quan hệ Trung-Mỹ. Để làm rõ những khía cạnh đầy uẩn khúc của những mối quan hệ này, hãy bình tâm xem lại một số bối cảnh lịch sử có liên quan và một số biến chuyển gần đây, như những dấu hiệu mới.      
Ngăn chặn Trung Quốc: Trở về tương lai?   
Ai quan tâm đến lịch sử chắc vẫn nhớ 60 năm về trước (sau chiến tranh Triều Tiên và Điện Biên Phủ), Mỹ đã triển khai chiến lược Ngăn chặn Trung Cộng bằng cách sử dụng SEATO (South East Asia Treaty Organization) làm cơ chế an ninh tập thể ở Đông nam Á. Chẳng có gì sai khi Mỹ ngăn chặn Trung Quốc lúc đó cũng như bây giờ khi họ hung hăng trỗi dậy và bành trướng ở khu vực, bằng cách “xoay trục sang Châu Á” để tái cân bằng lực lượng, và sử dụng TPP (Tran-Pacific Partnership) làm khuân khổ hợp tác mới ở khu vực. Nhưng mục đích kinh tế của TPP có lẽ không quan trọng bằng mục đích chiến lược.
Nói cách khác, đây là trò “rượu cũ bình mới”. “Rượu cũ” là mối đe dọa tiềm ẩn của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán (không hề thay đổi). “Bình mới” là Trung Quốc nay áp đặt “Đường Lưỡi bò” và dùng dàn khoan để lấn chiếm Biển Đông, và ráo riết xây dựng các đảo nhân tạo và công trình quân sự tại các đảo san hô mà họ chiếm ở Hoàng Sa và Trường Sa, hòng kiểm soát Biển Đông (như “lợi ích cốt lõi”). “Rượu cũ” là Mỹ “Ngăn chặn” Trung Cộng, và “bình mới” là trò chơi TPP (thay cho “SEATO”). Quan hệ Trung-Việt đầy phức tạp vừa là đối tác chiến lược (cùng ý thức hệ), vừa là đối thủ chiến lược (do tranh chấp chủ quyền). Đó là mối quan hệ bất bình thường (vừa yêu vừa ghét) như “anh em thù địch”. Nhưng lúc này thật là dại dột và bất khả thi, nếu Việt Nam cố duy trì nguyên trạng mối quan hệ bất bình thường đó bằng cách đong đưa và đi trên dây để căn bằng quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ.   
Cách đây 60 năm, Mỹ đã ngăn chặn một Trung Quốc nghèo nàn (như con “hổ giấy”), tuy ngoài mặt thách thức Mỹ nhưng trong bụng rất muốn bắt tay. Còn bây giờ, Mỹ đang ngăn chặn một Trung Quốc giàu có như một “quái vật kinh tế và quân sự”, vừa muốn giữ nguyên trạng (bên trong), lại vừa muốn thay đổi nguyên trạng (bên ngoài), thách thức vai trò cầm đầu của Mỹ. Trước đây, Mỹ ngăn chặn Trung Quốc bằng cách đánh Việt Nam (tưởng là kẻ thù ý thức hệ). Còn bây giờ Mỹ ngăn chặn Trung Quốc đang hung hăng trỗi dậy bằng hợp tác với Việt Nam (như đối tác chiến lược mới).
Đây là một sự chuyển đổi đầy kịch tính, để sửa chữa một sai lầm lớn mà cả hai nước đã mắc phải. Chiến lược Ngăn chặn và chiến tranh Việt Nam là hai chuyện khác nhau, không nên nhầm lẫn. Đáng lẽ Mỹ không nên can thiệp vào Việt Nam bằng “một cuôc chiến tranh sai lầm, tại một địa điểm sai, vào một thời điểm sai, với một kẻ thù sai” (Omar Bradley, 1951). Nhưng phải 20 năm sau cuộc chiến, ông Robert McNamara mới công khai thừa nhận sai lầm này (trong cuốn sách xuất bản năm 1995). Thực ra, ngay từ năm 1965, ông George Ball (trợ lý ngoại trưởng) đã nhìn thấy trước một cuộc chiến sai lầm, đã cảnh báo và khuyên can tổng thống John Kennedy đừng quyết định đưa quân sang Việt Nam để can thiệp trực tiếp.
Nhưng đáng tiếc là không ai muốn nghe George Ball, mà người ta còn cười nhạo ông ấy. Theo tôi, George Ball giỏi không kém gì George Kennan. Họ là những người Mỹ thông minh, dũng cảm, có tầm nhìn xa. Nếu Chính quyền biết lắng nghe họ, thì nước Mỹ đã tránh được bao tổn thất về xương máu và nguồn lực tại Việt Nam (và Iraq sau này). Việt Nam và Iraq là những bài học đẫm máu, còn tiếp tục ám ảnh người Mỹ. Thomas Vallely (cựu chiến binh, giám đốc chương trình Việt Nam tại Harvard) đã nói rất đúng (trong tư liệu TV, 1985), “chúng ta không nên làm cái việc sai lầm là đưa thanh niên đến chỗ chết, chỉ vì lòng tự hào của mấy ông già”.   
Khi ông Archimedes Patti (cựu sĩ quan OSS) ký tặng tôi cuốn sách “Why Vietnam” (Bangkok, 1990), tôi có hỏi ông ấy, “lúc đó họ có đọc sách của ông không”. Ông Patti nói với ánh mắt buồn rầu, “chẳng ai đọc nó cả, chẳng ai nghe tao cả”. Trong một lần báo chí phỏng vấn (năm 1981), ông Patti đã nói rất rõ, “Theo tôi, chiến tranh Viêt Nam là một sự lãng phí khồng lồ. Trước hết, nó không cần phải xảy ra. Hoàn toàn không. Không đáng tí nào cả. Trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam, không ai đến gặp tôi để tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra năm 1945 hoặc 1944. Trong suốt những năm tôi làm việc ở Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại Giao, và Nhà Trắng, không một ai có quyền hành đến gặp tôi cả…”
Điều đó làm tôi nhớ lại sự kiện “Blood Telegrams” (mà chắc nhiều người đã quên). Ông Archer Blood, tổng lãnh sự Mỹ tại Dacca (thủ phủ Đông Pakistan lúc đó) đã gửi điện khẩn về Washington (ngày 6/4/1971, có 29 cán bộ ngoại giao Mỹ ký tên) cảnh báo về nạn “diệt chủng có chọn lọc” đang biến Dacca trở thành “thành phố ma” (3/4 dân số bị giết hoặc bỏ chạy). Họ công khai phản đối chính sách của Mỹ ủng hộ chính quyền quân sự (của tướng Yahya Khan) đàn áp dã man người Bengali đòi độc lập cho Bangladesh. Nhưng tổng thống Nixon và Tiến sĩ Henry Kissinger lúc đó đã lờ đi, vì muốn tướng Yahya Khan làm cầu nối với Trung Quốc để tổng thống Nixon đến Thượng Hải bắt tay Mao Chủ tịch, như một “bước ngoặt lịch sử”. Tôi xin trích một đoạn bức điện đó, “Chính phủ chúng ta đã không lên án việc đàn áp dân chủ. Chính phủ chúng ta đã không lên án tội ác. Chính phủ chúng ta đã không có biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ công dân của mình, trong khi đó ra sức làm vừa lòng chính phủ do người Tây Pakistan nắm quyền và làm giảm bớt đi mọi sức ép tiêu cực của dư luận quốc tế đối với chính phủ Pakistan. Chính phủ chúng ta đã chứng tỏ một điều mà tất cả mọi người đều coi là phá sản về đạo đức…”.  
Tham dự tích cực: Trò chơi kết thúc?  
Tôi không biết tổng thống Nixon thực sự nghĩ gì khi ông ta bắt tay Mao chủ tịch tại Shanghai năm 1972. Nhưng tôi tin ông Nixon đã một lần nói thật khi ông ấy nhận xét một cách chí lý (năm 1994, trước khi ông ấy chết), “Có lẽ chúng ta đã tạo ra một quái vật Frankenstein”. Ông Nixon lúc sắp chết đã trở thành “thiên tài”! Thực tế là phải 42 năm sau, đến tận 2014, đa số người Mỹ mới nhận ra “hệ quả không định trước” này và bắt đầu lo ngại về sự trỗi dậy “không hòa bình” của Trung Quốc (tuy vẫn tranh cãi về nguy cơ xung đột Trung-Mỹ).
Công bằng mà nói, không nên đổ lỗi cho ông Nixon vì Dr Henry Kissinger mới chính là kiến trúc sư của chính sách Trung Quốc, từ “Shanghai Communique” để cho Mỹ rút quân khỏi Việt Nam “trong danh dự” và chia sẻ quyền lực với Trung Quốc tại Đông Á, đến “Constructive Engagement” để thay thế “Containment” giúp Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình”, và “China Card” để biến Trung Quốc thành đồng minh “trên thực tế” chống Liên Xô, và cuối cùng “China Lobby” để vận động hành lang ủng hộ Trung Quốc trong mọi chuyện làm ăn khác.   
Trong nửa thế kỷ qua (nói chính xác là qua 8 đời tổng thống Mỹ, cả Cộng hòa lẫn Dân chủ), Washington vẫn cho rằng chủ trương “Can dự tích cực” là cách duy nhất để khuyến khích Trung Quốc cởi mở dần trong quá trình mà ông Kissinger gọi là “co-evolution” (hay diễn biến hòa bình) theo các giá trị của Mỹ, và “trỗi dậy trong hòa bình”. Chỉ gần đây, người Mỹ mới bắt đầu thất vọng như bị bạn tình Trung Quốc phản bội. Các chuyên gia về Trung Quốc bắt đầu nói đến sự cần thiết phải “ngăn chặn” Trung Quốc, và hai bên bắt đầu coi nhau như đối thủ (thay cho đối tác). “Đồng thuận Washinton” về lợi ích của “Constructive Engagement” bắt đầu đổ vỡ.  
Điều này làm ta nhớ lại trận Trân Châu Cảng (7/12/1941) khi hạm đội Mỹ tại đây đã bị hải quân Nhật đánh đắm, nhưng đa số người Mỹ lúc đó vẫn không tin là Nhật Bản dám khởi chiến. Có lẽ “Đồng thuận Washington” giống như một con voi quá lớn và quá chậm để dễ dàng chuyển động. Không biết người Mỹ có thật ngây thơ về Trung Quốc không, hay là cái bóng của ông Kisinger quá lớn, nhưng gần nửa thế kỷ qua, chính sách của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương vẫn xoay quanh “cái trục Trung Quốc” mà ông Kissinger đã thiết kế.
Dù nguyên nhân Trung Quốc trỗi dậy ngày càng hung hăng (như đầu gấu tại khu vực) có phải do chính sách “Can dự tích cực” hay không, thì nhiều người cho rằng Mỹ và Trung Quốc khó tránh khỏi chiến tranh lạnh (thậm chí xung đột)Gần đây, tỷ phú George Soros lập luận rằng nếu không nhân nhượng Trung Quốc về vấn đề tài chính sống còn đối với họ, thì lãnh đạo Trung Quốc có thể phải dùng đến xung đột vũ trang để tồn tại, dễ gây ra chiến tranh thế giới mới. Điều này làm ta nhớ lại chính sách “Appeasement” của chính phủ Anh (Neville Chamberlain) đã thỏa hiệp quá nhiều với Hitler (tại Munich, năm 1938). “Constructive Engagement” nếu đi quá đà, mà không có điều kiện khắt khe ràng buộc, sẽ phản tác dụng hơn cả “Appeasement”.
Michael Pillsbury (một chuyên gia kỳ cựu về Trung Quốc) nhận xét, “Trung Quốc không đạt được hầu hết những mong muốn màu hồng của chúng ta”. David  Lampton (một học giả về Trung Quốc tại Johns Hopkins) kết luận, “Quan hệ Trung-Mỹ đã đi đến chỗ đổ vỡ”. Robert Blackwill (một chuyên gia về an ninh quốc tế tại Belfer Center, Harvard) cho rằng “Constructive Engement với Trung Quốc chỉ giúp cho đối thủ mạnh lên”. Kevin Rudd (cựu thủ tướng Australia, một chuyên gia về Trung Quốc) đã tóm tắt quan điểm của người Trung Quốc về mục tiêu của Mỹ là “nhằm cô lập, ngăn chặn, làm suy yếu, phân hóa Trung Quốc, và phá hoại lãnh đạo chính trị của Trung Quốc”. Ông ấy còn khuyến nghị “Constructive Realism” để thay cho “Constructive Engagement”.
Tôi cũng không rõ liệu cao kiến của ông Kevin Rudd, tuy có thực tế hơn, nhưng liệu có hiệu quả hơn không, khi điều chỉnh quan trọng gần đây của Washington vẫn tỏ ra “quá ít và quá muộn”. Thái độ cứng rắn hơn của Mỹ (điều máy bay quân sự đến Biển Đông) là một tín hiệu tích cực và lời cảnh báo rõ ràng đối với Trung Quốc, nhưng có lẽ vẫn chưa đủ thuyết phục Bắc Kinh phải thực sự nghiêm túc, và chưa đủ thuyết phục các nước Asean đang bị Trung Quốc bắt nạt và phân hóa cần phải dựa vào Washington hơn là Bắc Kinh. Ít nhất đó là cách hiểu (không chính thức) về thái độ nhìn nhận của Trung Quốc tại Đối thoại Shangri-La gần đây (May 29-31, 2015).   
Biển Đông: Một thùng thuốc súng?
Hơn một năm nay, từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào Biển Đông và ráo riết xây dựng các công trình quân sự và đảo nhân tạo trên các đảo san hô họ chiếm tại Hoàng Sa và Trường Sa, để chuẩn bị thiết lập khu vực nhận diện phòng không, đe dọa tự do hàng hải, thì Biển Đông đã nóng lên như thùng thuốc súng. Quốc Hội Mỹ và giới nghiên cứu đã chuyển biến mạnh,  buộc Chính quyền Obama phải có thái độ cứng rắn hơn, đưa máy bay quân sự và tàu chiến vào Biển Đông để răn đe, bất chất Trung Quốc phản đối. Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế đã thực sự lo ngại. Một số nước đồng minh của Mỹ (như Japan và Australia) đã thay đổi hẳn thái độ, sẵn sàng tham gia tuần tra hải quân trên Biển Đông.   
Trong khi bức tranh địa chính trị tại khu vực thay đổi nhanh và rõ nét hơn, thì tương lại Biển Đông vẫn mù mịt và bất định. Liệu đối đầu Trung-Mỹ tại Biển Đông có dẫn đến chiến tranh thật không, hay chỉ là chiến tranh lạnh? Liệu Trung Quốc và Mỹ có thể thỏa thuận với nhau để chia sẻ quyền lực (như trước đây)? Liệu căng thẳng Trung-Việt có dẫn đến chiến tranh không, hay tiếp tục nhùng nhằng (không hòa không chiến) và Trung Quốc tiếp tục chiến thuật “cắt lát gặm dần” như “chuyện đã rồi”, không đánh vẫn thắng? Và cuối cùng, liệu sức ép của Mỹ và cộng đồng thế giới, cũng như quá trình dân chủ hóa tại Trung Quốc, có đủ sức xoay chuyển thái độ của Bắc Kinh, và hóa giải được xung đột lợi ích tại Biển Đông để biến thùng thuốc súng này thành khu vực hợp tác hòa bình và cùng khai thác?
Một số chuyên gia về Trung Quốc theo thuyết “cái bẫy Thucydides” (Graham Allison đặt tên) cho rằng xung đột Trung-Mỹ là khó tránh khỏi, và Biển Đông có thể là cái ngòi nổ cho thế chiến thứ ba. Một số khác theo thuyết phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế (phái Neo-liberalism) lập luận rằng chiến tranh Trung-Mỹ rất khó xảy ra vì hai nền kinh tế khổng lồ này đã quá phụ thuộc vào nhau, nên khả năng cùng bị hủy diệt do chiến tranh là một sự răn đe hiệu quả. Số còn lại đưa ra nhiều giả thuyết và kịch bản khác nhau, chủ yếu dựa trên phân tích học thuật, thường làm rắc rối hơn là làm sáng tỏ vấn đề, và góp phần làm cho Biển Đông nóng hơn (trên mặt báo và các diễn đàn nghiên cứu) như thêm gia vị vào các thực đơn nghiên cứu.
Graham Allison dựa vào thực tế lịch sử để rút ra quy luật, chủ yếu nhằm cảnh báo về một nguy cơ tiềm tàng khó tránh, để biết mà phòng tránh chứ không phải để kết luận như đinh đóng cột rằng chiến tranh nhất thiết sẽ xảy ra. Trong thế giới đầy biến động khôn lường và đầy biến số này, không ai có thể chắc chắn về một điều gì như hằng số.
Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia trong thế giới phẳng là một thực tế hiển nhiên. Trong trường hợp quan hệ Trung-Mỹ thì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới càng lớn hơn. Nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau càng lớn thì mâu thuận cũng càng lớn và rủi ro cũng càng cao, rất khó kiểm soát. Sự khác biệt về hệ thống giá trị cơ bản giữa hai quốc gia này như mặt trăng và mặt trời. Trong khi Mỹ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển phương tiện truyền thông xã hội, thì Trung Quốc dẫn đầu thế giới trong việc kiểm soát nó. Trong khi Mỹ muốn Trung Quốc áp dụng hệ thống giá trị của mình, thì lãnh đạo Trung Quốc coi đó là lật đổ.
Nếu cả hai xu hướng chính là “cái bẫy Thucydides” và “phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế” cùng tồn tại trong quan hệ Trung-Mỹ thì nó có thể triệt tiêu lẫn nhau, dẫn đến nhùng nhằng (không hòa không chiến) như chiến tranh lạnh kiểu mới (như xu hướng thứ ba). Nếu tình huống này thắng thế, thì Trung Quốc càng có lợi, tiếp tục “cắt lát” để gặm nhấm, biến thành “chuyện đã rồi”, và cuối cùng đạt được mục tiêu kiểm soát Biển Đông mà không tốn một viên đạn.
Có lẽ cả Trung Quốc và Mỹ đều qúa bận tâm về các vấn đề chính trị nội bộ nên muốn hướng dư luận vào các vấn đề chính trị quốc tế. Họ cũng có thể gây căng thẳng tại vài nơi trên thế giới để thử gân nhau. Nhưng có lẽ lúc này cả hai đều không muốn và không sẵn sàng chiến tranh tổng lực. Kết quả có thể là chiến tranh lạnh kiểu mới, một dạng chiến tranh nửa dơi nửa chuột (hybrid warfare) hoặc mượn tay người khác (proxy warfare). Tuy nhiên, khi căng thẳng được đẩy lên thành kịch tính thì rủi ro càng lớn, và hai bên cần một cơ chế kiểm soát rủi ro để tránh sử dụng vũ lực. Dù sao, người ta cho rằng chiến tranh lạnh vẫn còn hơn là “Thế chiến thứ 3”.
Trong khi chưa biết là chiến tranh lạnh hay thế chiến thứ ba, thì các học giả về Trung Quốc cho rằng màn chót của chế độ Trung Cộng có lẽ đã bắt đầu. Bề ngoài, Trung Quốc có vẻ giàu có và hùng mạnh, nhưng nó che đậy một hệ thống đã đổ vỡ bên trong. Không phải chỉ có ông Gordon Chang lâu nay dự báo “Trung Quốc sắp sụp đổ”, mà cả giáo sư Paul Krugman (được giải Nobel kinh tế) cũng báo động rằng “Trung Quốc đã kịch đường” (tới điểm giới hạn). Đáng chú ý là cả giáo sư David Shambaugh (một chuyên gia hàng đầu về Trung Quốc tại George Washington University) đã tuyên bố “màn chót của chế độ Trung Cộng đã bắt đầu”…
Chiến dịch “đả hổ” chống tham nhũng quyết liệt của ông Tập Cận Bình để cứu chế độ (hay củng cố địa vị) đang đẩy màn chót đến nhanh hơn. Việc tăng cường đàn áp càng bộc lộ sự rạn nứt của hệ thống và đẩy nhanh quá trình sụp đổ. Thay vì mở cửa, ông Tập Cận Bình đang tăng cường kiểm soát gấp đôi. Giới tinh hoa ở Trung Quốc sẵn sàng ra đi hàng loạt nếu hệ thống bắt đầu sụp đổ. Theo Elizabeth Economy (Council on Foreign Relations) 2/3 (hoặc 64%) người Trung Quốc có tài sản trên 1.6 triệu USD đang di cư hoặc định như vậy. 
Anh em bạn thù: Làm sao để thoát?
Định mệnh về địa lý
Dù muốn hay không, Việt Nam vẫn phải sống cạnh người láng giềng khổng lồ, như một định mệnh về địa lý, không thể thay đổi được. Vì vậy về lâu về dài, Việt Nam phải tìm cách chung sống hòa bình tử tế với các nước láng giềng, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Là một nước nhỏ hơn, muốn bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình, Việt Nam phải thay đổi và mạnh lên để Trung Quốc phải tôn trọng. Nếu Việt Nam yếu đi trong khi Trung Quốc mạnh lên, thì chắc chắn Việt Nam sẽ mất độc lập, chủ quyền vì trở thành miếng mồi ngon cho tham vọng bành trướng bá quyền Trung Quốc. Đáng tiếc tình trạng hiện nay đúng là như vậy. Không phải Việt Nam chỉ mất đất biên giới và hải đảo tại Biển Đông, mà có thể sẽ mất tất cả, để “trở về tương lai” như thời kỳ Bắc thuộc.
Tương quan lực lượng
Trung Quốc đã trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới, đang thách thức vai trò số một của Mỹ, và muốn kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc không chỉ là con quái vật kinh tế, mà còn là con quái vật quân sự và ý thức hệ, với tham vọng bành trướng bá quyền như đầu gấu trong khu vực. Họ đang lợi dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hướng dân Trung Quốc vào “Giấc mộng Trung Hoa”, hòng che đậy những mâu thuẫn cơ bản đang đe dọa sự tồn tại của chế độ. Biển Đông chỉ là một mảnh trong ván cờ lớn của họ. Trung Quốc muốn giữ chặt Việt Nam trong cái bẫy ý thức hệ, như một nước chư hầu, không được thân với Mỹ và Phương Tây. Vì vậy, Việt Nam phải mạnh lên, để thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ đó. Nếu không mạnh được như Israel, thì chung ta cũng phải đi theo hướng đó. Để khai thác được cái mỏ người hơn 90 triệu dân, chúng ta phải nâng cao dân trí, đổi mới thể chế kinh tế và chính trị. Việc này không thể một sớm một chiều mà cần vài thập kỷ. (Đáng tiếc là chúng ta đã đánh mất ít nhất bốn thập kỷ).
Chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Chủ nghĩa dân tộc luôn là động lực chính trong quan hệ quốc tế. Trong lịch sử, chủ nghĩa dân tộc Việt Nam và Trung Quốc đã chứng tỏ sức mạnh và sức sống tiềm tàng, như những đối thủ truyền kiếp. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bành trướng bá quyền là hiểm họa cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Khi chủ nghĩa dân tộc trở thành cực đoan và bá quyền, nó như con quái vật, xô đẩy các nước vào lò lửa chiến tranh. Chủ nghĩa dân tộc thường bị các chế độ độc tài thao túng để kích động lòng yêu nước và huy động dân chúng ủng hộ các tham vọng cực đoan của họ, hoặc che đậy những mâu thuẫn xã hội và xung đột nội bộ.  
Người Đức thông minh tài giỏi như vậy, nhưng cũng bị Hitler và đảng Quốc Xã cực đoan thao túng, dẫn đến thảm họa chiến tranh thế giới. Người Trung Hoa có bề dày lịch sử và văn hóa như vậy, nhưng cũng bị Mao và các phái cộng sản cực đoan thao túng, dẫn đến thảm họa Cách mạng Văn hóa. Người Khmer hiền lành như vậy, nhưng cũng bị Pol Pot và Khmer Đỏ thao túng, trở thành nạn nhân của họa diệt chủng. Nguy cơ xung đột tại Biển Đông là do chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa bành trướng bá quyền. Muốn tránh thảm họa chiến tranh và xung đột, cần phải nâng cao dân trí và dân chủ hóa.  
Dân chủ hóa  
Đối với các xã hội chuyển đổi (như Trung Quốc và Việt Nam), dân chủ hóa là quy luật tất yếu và quá trình cần thiết để xã hội phát triển. Quá trình này nhanh hay chậm tùy thuộc vào đặc điểm chính trị và xã hội của từng nước. Dân chủ hóa thường song hành với quá trình phát triển tầng lớp trung lưu và dân trí. Nó vừa là động lực để đổi mới và phát triển kinh tế, vừa là đối trọng để hạn chế chủ nghĩa cực đoan và cuồng tín. Do đặc điểm lịch sử, văn hóa phức tạp nên quan hệ Việt-Trung vừa bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bành trướng bá quyền, vừa bị trói buộc bởi ý thức hệ cộng sản cực đoan. Chỉ có dân chủ hóa và nâng cao dân trí thì Việt Nam và Trung Quốc mới có thể thoát khỏi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và nguy cơ xung đột. Sự phát triển bùng nổ của internet và truyền thông xã hội dựa trên kỹ thuật số gần đây có vai trò rất lớn trong quá trình này, như một cuộc cách mạng truyền thông.  
Cất cánh kinh tế
Tuy Trung Quốc và Việt Nam có thể chế chính trị giống nhau (do Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo), nhưng kinh tế hai nước phát triển không giống nhau, làm quan hệ trở thành bất bình đẳng và lệ thuộc. Trong khi kinh tế Trung Quốc cất cánh với tốc độ tăng trưởng 2 con số trong suốt 3 thập kỷ, thì kinh tế Việt Nam không cất cánh lên được, thậm chí còn tụt hậu. Mặc dù đều độc tài và tham nhũng, nhưng Trung Quốc đã trỗi dậy mạnh mẽ và nhanh chóng theo kinh tế thị trường, trong khi Việt Nam vẫn duy trì “định hướng XHCN”, dựa vào các doanh nghiệp nhà nước tham nhũng và yếu kém làm chủ đạo, dẫn đến thua lỗ và phá sản (như Vinashin và Vinalines). Trong khi Trung Quốc vơ vét tài nguyên khoáng sản toàn cầu để nuôi con quái vật kinh tế khổng lồ, xuất khẩu hàng hóa ra khắp thế giới để tích lũy tư bản, thì Việt Nam không công nghiệp hóa và nội địa hóa sản xuất, chỉ bán rẻ tài nguyên khoáng sản lấy tiền nhập siêu hàng tiêu dùng. Đây cũng là một bi kịch quốc gia. Nếu không thay đổi cơ bản về thể chế kinh tế và chính trị, để hội nhập vào thị trường thế giới, thì Việt Nam khó tránh khỏi lệ thuộc vào Trung Quốc và mất chủ quyền tại Biển Đông.  
Đối tác chiến lược. 
Muốn đối phó với một láng giềng lớn chuyên bắt nạt (như Trung Quốc), Việt Nam phải liên kết với đối tác chiến lược mạnh hơn (như Mỹ) làm đối trọng và răn đe. Đó là quy luật tất yếu ai cũng biết, nhưng vận dụng như thế nào là một chuyện khác. Có nhiều bài học lịch sử. Ví dụ, không nên dựa hẳn vào bên này để chống bên kia, gây thù chuốc oán, như trước đây Việt Nam đã dựa hẳn vào Trung Quốc để chống Mỹ, rồi sau này lại dựa hẳn vào Liên Xô để chống Trung Quốc. Nhưng cũng không nên có quan hệ đối tác chiến lược với quá nhiều nước, mà chẳng nước nào có khả năng đương đầu với Trung Quốc để bênh vực Việt Nam. Nó giống như câu thành ngữ “lắm mối tối nằm không”. Việc giữ cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ bằng cách đi trên dây không phải là một chiến lược lâu dài. Càng không phải là một cái cớ để trì hoãn quan hệ đối tác chiến lược sống còn với Mỹ khi Trung Quốc đã lộ rõ bộ mặt thật là mối đe dọa chung đối với khu vực. Không nên nhầm lẫn mục tiêu chiến lược với phương tiện chiến thuật. Nếu không có quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ và gia nhập TPP, Việt Nam dễ bị Trung Quốc bắt nạt và đô hộ. Muốn có quan hệ đối tác chiến lược hiệu quả, trước hết người Việt Nam phải đoàn kết và tự cường mạnh lên, để các đối tác tôn trọng và tin cậy. Quan hệ đối tác chiến lược sẽ trở thành vô nghĩa nếu không dựa trên tầm nhìn chiến lược và lòng tin chiến lược.     Nguyễn Quang Dy/ Viet-studies

Chính sách Đối ngoại Viêt Nam Giai đoạn Mới 

Ảnh minh họa. Nguồn: Asisa Observer.
Ảnh minh họa. Nguồn: Asisa Observer.
Trước cơn địa chấn chính trị với hệ quả khôn lường đang diễn ra tại Mỹ và toàn cầu, trước đám mây đen và sóng dữ tại Biển Đông, con tàu Việt Nam phải làm thế nào để thoát hiểm và vượt ra biển lớn? Đây là thách thức to lớn và cơ hội mong manh đối với Việt Nam, tại bước ngoặt lịch sử khi thế giới đang bước sang một giai đoạn mới. 
Bước ngoặt lịch sử  
Tuy đã hơn bẩy thập kỷ sau ngày độc lập (2/9/1945) và hơn bốn thập kỷ sau ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam (30/4/1975), nhưng đất nước dường như vẫn còn luẩn quẩn tại ngã ba đường của lịch sử. Việt Nam có quyết tâm đổi mới thể chế toàn diện hay không? Có thực sự đi theo con đường kinh tế thị trường và dân chủ hóa hay không? Liệu tranh luận về “hai con đường” đã đến lúc ngã ngũ, hay Việt Nam vẫn tiếp tục “đu dây”? 
Một yếu tố mới xuất hiện, như một cơn địa chấn chính trị đang xô đẩy Việt Nam phải chọn một con đường. Ngày 8/11/2016 là “ngày định mệnh” đối với nước Mỹ (cũng như nhiều nước khác), khi Donald Trump bất ngờ thắng cử, trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ. Đó là một chính biến làm thay đổi cuộc chơi (game changer), khiến nước Mỹ (và phần lớn thế giới) ngỡ ngàng, bối rối và lo sợ. Đó không phải chỉ là sự kiện thay đổi tổng thống Mỹ như “đến hẹn lại lên”, mà là một bước ngoặt lịch sử, mở ra một giai đoạn mới bất định. Khủng hoảng chính trị Mỹ có thể làm đảo lộn trật tự thế giới, “như khi Liên Xô sụp đổ” (năm 1991). (“America: the Failed State”, Francis Fukuyama, Prospect, December 13, 2016)
Cơn địa chấn chính trị bất ngờ và bất định này đang làm nước Mỹ chia rẽ sâu sắc, đe dọa trật tự thế giới cũ và quan hệ quốc tế. Trong cuốn sách mới xuất bản, Richard Haass (Chủ tịch Council on Foreign Relations) nhận xét rằng từ đầu năm 2017, chúng ta đang chứng kiến “sự đảo lộn có tính hệ thống” (systemic disorder) và “mất phương hướng chiến lược” (strategic disorientation). (“A World in Disarray: American foreign Policy and the Crisis of the Old Order”, Richard Haass, Penguin Press, January 2017).
Nếu Donald Trump chơi lá bài Nga để chống Tàu (khác với Nixon-Kissinger chơi lá bài Tàu để chống Nga trước đây) thì ông ta có thể làm đảo lộn bàn cờ chiến lược Biển Đông, cũng như chính sách đối ngoại của các nước Đông Á và ASEAN (trong đó có Việt Nam). Học thuyết Kissinger về tam giác chiến lược Mỹ-Nga-Trung có thể bị đảo ngược (“Reverse Kissinger”, Blake Franko, American Conservative, January 10, 2017).
Nghịch lý Donald Trump là một hiện tượng lạ, nhưng đã có tiền lệ trong lịch sử. Thời xưa tại Trung Quốc, Lã Bất Vi ngộ ra rằng “buôn vua” lãi hơn tất cả, nên đã bỏ kinh doanh đi “buôn vua” và dựng lên Tần Thủy Hoàng. Lã Bất Vi còn đúc kết kinh nghiệm viết “Lã Thị Xuân Thu”. Nay tại Mỹ, Donald Trump cũng bỏ kinh doanh bất động sản, nhưng không “buôn vua” mà làm vua luôn. Donald Trump là Lã Bất Vi của nước Mỹ!
Trump vốn là con người thất thường, nên chính sách của Trump cũng bất thường. Đặc điểm chính sách của Trump là hành động ngay (không cần nghĩ trước), vì vậy mọi chính sách của chính quyền Trump có thể là “lâm thời” (adhoc). Chính vì Trump thiếu nhất quán nên làm thiên hạ khó đoán. Lệnh cấm nhập cảnh (travel ban) đối với 7 nước Hồi giáo là một ví dụ, đang gây tranh cãi và phản ứng làm náo loạn cả nước Mỹ.
Trong khi Trump quyết định rút khỏi TPP (bỏ ngỏ khu vực này cho Trung Quốc thao túng) thì ông ấy lại bổ nhiệm những nhân vật “diều hâu” chống Trung Quốc (như Peter Navarro và Rex Tillerson) vào những vị trí then chốt. Trước đây, Nixon-Kissinger đã “vô tình” tạo ra con quái vật Frankenstein và dung dưỡng nó lớn mạnh bằng kế sách “Constructive Engagement”, nay Trump lại “vô ý” rút khỏi TPP vì “America First”, mà hệ quả là bỏ rơi khu vực này để nó tha hồ lũng đoạn. Trung Quốc có thể thay thế TPP (do Mỹ đứng đầu) bằng RCEP (do TQ cầm cái), phân hóa và làm đảo lộn trật tự của Mỹ tại khu vực này.         
Sắp xếp nhân sự
Sắp xếp nhân sự chủ chốt của Trump chính là dấu hiệu về đường lối chính sách (đối nội cũng như đối ngoại). Không chờ nhậm chức (20/1/2017) Trump đã bất ngờ ra tay trước bằng mấy nước cờ táo bạo, làm đảo lộn bàn cờ quốc gia lẫn quốc tế, đe dọa xóa sổ di sản của Tổng thống Obama và các đời tổng thống trước đó. Theo Newt Gingrich, “khoảng 60 hoặc 70% sắc lệnh của Obama sẽ bị Trump hủy bỏ” (Fox News, 26/12/2016).    
Thứ nhất, Trump không đợi Trung Quốc nắn gân mà đã phá lệ, thách thức Trung Quốc trước bằng cuộc điện đàm với tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn (2/12/2016). Sự kiện đó không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả chuẩn bị nhiều tuần trước đó, giữa các quan chức hàng đầu hai bên (Bob Dole, Reince Priebus, Edwin Feulner). Bằng 10 phút điện đàm, Trump đe dọa làm sụp đổ chính sách “Một Trung Quốc” đã tồn tại hơn 4 thập kỷ. Tiếp theo điện đàm, Trump còn khẳng định, “Tôi quá hiểu chính sách ‘Một Trung Quốc’, nhưng tôi không hiểu tại sao chúng ta bị ràng buộc bởi chính sách đó” (Fox News, 11/12/2016).
Thứ hai, Trump bổ nhiệm Peter Navarro đứng đầu Hội đồng Thương mại Quốc gia, có văn phòng ngay trong Nhà Trắng, có nhiệm vụ phối hợp chính sách kinh tế để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Navarro là nhân vật chống Tàu, tác giả cuốn sách (và bộ phim) “Chết Bởi Trung Quốc”, nay trở thành nhà kinh tế quyền lực nhất. Bắc Kinh bị sốc trước quyết định bổ nhiệm Peter Navarro, cũng như Wilbur Ross (Bộ trưởng Thương mại), Robert Lighthier (Đại diện Thương mại). Sau cuộc điện đàm với Thái Anh Văn, việc bổ nhiệm ba nhân vật “diều hâu” chống Tàu là tín hiệu rõ ràng về ưu tiên của Trump. Chiến tranh thương mại và chạy đua vũ trang với Trung Quốc chỉ là vấn đề thời gian. Có nhiều lý do để Trung quốc lo ngại vì kinh tế đang xuống dốc và chính trị bất ổn. (“Peter Navarro is about to become one of the world’s most powerful economists”, Economist, Jan 21, 2017).
Thứ ba, Trump bổ nhiệm Rex Tillerson làm Ngoại Trưởng, một quyết định gây tranh cãi, không phải chỉ vì Tillerson là CEO của Exxon-Mobil, mà còn là nhân vật thân với Putin. Phát biểu của Tillerson trong buổi điều trần tại Thượng Viện (12/1/2017) càng làm lãnh đạo Trung Quốc bị sốc. Tillerson đã nói thẳng thừng rằng chiến dịch Trung Quốc xây đảo nhân tạo trị giá hàng tỷ đô-la tại Biển Đông (với tài nguyên dầu khí) là “bất hợp pháp và giống Nga chiếm Crimea…” và “Chúng ta sẽ nói rõ với Trung Quốc rằng trước hết, họ phải chấm dứt xây dựng đảo và thứ hai, chúng ta sẽ không cho phép họ tiếp cận các đảo này…”
Đó là một tín hiệu thay đổi lớn trong quan điểm của Mỹ về Biển Đông, với hàm ý là Mỹ sẽ dùng sức mạnh quân sự để ngăn chặn Trung Quốc bành trướng. Phát biểu của Tillerson đã làm chính giới và dư luận Trung Quốc bất ngờ và tức giận. Thực ra, Tillerson từ lâu đã lo ngại về Trung Quốc và thấy phải chống lại ý đồ quân sự hóa và bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông, sau vụ Exxon-Mobil (và các công ty khác) bị Trung Quốc ngăn cấm hợp tác dầu khí với Việt Nam. (“Rex Tillerson’s South China Sea Remarks Foreshadow Possible Foreign Policy Crisis”, Michael Forsythe, New York Times, Jan 12, 2017).
Stephen Bannon (chiến lược gia của Trump tại Nhà Trắng) cũng quan tâm đến chiến lược Châu Á và cho rằng chủ trương “xoay trục” sang Châu Á của Obama thất bại vì thiếu ngân sách quốc phòng nên yếu thế. Trump cũng bổ nhiệm nhiều tướng “diều hâu” và chuyên gia về Trung Quốc vào các vị trí chủ chốt như Bộ trưởng Quốc phòng (James Mattis), Cố vấn An ninh Quốc gia (Michael Flynn), Bộ trưởng Hải Quân (Randy Forbes), Giám đốc Châu Á tại Hội đồng An ninh Quốc gia (Matt Pottinger), Trợ lý Bộ trưởng về Châu Á tại Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng (Randall Schiver và Victor Cha). Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc là Terry Branstad, tại Nhật là William Hagerty, tại Ấn Độ là Ashley Tellis. (“Trump could make Obama’s pivot to Asia a reality”, Josh Rogin, Washington Post, Jan 8, 2017).  
Bối cảnh quốc tế
Có thể nói, chính sách đối ngoại của chính quyền mới hình thành ngay trong giai đoạn chuyển giao quyền lực, trước khi Donald Trump nhậm chức. Diễn văn nhậm chức của Trump sặc mùi dân túy, chẳng khác diễn văn tranh cử trước đó, khẳng định quan điểm đối ngoại cứng rắn của Trump, và phủ nhận gần hết các di sản của Obama. Nó không chỉ làm người Mỹ chia rẽ mà còn làm thế giới hoang mang lo ngại, nhất là Trung Quốc.
Một số nhà phân tích cho rằng Trump sẽ chơi trò “ngoại giao tay ba” (Triangular Diplomacy) với Nga và Trung Quốc, nhưng “tinh tế hơn” (Alexander Vuving). Thay vì dùng lá bài Trung Quốc để chống Nga (thời Nixon-Kissinger), Trump sẽ dùng lá bài Nga để chống Trung Quốc. Lãnh đạo Trung Quốc tỏ ra lúng túng và bị động (như bị “phục kích”), chưa biết nên phản ứng và đối phó thế nào. Họ chưa gặp một Tổng thống Mỹ nào lại ăn nói và hành xử như vậy. Đối với một người không biết sợ như Trump, Trung Quốc rất khó nắn gân và hù dọa. Khó đoán được ý đồ thực của Trump là một thách thức lớn đối với Trung Quốc (“Trump Tweets China Retreats”, Gordon Chang, National Interest, Jan 6, 2017).
Trong khi Trung Quốc trỗi dậy “không hòa bình”, bắt nạt các nước khu vực và thách thức vai trò của Mỹ, thì Mỹ vẫn “chiều” họ bằng chính sách “Một Trung Quốc” (như chiều “Frankenstein”).  Tuy Nixon đã qua đời, nhưng Kissinger, là tác giả của chính sách “Một Trung Quốc” (theo “Shanghai Communique”), vẫn còn nhiều ảnh hưởng như một cây cổ thụ về chính sách đối ngoại từ thập niên 1970 (dù nay đã 93 tuổi). Tính đến nay, Kissinger đã đến thăm Trung Quốc tới 80 lần, và quen biết hầu hết lãnh đạo nước này.
Gần đây nhất, sau khi Trump đắc cử, Kissinger đã đến Bắc Kinh gặp Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn (1/12/2016), trong khi Trump điện đàm với Thái Anh Văn (3/12/2016). Không biết là Kissinger đã nói gì với Trump khi họ gặp nhau bàn về Trung Quốc, nhưng sau đó khi được hỏi ông nghĩ gì về cựu ngoại trưởng Kissinger, Trump đã Twitted, “Một cây cổ thụ đã mục ruỗng, thì không nên tưới bón làm gì, chỉ tốn thời gian”.
Không phải Kissinger chỉ quan hệ chặt chẽ với Bắc Kinh, mà còn quan hệ chặt chẽ với Nga. Gần đây nhất, Kissinger đã đến Moscow đàm phán (bí mật) với Putin (3/2/2016). Ông cho rằng Mỹ sai lầm lớn nếu để Nga và Trung Quốc hình thành một liên minh kinh tế và chính trị. Vì vậy, Mỹ phải hợp tác với Nga để “cân bằng lực lượng toàn cầu”.  Nhưng tại sao Trump lại thân thiện với Nga mà không thân thiện với Trung Quốc, trong khi cả Nga và Trung Quốc đều tìm cách thách thức lợi ích và vai trò toàn cầu của Mỹ? 
Theo các cơ quan tình báo Mỹ (CIA và FBI), Nga đã can thiệp vào chính trị Mỹ bằng hacking (qua tin đồn giả) không phải chỉ làm Hillary Clinton thất cử, mà còn làm Donald Trump đắc cử, nhưng trở thành tổng thống “vịt què”, vì có tin đồn là Trump đã quan hệ với gái điếm Nga tại Moscow. Nói cách khác Trump đã từng bị tình báo Nga theo dõi và khống chế. Việc rò rỉ tin xấu vào đúng lúc Trump sắp nhậm chức có thể là đòn gió của Putin, muốn tác động vào sắp xếp nhân sự và chính sách của Trump (đối với Nga).
Dưới chính quyền Obama, chủ trương xoay trục sang Châu Á là một tầm nhìn đúng, nhưng thực hiện lại yếu vì Obama thiếu quyết đoán. Nay dưới chính quyền Trump, triển vọng có thể ngược lại, vì Trump là một tổng thống “con buôn” (dealer). Theo John Hudak (Brookings), có nhiều khả năng Trump sẽ điều hành Nhà Trắng như CEO của một tập đoàn kinh doanh. Có người còn cho rằng lãnh đạo thực sự của nước Mỹ không phải là Donald Trump mà là Rex Tillerson, vì “nước Mỹ không còn là một chế độ dân chủ, mà là một chế độ tài phiệt”. (Jimmy Carter interviewed by Oprah Winfrey, September 27, 2015).   
Bối cảnh khu vực
Tuy ASEAN đã trở thành “cộng đồng kinh tế” (AEC), nhưng đoàn kết ASEAN ngày càng yếu, vì bị Trung Quốc thao túng. Không chỉ có Campuchea và Thailand, mà cả Philippines và Malaysia cũng “xoay trục” sang Trung Quốc. Nếu không sớm cải tổ cơ chế thì ASEAN có thể mất vai trò và “Đoàn kết ASEAN” chỉ còn là khẩu hiệu.
Nếu vai trò lãnh đạo của Mỹ về kinh tế và an ninh khu vực giảm đi, với tương lai bất định của TPP và chính sách “xoay trục” dưới chính quyền mới, thì vai trò kinh tế và an ninh của Nhật tại khu vực phải mạnh lên tương ứng. Bất ổn trong “tam giác Mỹ-Trung-Việt” cần được hóa giải bằng “tứ giác Nhật-Úc-Ấn-Việt” trên cơ sở đối tác chiến lược toàn diện, với vai trò đầu tàu của Nhật, thay thế một phần vai trò lãnh đạo của Mỹ. 
Quan điểm cứng rắn của Rex Tillerson về Biển Đông là một dấu hiệu đáng mừng, xuất phát từ kinh nghiệm của ông ấy tại khu vực này, khi Exxon-Mobil có quan hệ hợp tác tốt về dầu khí với PetroVietnam (năm 2009) để khoan thăm dò hai vị trí tại Biển Đông. Khi bị Trung Quốc phản đối, các công ty khác buộc phải rút, nhưng Exxon-Mobil không bỏ cuộc, mà vẫn lặng lẽ theo đuổi dự án khai thác dầu khí tại Biển Đông. Vai trò của Exxon-Mobil (như một cường quốc) không chỉ có hợp tác dầu khí, mà còn vì địa chính trị.    
Đáng chú ý là quan điểm cứng rắn của Rex Tillerson lại trùng hợp với quan điểm cứng rắn của TNS John McCain (và một số người khác). McCain cho rằng không quốc gia nào ủng hộ cho sự thành công của Trung Quốc nhiều hơn là Mỹ… nhưng Trung Quốc lại chọn cách sử dụng sức mạnh và vị thế đang lớn lên của họ để phá vỡ trật tự đó. Trung quốc đã từng bước triển khai chính sách dọa dẫm và cưỡng bức để hỗ trợ cho mục tiêu bành trướng, một tiến trình được tăng tốc quyết liệt dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình.
McCain còn cho rằng Mỹ và Việt Nam chia sẻ một loạt những quyền lợi kinh tế và chiến lược, và tin rằng đã đến lúc hai quốc gia cần triển khai “Sáng kiến Hàng hải Việt-Mỹ” (US-Vietnam Maritime Initiative). Sáng kiến này có thể bao gồm việc mở rộng các cuộc tập trận hỗn hợp trên biển. McCain hoan nghênh Việt Nam tham gia cuộc tập trận “Pacific Rim” và cho rằng Hải quân Hoa Kỳ cần tăng cường thăm Việt Nam…
TNS John Mccain và TNS Jack Reed đã cộng tác để bảo trợ “Sáng kiến An ninh Hàng hải” (Maritime Security Initiative), với kinh phí 1/2 tỉ USD, cho phép Bộ Quốc phòng Mỹ nâng cao năng lực hàng hải cho các đối tác của Mỹ tại Đông Nam Á…Năm nay, Ủy ban hành động lưỡng đảng sẽ nâng cấp sáng kiến này và cung cấp thêm nhiều nguồn lực mới. McCain cũng ủng hộ TPP, và cho rằng “Nếu TPP thất bại thì sự lãnh đạo của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương có thể thất bại theo…” (“The Need for Renewed American Leadership in Asia-Pacific”, John McCain, the Herritage Foundation, December 29, 2016). 
Bối cảnh Việt Nam
Trong giai đoạn mới, ngoại giao Việt Nam lại đứng trước ngã ba đường. Việt Nam phải định hướng lại mục tiêu chiến lược (vì lợi ích dân tộc) và điều chỉnh chính sách kịp thời. Chính sách “đu dây” của Việt Nam nhằm giữ thăng bằng với hai nước lớn (Trung Quốc và Mỹ) là một đặc thù lâu nay gây nhiều tranh cãi. Đây là một dịp tốt để lý giải nhằm làm rõ và điều chỉnh chính sách “đu dây” này trong bối cảnh quốc tế mới.
Trong lịch sử, Việt Nam đã từng phải “đu dây” giữa hai cường quốc cộng sản “thân hữu” nhưng “đồng sàng dị mộng” là Liên Xô và Trung Quốc. Muốn hay không, đó là định mệnh (hay nghịch lý) đối với Việt Nam, một nước nhỏ phải dựa vào hai nước lớn “thân hữu” để “chống Mỹ cứu nước”.  Thật trớ trêu, Việt Nam nay lại phải “đu dây” giữa Mỹ và Trung Quốc, như sự kế thừa và tiếp nối một định mệnh (hay một nghịch lý).
Trong khi Trung Quốc là nước láng giềng khổng lồ mà Việt Nam không được lựa chọn nhưng phải chung sống suốt đời, thì Liên Xô và Mỹ (cũng như Pháp) là những đế quốc “ngoại bang” mà Trung Quốc luôn ôm mối hận để phục thù. Điều đó lý giải tại sao Việt Nam phải “đu dây”.  Vấn đề không phải chỉ là hành động “đu dây” mà là lý do “đu dây”, và cách thức “đu dây”, liên quan đến bối cảnh lịch sử, lợi ích dân tộc, ràng buộc ý thức hệ, có thể làm người ta lẫn lộn về thái độ chính trị và ngộ nhận về bạn/thù. Đừng quên rằng, “không có đồng minh và kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích dân tộc vĩnh viễn” (Palmerston). 
Chủ nghĩa “tiệm tiến” (gradualism) và quan niệm “đặc thù” (exceptionalism) trong chính sách của Việt Nam, phản ánh tư tưởng bảo thủ (vì ý thức hệ), tư duy truyền thống (theo quy trình), và tâm trạng lo sợ hoặc nghi ngại (do tâm lý). Tâm trạng này có thể trở thành rào cản đối với tư duy đổi mới sáng tạo trong một cục diện mới. Theo Alexander Vuving, “Việt Nam tiếp tục tách xa dần (nhưng không quá xa) Trung Quốc, và tiếp tục xích lại gần (nhưng không quá gần) Mỹ, sợ làm Trung Quốc tức giận”.  (“Cops, Robbers and the South China Sea’s New Normal”, Alexander Vuving, National Interest, Dec 23, 2016). 
Đến lúc phải xoay trục   
Đã đến lúc phải “kiểm toán” chính sách đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ “Hậu Thành Đô” (1990-2016), trên cơ sở thành công hay thất bại. Qua mấy thập kỷ, Việt Nam đã bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, cả về kinh tế, chính trị, và đối ngoại, vì mắc phải cái vòng “kim cô”. Muốn khắc phục những hệ lụy to lớn và lâu dài đó, Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, cả về kinh tế lẫn chính trị, cả về đối nội lẫn đối ngoại.
Quan hệ “4 tốt” và “16 chữ vàng” chính là cái vòng “kim cô” để Trung Quốc thực hiện tham vọng bành trướng bá quyền ở Biển Đông (như “Đường 9 đoạn”). Nó làm Việt Nam tụt hậu, bất ổn, và mất dần chủ quyền lãnh thổ. Sau khi Việt Nam mất Hoàng Sa (1974) và một phần Trường Sa (1988), sự kiện dàn khoan HD981 tại Biển Đông là một bước ngoặt bộc lộ bộ mặt thật của Trung Quốc, làm lãnh đạo Việt Nam giật mình tỉnh ngộ.
Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn trước dựa trên bốn trụ cột: (1) độc lập tự chủ (trong đó có chính sách “3 không”), (2) đa phương đa dạng hóa (trong đó có chủ trương “thêm bạn bớt thù”), (3) vừa hợp tác vừa đấu tranh (trong đó có “đối tác hợp tác” và “đối tượng đấu tranh”), (4) chủ động và tích cực hội nhập quốc tế (để trở thành “đối tác tin cậy” của cộng đồng quốc tế). Các trụ cột đó về cơ bản là đúng (như khẩu hiệu), nhưng không ổn (về thực chất) vì sự bất cập giữa tuyên bố chính sách (declared policy) và thực tiễn (reality), do thể chế lỗi thời và cái “vòng kim cô” làm lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.    
Chính sách đối ngoại giai đoạn mới phải giúp Việt Nam thoát khỏi lệ thuộc vào Trung Quốc, để quan hệ dựa trên “tái cân bằng tích cực” (active rebalance). Tái cân bằng tích cực không phải là “đu dây”, và “thoát Trung” không có nghĩa là quay lưng lại với Trung Quốc. Sau sự kiện dàn khoan HD 981 và chiến dịch quân sự hóa các đảo mà Trung Quốc chiếm giữ tại Biển Đông, Việt Nam đã xích lại gần Mỹ. Chuyến thăm Mỹ chính thức của CTN Trương Tấn Sang (7/2013) và TBT Nguyễn Phú trọng (7/2015) là một bước ngoặt cho “đối tác toàn diện” và tầm nhìn chung Mỹ-Việt về an ninh quốc phòng, làm tam giác Mỹ-Trung-Việt thay đổi, nhưng vẫn chưa đủ trở thành “đối tác chiến lược” (vì cái “vòng kim cô”). 
Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama (23/5/2016) với tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí, đã kết thúc quá trình bình thường hóa hơn 2 thập kỷ. Nhưng đáng tiếc, Việt Nam đã “đu dây” quá lâu (suốt 8 năm) không tranh thủ được cơ hội “xoay trục” của Mỹ dưới thời Obama để nâng cấp quan hệ thành “đối tác chiến lược” (như với 10 nước khác). Cơ hội đó đã bị tuột mất vì dưới chính quyền Donald Trump, TPP đã bị gác lại, chủ trương “xoay trục” cũng bị xem xét lại, và di sản của Tổng thống Obama có thể bị xóa sổ.   
Những giá trị cốt lõi
Thực chất quan hệ Trung-Việt (thời kỳ “Hậu Thành Đô”) là bất bình đẳng và lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Đã đến lúc Việt Nam phải “xoay trục” để thoát khỏi tình trạng “cân bằng tiêu cực”, thể hiện qua chính sách “3 không” và “đu dây” với các nước lớn để tồn tại. Chính sách đối ngoại trong giai đoạn mới (đổi mới vòng 2) cần dựa trên ba tiêu chí cơ bản, như giá trị cốt lõi: (1) độc lập trưởng thành (mature independence), (2) tái cân bằng tích cực (active rebalance), và (3) hội nhập tích cực (proactive integration).  
Một chính sách đối ngoại “độc lập trưởng thành” phải nhất quán về tư duy chiến lược, lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêu tối hậu, không lệ thuộc vào ý thức hệ đã lỗi thời.  Đã đến lúc người Việt phải đổi mới tư duy triệt để, không thể tiếp tục “đu dây” cả về đối nội và đối ngoại tại ngã ba đường, như mấy thập kỷ qua. Cái giá phải trả về lợi ích lâu dài (do sự trì trệ) lớn hơn nhiều so với cái lợi trước mắt (vì “hoàng hôn nhiệm kỳ”).
Một chính sách đối ngoại “tái cân bằng tích cực” phải dựa trên sự cân đối và tương hỗ giữa đối nội và đối ngoại, giữa lợi ích quốc gia và hội nhập quốc tế, giữa cải cách thể chế kinh tế và đổi mới thể chế chính trị, để phát triển bền vững và dân chủ hóa. Để khai phóng năng lượng sáng tạo của người dân, phải xóa bỏ cơ chế lỗi thời về quyền sở hữu ruộng đất và độc quyền cho doanh nghiệp nhà nước theo “định hướng XHCN”.
Một chính sách đối ngoại “hội nhập tích cực” phải giúp các doanh nghiệp có điều kiện và cơ hội để hội nhập quốc tế, tham gia chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu. Dù tương lai TPP ra sao, thì Việt Nam vẫn phải sẵn sàng tham gia các thể chế tự do mậu dịch quốc tế (thế hệ mới). Việt Nam đã đi được một quãng đường dài từ WTO đến TPP, nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa quen với sân chơi toàn cầu hóa. Cần giúp họ phát huy các lợi thế tương đối của mình, để tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh Tổng thống đắc cử Donald Trump điện đàm với bà Thái Anh Văn, bổ nhiệm Peter Navarro làm chủ tịch Hội đồng Thương mại Quốc gia, và cử Rex Tillerson làm Ngoại trưởng (với những phát biểu cứng rắn chống Trung Quốc), thì TBT Nguyễn Phú Trọng lại vội vàng sang thăm Trung Quốc (từ 12/1/2017). Ngay hôm sau, ngoại trưởng Mỹ John Kerry tới thăm Việt Nam lần cuối (13/1/2017). Thời điểm hai chuyến thăm bộc lộ sự bất cập chứng tỏ Việt Nam vẫn đang “đu dây” (vì sức ép của Trung Quốc).
Trong khi đó, PetroVietnam và Exxon-Mobil ký hai hợp đồng về khí tại mỏ “Cá voi xanh” (Blue Whale). Điều đáng lưu ý là thời điểm ký kết trùng với chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng và ngoại trưởng John Kerry, điều trần tại Thượng Viện của Rex Tillerson (ngoại trưởng mới được đề cử) với những phát biểu cứng rắn chống Trung Quốc. Trong bối cảnh Trump quyết định rút khỏi TPP, thì hợp đồng hợp tác dầu khí với Exxon-Mobil tại Biển Đông không chỉ quan trọng về kinh tế, mà còn có ý nghĩa lớn về địa chiến lược.  
Ngay sau đó, thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã đến thăm Việt Nam (16/1/2017) nhằm tăng cường hợp tác tại Biển Đông. Nhật muốn cải thiện năng lực tuần duyên của Việt nam, nên đã quyết định viện trợ cho Việt Nam thêm 6 tầu tuần duyên mới. Một quan chức Bộ Ngoại Giao Việt Nam phát biểu “hy vọng Nhật có vai trò lớn hơn về hợp tác an ninh quốc phòng”. Quan hệ Nhật-Việt cần phát triển theo hướng xây dựng nền tảng cho một tứ giác chiến lược mới do Nhật làm đầu tầu (“Japan-Australia-India-Vietnam Partnership”).     
Thay lời kết
Khi môi trường quốc tế và khu vực có nhiều biến động khó lường, và tình hình kinh tế, chính trị trong nước có nhiều bất ổn, đòi hỏi phải cải cách thể chế toàn diện (cả kinh tế và cính trị), thì chính sách đối ngoại cũng phải đổi mới theo tương ứng. Chính sách đối ngoại tuy là cánh tay kéo dài của chính sách đối nội, nhưng có nhiệm vụ làm đòn bẩy, hỗ trợ quá trình “đổi mới vòng 2” để phát triển bền vững. Đề cương đổi mới chính sách đối ngoại cần dựa trên đề cương đổi mới toàn diện của chiến lược phát triển quốc gia.
“Báo cáo Việt Nam 2035” chính là đề cương đổi mới, làm cơ sở xây dựng chính sách đối ngoại thời kỳ mới. Muốn thay đổi, phải gắn kết được trên với dưới, trong với ngoài, để huy động tối đa nguồn lực của dân tộc, nhằm kiến tạo một quốc gia giàu mạnh và văn minh. Đến lúc người Việt phải chứng minh Việt Nam không phải là một quốc gia hèn kém và lệ thuộc, quen dựa vào viện trợ nước ngoài, rằng người Việt Nam có thể hòa giải dân tộc, đứng dậy từ đổ nát và li tán, để tái tạo một quốc gia độc lập và dân chủ. Chỉ có độc lập và dân chủ mới thu phục được nhân tâm để kiến tạo một quốc gia giàu mạnh và văn minh.Nguyễn Quang Dy/ Viet-studies

Tuần trăng mật của Trump & Bàn cờ Mỹ-Trung


Ảnh cartoon, Trump bị cháy quần, tức là nói dối, lấy từ câu “Liar, liar, pants on fire!” Nguồn: Moudakis Cartoon
“Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn” (Lenin)
Tuy “tuần trăng mật” (100 ngày) của chính quyền Donald Trump đã hết, nhưng vẫn còn một loạt vấn đề nổi cộm chưa được tháo gỡ. Có lẽ chưa có một tổng thống Mỹ nào lại trải qua một “tuần trăng mật” có nhiều sóng gió và kịch tính đến như vậy. Trong khi chờ những đánh giá toàn diện, bài này chỉ đưa ra một số nhận xét khái quát về những vấn đề then chốt, hy vọng giải mã được phần nào bức tranh hỗn độn nhiều màu sắc bất thường.  
Trong số các vấn đề nổi cộm (như những quả bom nổ chậm) thì quan hệ Mỹ-Trung là nan giải nhất và đầy kịch tính trong “tuần trăng mật”, mà đỉnh điểm là cuộc gặp lần đầu giữa Donald Trump và Tập Cận Bình tại Mar-A-Lago (6-7/4/2017). Không phải những vấn đề khác không quan trọng, nhưng quan hệ Mỹ-Trung là quan trọng nhất, vì nó liên quan trực tiếp đến vấn đề Bắc Triều Tiên, Đài Loan, và Biển Đông (trong đó có Việt Nam). Bài này sẽ đề cập đến quan hệ Mỹ-Trung, trong bối cảnh đối nội và đối ngoại hiện nay.
Tổng thống vịt què
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng hỗn độn hiện nay thực ra không phải do chính sách (vì hầu như Trump chưa có chính sách và chủ thuyết), mà chủ yếu là do tính cách cá nhân của tổng thống (và các cố vấn chính). Đã hết “tuần trăng mật”, nhưng cơ cấu nhân sự của Nhà Trắng và Nội các vẫn còn thiếu hụt.  Chủ thuyết của Trump là không có chủ thuyết, vì ông điều hành bằng phản ứng linh hoạt, thông qua “twitter” và “executive orders”.   
Nhiều nhân sự chủ chốt tại Bộ Ngoại Giao (và các bộ khác) vẫn còn thiếu, nên ngoại trưởng Tillerson làm việc không có trợ lý.  Hội đồng An ninh Quốc gia bị khủng hoảng khi Michael Flynn bị cách chức (vì nói dối về quan hệ với Nga), và bị thay thế bởi tướng H.R. McMaster (20/2/2017). Steve Bannon, cố vấn chính của Trump vừa bị giáng chức, rút khỏi Hội đồng An ninh Quốc gia (5/4/2017). Giám đốc CIA (Mike Pompeo), đại sứ tại LHQ (Nikki Haley), bộ trưởng năng lượng (Rick Perry), giám đốc tình báo quốc gia (Dan Coats), và chủ tịch Liên quân (tướng Joseph Dunford) cũng vừa mới được bổ xung vào NSC.
Ngay trong “tuần trăng mật”, Trump đã làm dư luận nóng lên, gây tranh cãi và bất bình về vấn đề nhập cư (travel ban). Trump không những đối đầu với giới báo chí mà còn thách thức cả hệ thống tòa án và tư pháp, dẫn đến nguy cơ khủng hoảng hiến pháp. Dư luận đã nói đến khả năng “phế truất” Tổng thống (thay bằng phó tổng thống Mike Pence). Trong cuốn sách mới “The Case for Impeachment” (Dey Street Books, April 2017), giáo sư Allan Lichtman (đã từng tiên đoán Trump sẽ thắng cử) nay lại tiên đoán Trump sẽ bị phế truất.   
Dù Lichtman đoán đúng hay sai, thì chỉ số tín nhiệm của Trump chỉ còn 37%, thấp nhất trong số các tổng thống mới (theo Gallup Poll), làm ông trở thành tổng thống “vịt què”. Phải chăng tính cách thất thường của Trump là nguyên nhân trực tiếp, hay Trumpism là nguyên nhân sâu xa? (“the Crisis of Trumpism”, Rich Lowry, Politico, March 29, 2017).
Hàn thử biểu Mỹ-Trung  
Chính sách Trung Quốc của Trump bất nhất (vì thiếu chủ thuyết) làm hàn thử biểu Trumpism bị chập mạch, nên nhiệt độ lên xuống thất thường, nhảy từ cực này sang cực kia. Phát ngôn của tổng thống (và các cố vấn chính) đầy mâu thuẫn, gây bất ngờ và lúng túng cho đối thủ lẫn đồng minh, làm nội bộ đảng Cộng Hòa cũng phản ứng mạnh.    
Ngay trước khi nhậm chức, Trump đã bất ngờ điện đàm với bà Thái Anh Văn (2/12/2016) gửi đi một tín hiệu cứng rắn, muốn lật lại chính sách “một nước Trung Quốc” đã tồn tại hơn 40 năm qua như trụ cột cho quan hệ Mỹ-Trung. Để khẳng định thái độ đó, Trump đã dùng twitter để công kích Trung Quốc (5/12/2016). Ngoài Trump, phát ngôn “chống Tàu” của những nhân vật chủ chốt như Steve Bannon, Peter Navarro, và Rex Tillerson (tại cuộc điều trần trước Quốc hội, ngày 11/1/2017) cũng cứng rắn, làm hàn thử biểu nhảy vọt sang cực tả, khiến dư luận lo ngại về triển vọng đối đầu Mỹ-Trung (về thương mại và Biển Đông).  
Nhưng đùng một cái, hàn thử biểu lại đột ngột nhảy vọt sang cực hữu, khi Donald Trump điện đàm với Tập Cận Bình (9/2/2017). Trump đã làm dư luận bất ngờ khi ông xuống thang, chấp nhận nguyên tắc “một nước Trung Quốc”. Động thái đó làm dư luận lo ngại, cho rằng Trump là “hổ giấy”, chỉ giỏi to mồm dọa già và chém gió mà thôi.
Tiếp theo chuyến thăm Nhật Bản và Hàn Quốc của Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis (3/2/2017) để trấn an đồng minh, chuyến thăm Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc của ngoại trưởng Rex Tillerson (19/3/2017) đã gây tranh cãi và chỉ trích. Tại Bắc Kinh, Tillerson đã làm dư luận ngỡ ngàng và khó hiểu khi ông đột nhiên chấp nhận quan điểm của Trung Quốc về “quan hệ nước lớn kiểu mới” (khác hẳn với thái độ trước đó).
Rex Tillerson thậm chí còn “nói theo cách của Trung quốc”, lặp lại gần nguyên văn lập trường của Bắc Kinh (như “không đối đầu, không xung đột, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng có lợi”). Với Bắc Kinh, điều đó có nghĩa là Mỹ sẽ tôn trọng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc.  “Tillerson hầu như đã chấp thuận mô hình quan hệ nước lớn kiểu mới. Đó là một sai lầm lớn” (theo Bonnie Glaser, CSIS).  Tillerson đã “rơi vào cái bẫy của Trung Quốc”, và đã “trao cho Bắc Kinh một thắng lợi ngoại giao” (Washington Post, April 7, 2017).  
Mar-a-Lago Summit
Đó là bối cảnh trước Mar-a-Lago summit. Nhưng một sự kiện bất ngờ đã xảy ra ngay khi Trump mở tiệc chiêu đãi Tập Cận Bình (7/4/2017), làm đảo lộn bàn cờ. Tổng thống đã đơn phương ra lệnh bắn 59 tên lửa Tomahawk vào sân bay Al Shayrat để trừng phạt Syria (cáo buộc sử dụng vũ khí hóa học). Đòn tấn công bất ngờ này nhằm mục đích gì? Trump đánh Syria để lấy điểm vì chỉ số tín nhiệm của ông đã xuống quá thấp (37% theo Gallup Poll)? Hay Trump muốn cảnh cáo Trung Quốc, rằn mặt Triều Tiên/Iran, và răn đe Nga?
Có lẽ tất cả các mục tiêu nói trên đều có lý (tuy chưa đủ). Sau quyết định tấn công Syria, đúng là uy tín của Trump được cải thiện. Nhiều người lên tiếng ủng hộ ông, kể cả những người vừa chỉ trích Trump (như thượng nghị sỹ John McCain). Dường như thói quen giành phiếu ủng hộ (như khi đang tranh cử) vẫn còn in đậm trong tâm thức của Trump.  
Tuy đòn tấn công Syria mang yếu tố bất ngờ đối với Trung Quốc, nhưng Mỹ lại báo trước cho Nga (có lẽ để tránh tổn thương cho người Nga). Ngay sau đó, ngoại trưởng Rex Tillerson đã đến Moscow (12/4/2017) để hội đàm, trong khi Nga phản ứng mạnh làm quan hệ trở nên căng thẳng. Liệu Tillerson có thuyết phục được Putin hợp tác bỏ qua vụ này, trong khi FBI đang điều tra cáo buộc Michael Flynn đã “đi đêm” với Nga để tác động vào kết quả tranh cử? Tại sao vụ tấn công bằng 59 tên lửa Tomahawks không gây thiệt hại gì cho Nga, và không gây tổn thất lớn cho Syria? Phải chăng đây là một phép thử quan hệ Mỹ-Nga?
Tuy nhiều người cho rằng quan hệ Mỹ-Nga đã xuống “mức thấp nhất” (do Mỹ tấn công Syria), nhưng thực tế Tillerson vẫn gặp hội đàm với Putin và đàm phán với ngoại trưởng Nga về nhiều vấn đề quan trọng (không như người ta tưởng). Quan hệ Mỹ-Nga tuy có chững lại, nhưng về cơ bản vẫn không khủng hoảng, vì cả hai bên vẫn đang cần nhau.
Trump tranh thủ mọi cơ hội để xóa bỏ di sản của Obama (Obama legacy deconstruction). Trump muốn chứng minh rằng ông không hèn yếu như Obama, dám đánh Syria (vì vượt làn ranh đỏ) và thách thức Nga để chứng minh ông không “đi đêm” với Putin. Tuy Mỹ tấn công Syria có làm Tập Cận Bình giật mình, nhưng không làm hỏng Mar-a-Lago summit. Cả Tập Cận Bình và Donald Trump đều rất cần cuộc gặp này, tuy cả hai bên đều chưa sẵn sàng. Đối với Tập Cận Bình, đại hội đảng 19 vào cuối năm nay mới là quan trọng nhất.  
Theo tạp chí Foreign Affairs, chính quyền Trump thiếu chuẩn bị cụ thể, nên kết quả gặp cấp cao đạt được rất ít tiến bộ để thúc đẩy quan hệ. Kế hoạch “Đàm phán 100 ngày” chưa cụ thể. Trump nhận lời đi thăm Trung Quốc, nhưng chưa biết khi nào. Chương trình “Đối thoại Toàn diện” (Comprehensive Dialogue) thay cho “Đối thoại Chiến lược và Kinh tế (Strategic and Economic Dialogue) dựa trên “4 trụ cột” mới do Trung Quốc đề xuất, nên họ dễ thao túng: (1) an ninh & ngoại giao, (2) kinh tế & thương mại, (3) an ninh mạng & luật pháp, (4) ngoại giao nhân dân. Về phía Mỹ, cho đến nay, Bộ Ngoại Giao vẫn chưa có thứ trưởng và trợ lý ngoại trưởng phụ trách Châu Á-Thái Bình Dương, để phối hợp công việc cụ thể.
Hai bên vẫn còn nghi ngại sâu sắc về vấn đề Bắc Triều Tiên. Mỹ tấn công Syria bằng 59 tên lửa Tomahawk đã làm Tập Cận Bình bất ngờ và mất mặt, nên không hy vọng xây dựng được lòng tin qua cuộc gặp cấp cao lần này. Nếu Trump định dùng cách răn đe bằng quân sự như Nixon (Madman theory) để ám chỉ rằng nếu bị thách thức, Mỹ không ngần ngại đơn phương tấn công Bắc Triều Tiên, thì sẽ phản tác dụng, làm suy yếu khả năng các bên phối hợp trừng phạt Bắc triều Tiên. Tuy nhiên, có một kết quả khác không ồn ào, nhưng có ý nghĩa tích cực là Tập Cận Bình đã gặp thống đốc Alaska khi máy bay dừng tiếp xăng.    
Cặp đôi hoàn hảo
Như trong một số vấn đề hệ trọng khác, sự kiện Donald Trump mời Tập Cận Bình đến Mar-a-Lago và quyết định tấn công Syria, đều có dấu ấn (hay “vân tay”) của Ivanka Trump và Jared Kushner. Đó không phải chỉ là con gái và con rể của Trump, mà còn là các cố vấn chủ chốt, được tin cậy nhất trong Nhà Trắng (như một “cặp đôi hoàn hảo”).
Không phải ngẫu nhiên mà “công chúa” Ivanka đã bế con đến Đại Sứ Quán Trung Quốc mừng Tết Đinh Dậu (1/2/2017). Đại sứ Trung Quốc Thôi Thiên Khải đã rút kinh nghiệm, thiết lập được kênh liên lạc với Ivanka Trump qua một mối quan hệ đặc biệt là Wendi Deng Murdoch (tức Đặng Văn Địch), từng là Phó chủ tịch Tập đoàn truyền hình Star TV châu Á, là vợ thứ ba của Trùm truyền thông Rupert Murdoch (đã ly hôn từ 2013).
Nhiều người không biết Wendi Deng có mối quan hệ thân tình với Ivanka, sau khi mai mối thành công cho Ivanka Trump và Jared Kushner lấy nhau (vượt qua trở ngại tôn giáo). Nghe nói “bà mối” Wendi Deng đã nhận lời giúp Đại sứ Trung Quốc thu xếp để Ivanka đến Đại sứ Quán Trung Quốc chúc Tết. Sau chuyến thăm Washington của Dương Khiết Trì (27/2), Rex Tillerson đã đến Bắc Kinh (19/3) để thu xếp cho Mar-a-Lago summit.     
Ngoài Wendi Deng, Trung Quốc còn có các đầu mối khác để tác động đến gia đình Trump, như công ty Alibaba (của tỷ phú Jack Ma) và Anbang (của Ngô Tiểu Huy). Theo các nguồn tin từ Trung Quốc, Ngô Tiểu Huy là cháu rể ông Đặng Tiểu Bình, là thân hữu của Chu Vân Lai (con ông Chu Dung Cơ) và Trần Tiểu Lỗ (con ông Trần Nghị). Có tin Trung Quốc đã cấp thêm cho gia đình Trump 38 nhãn hiệu hàng hóa, sau khi Jared Kushner bí mật gặp Ngô Tiểu Huy (ngày 16/11/2016)  để thỏa thuận về những giao dịch giữa hai bên.    
Sau khi Ivanka Trump chính thức trở thành “cố vấn đặc biệt” cho bố (từ 29/3/2017) và có văn phòng tại “Tây Cung” của Nhà Trắng, Steve Bannon đã bị giáng chức, rút khỏi Hội đồng An ninh Quốc gia (5/4/2017). Đó là hai biến động nhân sự quan trọng trong Nhà Trắng, trước khi Trump gặp Tập Cận Bình tại Mar-a-Lago summit (6-7/4/2017).
Ba ngự lâm pháo thủ
Bộ ba gồm James Mattis (Bộ trưởng Quốc phòng), Rex Tillerson (Ngoại trưởng), John Kelly (Bộ trưởng An ninh Nội địa) được coi là trụ cột của “phe người lớn” (Axis of Adults). Phe này còn có McMaster (cố vấn An ninh Quốc gia), Mike Pompeo (Giám đốc CIA), Nikki Haley (Đại sứ tại LHQ), Gary Cohn (Cố vấn kinh tế). Đây là một trung tâm quyền lực mới trong chính quyền Trump, đang lặng lẽ kèm cặp tổng thống.  Nếu xu hướng này thắng thế, chính quyền Trump (hay Mike Pence) sẽ gần giống chính quyền Bush.
Tuy họ không tham gia chiến dịch tranh cử và phong trào của Trump, nhưng ảnh hưởng của họ đã thể hiện rõ trong quyết định tấn công Syria bằng tên lửa, đàm phán với Trung Quốc, và cứng rắn hơn với Nga, trái ngược với khẩu hiệu “biệt lập” của Trump lúc tranh cử. Tác động cân bằng của họ có thể giúp Nhà Trắng tránh khỏi ảnh hưởng cực đoan của Steve Bannon. Việc Bannon bị loại khỏi Hội đồng An ninh Quốc gia là một dấu hiệu thắng thế của “phe người lớn” đối với “phe cực đoan” (Cabal of Crazies). (Is Trump’s Axis of Adults Beating Down the Cabal of Crazies?”, Max Boot, Foreign Policy, April 18, 2017).
Khi quyết định tấn công Syria, chắc Trump đã chịu nhiều ảnh hưởng của “phe người lớn” cũng như Ivanka và Jared Kushner. Có nhiều dấu hiệu cán cân quyền lực trong Nhà Trắng đã thay đổi làm “phe người lớn” thắng thế (vì tranh thủ được Trump và “cặp đôi hoàn hảo”). Trong khi đó “phe cực đoan” (Steve Bannon, Peter Navarro) có vẻ thất thế, và vai trò của Reince Priebus (Chánh Văn phòng Nhà trắng) và Kellyanne Conway (cố vấn) cũng mờ nhạt. Đây là một bước ngoặt, nhưng lúc này chắc Trump vẫn cần Steve Bannon.   
Steve Bannon có công giúp Trump thắng cử, và có sứ mệnh của một nhà “cách mạng Leninist” là phá bỏ trật tự của chính quyền cũ (“state deconstruction”). Nhưng về lâu dài, Trump sẽ cần Jared Kushner hơn. Giữa Steve Bannon (một con cáo già cực đoan) và Jared Kushner (một con sói trẻ thực dụng), chắc Trump sẽ phải chọn một. Dù thế nào thì Trump sẽ không bao giờ sa thải con gái cưng thông minh và trung thành. “Cặp đôi hoàn hảo” vẫn là một nhân tố ổn định trong cơ cấu quyền lực của Nhà Trắng (chừng nào Trump còn trị vì).
Uy tín của “phe người lớn” đang tăng vì Trump biết lắng nghe và thay đổi quan điểm nhanh như gió. Chỉ số tín nhiệm Trump có dấu hiệu tăng. Nhiều quan chức cũ đang muốn ra làm việc (vì còn rất nhiều vị trí đang bỏ trống). Phe này gắn kết với nhau và hay gặp ăn sáng hàng tuần để trao đổi. Một số hay ăn tối với tổng thống (Mattis ăn tối với Trump hai lần một tuần). Là những nhân vật chuyên nghiệp dầy dạn kinh nghiệm, họ thường lặng lẽ “chữa cháy” mỗi khi Trump hứng thú tweeting gây sóng gió bất thường trong dư luận. (New Power Center in Trumpland The Axis of Adults”, Kimberly Dozier, Daily Beast, April 17, 2017).
Những rủi ro tiềm ẩn
Theo tạp chí Foreign Policy, Nhà Trắng bị phân hóa bởi hai nhóm có khuynh hướng cực đoan, đi ngược lại chính sách lâu nay về Trung Quốc. Một nhóm có đầu óc kinh doanh thiển cận (như Jared Kushner và Rex Tillerson) muốn nhân nhượng ảnh hưởng của Bắc Kinh ở Châu Á, để đổi lấy thỏa thuận về vấn đề Bắc Triều Tiên và thâm hụt thương mại. Nhóm kia có tư tưởng quốc gia cực đoan (như Steve Bannon và Peter Navarro) muốn chống lại sự trỗi dậy của Bắc Kinh về kinh tế và quân sự. Vì vậy, Trump không có một chiến lược nhất quán nào để đối phó với Trung Quốc, và không có một chủ trương rõ ràng nào về khu vực Châu Á-TBD. Dù Trump có lợi thế bất ngờ, có thể quyền biến trong các vấn đề khác, nhưng về đối ngoại sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro nguy hiểm. (“Trump’s Team Has No Idea What It’s Doing On China”,  Mira Rapp-Hooper & Alexander Sullivan, Foreign Policy, April 5, 2017).
Lawrence Summers (nguyên bộ trưởng tài chính Mỹ) cho rằng những vấn đề nhiều người Mỹ quan tâm hoặc là không đúng, hoặc là thứ yếu, trong khi họ lại không chú ý đúng mức đến thách thức quan trọng nhất về kinh tế. Việc tranh luận về thay đổi chính sách “một Trung Quốc” hay Trung Quốc thao túng đồng tiền, không giúp ích gì mà còn có thể nguy hiểm. Tương lai kinh tế Mỹ là do những quyết sách tại Washington chứ không phải tại Bắc Kinh. Trung Quốc đang gia tăng quyền lực mềm trên thế giới với một tầm nhìn toàn cầu, để thao túng hệ thống kinh tế thế giới, trong khi Mỹ lại lui về bảo hộ trong nước. Phát biểu của Tập Cận Bình tại Davos là một phần của chiến lược tổng thể đó. (The most important economic challenge that China poses”, Lawrence Summers, Washington Post, April 9, 2017).
Theo David Dollar (Brookings Institution), từ năm 2000 đến 2007 Mỹ đã mất 16,9 triệu đến 13,6 triệu việc làm. Khủng hoảng tài chính 2008 đã làm con số này giảm xuống còn 11,2 triệu, và cho đến nay con số này khá bình ổn. 40% trong số đó là do hàng Tàu tràn vào thị trường Mỹ sau khi Trung Quốc vào WTO (2001). Năm ngoái Mỹ nhập khẩu $480 tỷ hàng hóa Trung Quốc, trong khi chỉ xuất sang Trung Quốc có $170 tỷ. Đây là vấn đề quan trọng nhất mà hai bên phải tìm cách giải quyết trong “100 ngày đàm phán” thương mại.
Graham Allison (Gián đốc Belfer Center, Harvard) cho rằng trong 500 năm qua, sự trỗi dậy của các cường quốc mới đã làm đảo lộn vai trò thống trị của các cường quốc cũ tới 16 lần. Kết quả của 12 trong số 16 lần đó là chiến tranh. Khi một cường quốc mới trỗi dậy đe dọa thay thế vai trò thống trị của cường cũ, thì đó là lúc phải rung chuông báo động vì nguy hiểm. Theo thuyết “cái bẫy Thucydides”, sự trỗi dậy của thành Athens làm thành Sparta lo sợ nên chiến tranh là không thể tránh khỏi. Allison tin rằng trong những năm tới, chắc chắn Trung Quốc sẽ tiếp tục thách thức và đối đầu với Mỹ. Điều đáng lưu ý là tính cách của Trump và Tập tuy rất khác nhau nhưng lại như bản sao của nhau trong gương (mirror images).
Theo Michael Anton (Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ), chính sách ngoại giao tốt nhất không phải là can thiệp (interventionism) và cũng không phải là biệt lập (isolationism), mà là một chiến lược chống khủng bố quyết liệt (gọi là “enhanced whack a mole”). Trump đã hành động mau lẹ, quay ngoắt 180 độ so với lập trường trước đây, dù ông mất hy vọng vào hòa hoãn với Nga. Nói cách khác, Trump tin vào yếu tố bất ngờ, thiếu nhất quán và khó dự đoán. Đó có thể là dấu ấn của chính sách đối ngoại của Mỹ trong giai đoạn này.     
Triển vọng Mỹ-Việt  
Sau khi Trump đắc cử tổng thống, nhiều đồng minh và đối tác của Mỹ bị bất ngờ, phải vội vã tìm mọi cách tiếp cận để vận động Trump. So với Nhật và Trung Quốc, Việt Nam lúc đầu có vẻ chậm chân, nhưng gần đây tỏ ra năng động hơn. Hà Nội chắc đã nhận ra cơ hội tốt dưới thời Obama đã bị bỏ qua. Trong khi Hà Nội tìm cách đối phó với hành động hung hãn của Bắc Kinh tại Biển Đông và xích lại gần Mỹ, thì Trump lại quyết định rút khỏi TPP, làm Hà Nội hẫng hụt và lo lắng, sợ Washington có thể “đi đêm” với Bắc Kinh. Trong khi đó, Trung Quốc tranh thủ lôi kéo Việt Nam (và các nước khác) để lấp khoảng trống quyền lực. Người ta lo ngại khi Mỹ nghĩ lại thì tình hình đã đi quá xa và có thể quá muộn.
Gần đây, các quan chức cấp cao Việt Nam đã tìm cách tiếp cận với chính quyền Trump. Hà Nội muốn trở thành một trong các “đối tác tin cậy” của Washington tại Đông Nam Á, để đối phó với những tranh chấp và nguy cơ về chủ quyền tại Biển Đông. Chính quyền Trump cũng tỏ ra quan tâm muốn đáp ứng. Sau khi đắc cử, trong cuộc điện đàm với thủ tướng Việt Nam, Trump tỏ ra quan tâm đến quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc.
Tiếp theo chuyến thăm Mỹ của thứ trưởng ngoại giao Hà Kim Ngọc (20-23/3/2017), phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh sẽ thăm chính thức Washington để gặp ngoại trưởng Rex Tillerson (19-23/4/2017). Thứ trưởng bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cũng có kế hoạch thăm Mỹ để gặp các quan chức quốc phòng (trong một hai tháng tới). Sau đó, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có thể đi thăm chính thức Washington.
Cuối tháng 2/2017, Tổng thống Trump đã gửi thư cho chủ tịch nước Trần Đại Quang tỏ ý muốn tăng cường hợp tác song phương. Cuộc họp thượng đỉnh APEC tại Đà Nẵng (11/2017) do Việt Nam chủ trì, là một cơ hội tốt để vận động Trump đến dự và thăm Việt Nam. Ngày 31/3/2017, chủ tịch nước Trần Đại Quang đã gặp đại sứ Mỹ Ted Osius. Tuy phía Mỹ chưa cam kết chính thức, nhưng Đại sứ Osius nói Tổng thống Mỹ có thể dự APEC. Chưa bao giờ Việt Nam lại tỏ ra nôn nóng muốn tăng cường quan hệ với Mỹ như hiện nay.
Một ưu tiên cao của Hà Nội là đàm phán hiệp định thương mại song phương với Mỹ (để bù lại việc Mỹ rút khỏi TPP). Năm 2016, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ 38,5 tỷ USD hàng hóa (bằng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu), và Mỹ trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất. Hà Nội cũng muốn tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ, và lặng lẽ kêu gọi Washington tiếp tục tuần tra tại biển Đông (FONOP). Tháng 1/2017, Exxon Mobil và PetroVietnam đã ký hai hợp đồng khai thác khí đốt tại mỏ “Cá Voi xanh” tại Biển Đông, trị giá 10 tỷ USD. Đây là một dự án lớn có ý nghĩa chiến lược vì Tillerson vốn là CEO của Exxon Mobil.  
Thay lời kết 
Thứ nhất, phương châm “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ, sẵn sàng làm “đối tác tin cậy” của các nước, là một chủ trương đối ngoại hay, nhưng kết quả dở. Một đất nước có rừng vàng biển bạc, được thế giới viện trợ, nhưng tại sao vẫn nghèo nàn và tụt hậu, nợ nần chồng chất và suy thoái, vẫn phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc? Nếu vẫn bám giữ nguyên tắc “ba không”, thì Việt nam làm sao có đối trọng để “thoát Trung” và độc lập?  
Thứ hai, trong suốt tám năm khi ông Obama làm tổng thống, quan hệ Việt-Mỹ tuy có nhiều tiến bộ, nhưng đã bỏ qua nhiều cơ hội đáng tiếc. Dường như ta đã quen với trò chơi đánh đu để câu giờ, kéo cưa lừa xẻ để mà cả lợi ích trước mắt, mà bỏ qua những vấn đề cốt lõi lâu dài. Bây giờ, khi nước Mỹ và thế giới đã thay đổi khó lường, và chuyển hẳn sang một giai đoạn mới, thì ta vẫn loanh quanh tại bến đò xưa. Nếu vẫn tiếp tục trò chơi cũ với chính quyền mới của Mỹ và cộng đồng thế giới, thì có nguy cơ phá sản và chìm đắm về kinh tế.
Thứ ba, muốn thoát khỏi tình trạng nan giải hiện nay về kinh tế và đối ngoại, thì chỉ còn cách đổi mới thể chế toàn diện và dân chủ hóa nhằm hòa giải dân tộc và kiến tạo quốc gia, để phục hưng đất nước. Nếu chính quyền vẫn cứ bảo kê cho các nhóm lợi ích và quan tham cướp đất và trấn áp người dân, “ăn không từ một thứ gì” và gây thù chuốc oán, đẩy người dân đến bước đường cùng, hoặc đầu tư vào các dự án rủi ro hủy hoại môi trường, dẫn đến bi kịch như Đồng Tâm hay Formosa, thì có nguy cơ đổ vỡ và chìm đắm về chính trị.
Những hình ảnh gây sốc của thường dân Syria bị chết do chất độc hóa học đã châm ngòi cho Mỹ trừng phạt (được đa số dư luận ủng hộ). Nếu Đồng Tâm bị đàn áp khốc liệt, thì những hình ảnh gây sốc sẽ có tác động tương tự, làm Mỹ và thế giới quay lưng lại với Việt Nam. Mấy báo lớn của Mỹ đã lên tiếng. Nếu không tháo gỡ ngay, Đồng Tâm sẽ là một bước ngoặt, châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng bạo lực đầy nguy hiểm, do hậu quả của luật sở hữu đất, làm dân mất hết lòng tin. Mọi cố gắng “đa phương hóa, đa dạng hóa” để Việt Nam làm “đối tác tin cậy” của các nước sẽ thành vô nghĩa. Việt Nam có thể “trở về thời kỳ đồ đá”.     Nguyễn Quang Dy/ Viet-studies

Chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh


Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Trong lúc nhâm nhi trà đàm và ăn bánh ngọn tráng miệng với Tập Cận Bình tại ‘’Nhà Trắng Mùa Đông’’ (Mar-A-Lago), Tổng Thống Trump lạnh lùng buột miệng cho biết là vừa mới ra lệnh cho hai tàu chiến Mỹ USS Ross và USS Porter từ Biển Địa Trung Hải bắn 59 hoả tiễn Tomahawk phá hủy căn cứ không quân al-Shayrat trong thành phố Homs của Syria. Chỉ mấy ngày trước đó, không quân của Tổng Thống Assad đã tấn công bằng bom hóa học giết chết 86 thường dân trong đó có 27 trẻ em tại thị trấn Khan Sheikhoun nằm trong vòng kiểm soát của quân đối lập. Theo tin tình báo thì căn cứ al-Shayrat là nơi mà máy bay ném bom chứa vũ khí hóa học xuất phát.
Syria đang trải qua một cuộc nội chiếm hỗn độn và thảm khốc. Syria đỡ đầu cho Hezbola một tổ chức mà Hoa Kỳ đặt vào danh sách các tổ chức khủng bố. Nhà độc tài Bashar al-Assad nối ngôi cha từ năm 2000. Cha ông Hafez al-Assad đã cai trị Syria trong 30 năm từ 1971 tới năm 2000. Phe chống đối gồm có các nhóm chống độc tài và đòi hỏi cải cách dân chủ, Nhà Nước Hồi Giáo, phong trào tự trị Kursdish và các nhóm thánh chiến. Assad nhờ Nga và Iran chống lưng để đánh lại họ. Mỹ cũng muốn tiêu diệt Nhà Nước Hồi Giáo nhưng không chấp nhận được Assad và Iran nên chọn đứng ngoài vòng chiến.
Trước đây, Obama đã cảnh cáo Assad chớ có ‘’vượt đèn đỏ’’ và sử dụng vũ khí hóa học. Thế nhưng khi Assad làm vậy thì Obama lại không trừng phạt dạy cho Assad một bài học. Thay vào đó, Assad đồng ý cho Nga giải giới vũ khí hóa học. Nhưng rõ ràng thỏa thuận này có lỗ hỏng mà theo lời của Ngoại Trưởng Rex Tillerson thì Nga phải chịu trách nhiệm rất lớn. Một là bất tín, hai là bất tài. Nga thì biện bạch rằng Assad không sử dụng vũ khí mà không quân Syria đánh bom vào phòng thí nghiệm của phiến quân có chứa vũ khí hóa học. Ai đúng ai sai vẫn chưa biết được.
Thật ra lập trường của Tổng Thống Trump về Syria cũng như về chính sách một nước Trung Hoa đã xoay chuyển 180 độ. Ngay từ khi tranh cử, Trump luôn nhất quán bày tỏ quan điểm là Mỹ phải đặt trọng tâm tiêu diệt Nhà Nước Hồi Giáo là kẻ thù nguy hiểm nhất. Assad không tốt đẹp gì nhưng Mỹ nên chấp nhận thực tế vì chưa chắc tay lãnh đạo kế tiếp sẽ tốt hơn.
Về mặt này thì Trump đồng quan điểm với Nga cho dù Assad đã nhiều lần đối xử tàn nhẫn với chính người dân Syria mà ông cai trị. Có người hoài nghi cho rằng lý do mà Trump thay đổi quan điểm về Syria là muốn chứng minh cho người Mỹ và thế giới thấy tư thế độc lập của ông với Putin trong lúc có hàng chục cuộc điều tra về mối quan hệ giữa tay chân thân tín của Trump với Moscow cũng như chiến dịch đánh phá Hillary Clinton của Nga để giúp Trump thắng cử. Người khác thì cho rằng Trump đã không dằn được khi nhìn thấy công chúa Ivanka rơi lệ trước hình ảnh các em bé chết thể thảm vì bom sarin. Hoặc cũng có thể Trump muốn dằn mặt Tập Cận Bình. Sát kê hách hầu (Giết gà dọa khỉ) là một trong những kế lớn trong binh pháp Tôn Tử. Có thể Trump muốn nhắn với Tập là hãy dạy dỗ cho Kim Chánh Ân nếu Bắc Hàn không muốn bị Mỹ cho ăn Tomahawk.
Trong suốt cuộc tranh cử, Trump thường ca ngợi Putin là một lãnh tụ có bản lĩnh và quyết đoán. Còn Putin thì cũng khen Trump là một người thông minh. Cả hai đều bày tỏ ý định xây dựng quan hệ Mỹ-Nga tốt đẹp hơn sau một thời gian dài căng thẳng đặc biệt gần đây là vì lệnh cấm vận của Obama sau khi Putin đưa quân xâm chiếm Crimea. Dù động cơ thế nào nhưng cuộc tấn công Syria bằng hỏa tiễn tomahawk đã ảnh hưởng tới quan hệ giữa Trump và Putin, chẳng khác nào đánh chó mà không nể chủ. Nga đã phản ứng lập tức bằng cách đình chỉ thoả thuận về hợp tác ngăn chận đụng độ và bảo đảm an ninh trên không với không quân Mỹ. Ngoài ra, Putin cũng điều tàu chiến Grigorovich RFS-494 vào Địa Trung Hải để giám sát tàu chiến của Mỹ. Thủ Tướng Nga Dmitry Medvedev phát biểu trên mạng xã hội rằng hành động của Mỹ là bất hợp pháp và chỉ cần nhích thêm một bước là dẫn đến đụng độ quân sự với Nga. Cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Nga đã kết thúc vào năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết chính thức tan rã. Thế thì những cuộc tấn công mạng do tình báo của Nga đánh vào Đảng Dân Chủ Mỹ cũng như niềm tin vào hệ thống bầu cử tổng thống sẽ khơi mào cho một cuộc chiến khác hay không?
Vladimir Putin sinh ngày 7/10/1952 tại thành phố Stalingrad. Putin là đứa con út thứ ba. Hai người  anh lớn đều qua đời sớm. Có vóc dáng nhỏ và yếu, Putin bắt đầu tập võ Samba của Nga và Judo của Nhật từ lúc 12 tuổi. Lên trung học, Putin học tiếng Đức và nói thành thạo tiếng Đức. Hết trung học, Putin ghi danh học luật tại Đại Học Saint Petersburg State University và ra trường vào năm 1975. Ngay lập tức, Putin gia nhập KGB. Vào năm 1985, Putin được gửi đi công tác tại Dresden Đông Đức cho tới 1990 khi bức tường Ba linh sụp đổ. Trở về Leningrad, Putin được phong quân hàm trung tá. Putin rút khỏi KGB vào năm 1991 để trở thành chính khách và Phó Thị Trưởng Saint Petersburg. Tới năm 1996, Putin quyết định tới thủ đô làm việc cho Phủ Tổng Thống tại điện Kremlin. Tại đây, sự nghiệp chính trị của Putin thăng tiến nhanh chóng. Chỉ ba năm sau, Putin được Boris Yeltsin chỉ định làm Phó Thủ Tướng rồi Thủ Tướng Xử Lý Thường Vụ vào tháng 8 năm 1999. Vào ngày 31/12/1999, Yeltin tuyên bố từ chức và Putin trở thành Tổng Thống Xử Lý Thường Vụ. Trong cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 26/3/2000, Putin thắng với 53% số phiếu. Trong cuộc bầu cử kế tiếp vào năm 2004, tỷ lệ ủng hộ Putin tăng lên tới 71%. Vì Hiến Pháp Nga không cho làm tổng thống 3 nhiệm kỳ liên tiếp, Putin dàn xếp để Thủ Tướng Dmitry Medvedev lên thay thế. Vào ngày 8/5/2008, Putin và Medvedev trao đổi chức vụ với nhau. Putin trao chức tổng thống cho Medvedev và Medvedev lập tức bổ nhiệm Putin làm thủ tướng tiếp tục kiểm soát quyền lực cai trị nước Nga. Sau đó, Medvedev đổi hiến pháp và gia hạn nhiệm kỳ tổng thống từ 4 tới 6 năm.
Vào ngày 4/3/2012, Putin đắc cử tổng thống nhiệm kỳ thứ ba. Vào năm 2014, cuộc cách mạng Cam tại Ukraine dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Viktor Yanukovich. Yanukovich chạy sang Nga cầu cứu. Lợi dụng tình thế hỗn loạn, Putin đưa quân xâm chiếm Crimea thuộc miền nam Ukraine. Ngoài ra, Putin yểm trợ vũ khí và chống lưng cho quân ly khai tại Donetsk và Lugansk thuộc phía đông Ukraine. Tất cả là vì Putin muốn trừng phạt Ukraine vì họ ngỏ ý muốn gia nhập Liên Âu. Vào ngày 30/9/2015, Putin chính thức đưa quân can thiệp vào cuộc nội chiến Syria theo lời yêu cầu của Assad.
Khi Putin mới lên ngôi, kinh tế Nga mới vừa thoát khỏi đà phá sản dưới thời của Yeltsin. Vận may đến với Putin vì giá dầu tăng vọt. GDP tăng trung bình 7% hàng năm cộng với dân số tụt giảm làm thu nhập mỗi đầu người tăng gần gấp đôi. Nhưng từ khi xâm chiếm Crimea, Nga đã bị Mỹ và Liên Âu cấm vận cùng với giá dầu xuống dốc làm kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề. GDP tụt giảm liên tiếp 0.6% vào năm 2014, 2.87% năm 2015 và 0.2% trong năm 2016.
Putin cho rằng sự bành trướng của NATO vào Đông Âu là mối đe dọa an ninh đối với Nga và đã có phản ứng mạnh bằng những hoạt động quân sự. Nhưng sự kiện quan trọng làm thay đổi quan điểm của Putin đối với Mỹ là quyết định đánh Iraq lật đổ Saddam Hussein của Tổng Thống Bush trước sự phản đối của nhiều nước trên thế giới. Trước đó, Nga đã hết lòng ủng hộ khi Mỹ đánh đuổi Taliban và tìm cách vây bắt Osama Bin Laden tại A Phú hãn. Nhưng khi Bush ào ạt đưa quân đánh tan nát Iraq mà không tìm ra được vũ khí giết người hàng loạt thì Putin cho rằng Mỹ hầu như muốn đánh ai thì đánh không coi mọi người chung quanh trong đó Nga ra gì. Một thời oai hùng Liên Bang Xô Viết nay còn đâu. Bằng không thì Mỹ đâu dễ dàng tung hoàng ngang dọc.
Tuy Obama không diều hâu như Bush, nhưng Putin cũng kiếm cớ bày tỏ bất mãn vì sự hậu thuẫn của Obama đối với các cuộc cách mạng mùa xuân Á Rập lật đổ các nhà độc tài tại Tunisia, Ai Cập và Libya. Putin cho rằng Mỹ luôn tìm cách gây rối hoặc lợi dụng thời cơ xen vào chuyện nội bộ của nước khác. Do đó, lãnh tụ phải mạnh bạo đáp trả. Yếu đuối là sẽ bị Mỹ cho ăn đòn. Đây cũng là lối suy nghĩ của Kím Chánh Nhật và Kim Chánh Ân.
Putin chọn cuộc bầu cử tổng thống Mỹ để khai pháo chiến tranh mạng với Mỹ với hai mục đích: một là đánh phá Hillary Clinton người mà Putin cho rằng sẽ tiếp tục đối đầu mạnh mẽ với Nga và hai là đánh vào niềm tin hệ thống bầu cử dân chủ của Mỹ. Hacker và tình báo Nga dễ dàng xâm nhập vào hệ thống mạng của Đảng Dân Chủ đánh cắp tư liệu rồi chuyển cho Wikileaks để xì ra tin mật nhằm bôi bẩn ứng cử viên Hillary Clinton. Rõ ràng, Putin đã bắt đầu chuyển sang thế công để trả đũa cho đòn cấm vận của Mỹ.
Phát súng đầu tiên của Thế Chiến Thứ Ba sẽ bắt đầu bằng con chuột (mouse) hoặc một cái nhấn trên bàn phím. Có nghĩa trước tiên hết là đánh gục và làm tê liệt hệ thống điện tử của đối phương. Sau đó mới là hỏa tiễn nguyên tử. Trước đây thì mọi người đều nghĩ Trump sẽ hòa hoãn với Putin để nắn gân Tập. Nhưng sau hai ngày quấn quít bên nhau tại Mar-A-Lago với những hình ảnh âu yếm gồm có cảnh cháu ngoại của Trump hát dân ca bằng tiếng Quan Thoại cho Tập và phu nhân Bành nghe thì không biết mối tình tay ba sắp tới sẽ diễn ra thế nào.
Riêng đối với người Việt Nam, với nghị trình dày đặc gồm có Bắc Hàn, Syria, Nga, cán cân mậu dịch… liệu Tổng Thống Trump còn có thời gian quan tâm tới các đảo xa xôi ở Trường Sa hay không nơi mà Trung Quốc hầu như đã hoàn tất biến thành các căn cứ quân sự với ý đồ thâu tóm trọn Biển Đông.LS Nguyễn Văn Thân

No comments:

Post a Comment