Saturday, July 8, 2017

Bài viết hay(5148)

Vừa thấy thằng Băc Kỳ bước vô là tui thấy ...hổng hên rồi! Nó kéo ghế ngồi đối diện tui rồi kêu cà phê đen không đường. Hớp một ngụm cà phê, nó khai hoả ngay: ĐM, tui mà làm Tổng Thống VN trong tương lai, tui sẽ đem hết thảy mấy thằng lãnh tụ ra toà án quân sự mà xét xử ngay. Từ ông Diệm - Nhu, ông Thiệu, ông Kỳ, ông Khiêm cho tới ông Hồ, ông Duẫn - Đồng - Chinh - Mười - Anh - Lú - Dũng... Đừng tưởng chết là hết. Cho dù họ chết, tui cũng cho lính đào mồ lên mà quất 100 hèo về cái tội làm khổ dân tộc này. Tui cười khi lần đầu tiên thấy một đứa lên đồng vì ...say cà phê!

Tuổi 20 và quyền tự do phản kháng theo lương tâm

Những cái tên được xiển dương với gương sống dấn thân vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho đất nước Việt Nam ngày càng trẻ hóa và nhiều hơn trong những năm gần đây. Họ là những nam thanh nữ tú đang độ tuổi 20, lứa tuổi của những ước mơ, khao khát, hoài bão, lý tưởng và đầy đam mê. Họ tự nguyện ném tuổi thanh xuân đẹp nhất của cuộc đời trong chốn lao tù vì tình yêu quê hương. Họ hãnh diện và vui sướng vì điều đó.
Ngày 03 tháng 7 năm 2017, nhà cầm quyền Hà Nội thông báo cho gia đình Trần Hoàng Phúc biết anh bị bắt và truy tố theo điều 88, bộ luật hình sự. Phúc là ai ? Phúc còn rất trẻ, mới sinh năm 1994, là sinh viên năm cuối khoa luật thuộc Trường đại học Luật TPHCM. Tuy nhiên, vì những dấn thân cho hoạt động dân chủ, nên Phúc bị nhà trường làm khó dễ, và không trao bằng tốt nghiệp.
Phúc là trường hợp mới nhất, nhìn lại hàng thập niên vừa qua, thành phần dấn thân đấu tranh có xu hướng trẻ hóa ngày càng lớn. Lứa tuổi từ 20 đến 30 bị nhà cầm quyền bắt giam cầm tù lên tới con số hàng trăm người. Họ xuất thân từ những sinh viên, học sinh, nhà báo, công nhân và cả những bạn trẻ ở vùng thôn quê, miền núi.
Tại sao họ phản kháng?
Một cựu tù nhân lương tâm chia sẻ: “Chúng tôi nhận thấy bất công tràn lan trong xã hội ngày hôm nay, bất nhân giữa con người với nhau, bất trung của những vị lãnh đạo đối với đất nước và nhân dân, vì lẽ đó, chúng tôi cần phải lên tiếng. Trong tâm hồn chúng ta định sẵn một tình yêu mãnh liệt với quê hương, với đồng bào, cho nên chúng tôi đau đáu, thổn thức, lắng lo trước hiểm họa xâm lăng đất nước mà Trung Quốc đã, đang thực hiện. Lên tiếng, phải lên tiếng, đó là mệnh lệnh của hồn thiêng sông núi và mệnh lệnh của lương tâm mình”.
Thực vậy, biểu hiện của quyền phản kháng mà tuổi trẻ ngày nay đang thực thi chẳng chút mơ hồ, nhưng nó rất hiện hữu, rất chân, rất thiện và khẳng định vai trò, giá trị phẩm giá của con người một cách hoàn hảo.
Cho dù chế độ cộng sản dùng những điều luật mơ hồ, hà khắc để triệt hạ tuổi trẻ yêu nước, thương người nhưng nó chẳng thể khu trừ được lương tâm rộng mở của họ. Không ai được quyền làm trái với lương tâm, nghe theo tiếng lương tâm là hệ quy chiếu cho đời sống đúng đắn. Vì thế lương tâm không cho phép họ tuân phục một thể chế cầm quyền đang chống lại các quyền căn bản của con người.
Trong bất cứ đất nước nào, công dân cần phải thượng tôn pháp luật. Tuy nhiên không loại trừ những sáng kiến và phản kháng có thể có của người dân, vì không phải lúc nào pháp luật cũng được thiết định để phục vụ và điều tiết xã hội mà nó chỉ phục vụ một nhóm lợi ích. Và khi mà người dân thấy được những bất công thì sự phản kháng lại càng cấp thiết và đáng trân trọng để xây dựng xã hội tốt đẹp, công bằng hơn chứ không phải là cầm tù họ.
Và họ chấp nhận hi sinh để cứu đất nước.
“Tương lai chúng tôi, con cháu chúng tôi cần phải có tự do đích thực nên hiện tại chúng tôi sẵn sàng đánh đổi nó trong song sắt nhà tù của chế độ độc tài cộng sản này” –Cựu tù nhân lương tâm trẻ tuổi nói.
Tuổi trẻ là đam mê, nhiệt huyết, tuổi trẻ cháy bỏng trong tình yêu, tình yêu đôi lứa, tình yêu đất nước, tuổi trẻ cũng dần trưởng thành trong nhận thức về thực tại xã hội, nhân tình thế thái.
Đừng tự biến mình thành một con rô bốt cúi phục trước cường quyền. Đừng để tâm hồn trở nên tê liệt, sơ cứng trước cảnh tượng đất nước điêu linh. Đất nước này đang rỉ máu, xã hội này đang trở nên bất nhân, hệ thống lãnh đạo trở nên hèn nhát trước giặc thù bành trướng. Đất nước này đang như là một sa mạc khô héo, chính vì thế hơn bao giờ hết lý tưởng sống, lòng nhiệt huyết, đam mê của tuổi trẻ cần được gieo vào đó. Nó có thể chết đi để cải hóa sa mạc trở thành mảnh đất mầu mỡ trù mật mà nảy mầm ra lá đơm bông.
Cảm ơn đời, cảm ơn những bạn trẻ đang sống một cuộc đời có mục đích sống rõ ràng, họ không né tránh, thờ ơ, vô cảm trước vận mệnh của đất nước, nhưng lại dìm mình vào những đau khổ, hi sinh để nâng đất nước lên khỏi nơi tối tăm, khỏi vùng vực thẳm.
Đất này trong thịt tôi
Nước này trong máu tôi
Lương tâm của tôi reo hò
Lòng tôi hớn hở mừng vui
Việt Nam hai tiếng Tự Do
07.7.2017
Paulus Lê Sơn/Tác giả gửi tới Dân Luận

“Đảng sân golf” và “thằng Anh Lịch Sử”

Người viết đã nảy ra mấy ý trên ngay sau khi đọc qua bản tin về báo cáo của Thượng tướng Lê Chiêm trước Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong buổi làm việc tại Sài Gòn ngày 23.6.2017.
Tướng Chiêm là Thứ trưởng Quốc phòng, đã báo cáo với thủ tướng chuyện “sân golf trong Phi trường Tân Sơn Nhất”, cho biết vấn đề này “là do yếu tố lịch sử để lại” và “việc xây dựng sân golf đã được thủ tướng chính phủ và 7 bộ ngành liên quan phê duyệt, chấp thuận.” [1]
“Do lịch sử để lại” nhưng sao còn liên quan đến “thủ tướng và 7 bộ ngành”? Sự tréo ngoe này bắt chúng ta nghĩ đến ý niệm tréo ngoe “Thằng anh Lịch Sử”.
Nếu cụm từ này có hai “tứ” là “thằng anh” và “thằng Lịch Sử” thì để hiểu rõ lý do, chúng ta cần điểm tên qua từng… “thằng” một.
Thứ nhất là “thằng anh”. Hiếm ai gọi anh mình là “thằng” cả, trừ phi anh ta này là kẻ chẳng ra gì về mặt trí tuệ hay đạo nghĩa, hoặc cả hai.
Giao tiếp ở đời, thỉnh chúng ta lại nghe ai đó lôi anh mình ra mắng: “Thằng anh của tôi nó ngu quá…” rồi kể ra một loạt những hành động ngu đần của anh ta, nào là để kẻ khác cướp hết đất, hết nhà, nào là để vợ con bán đứng mình, cắm sừng mình v.v...
Lại có kẻ hậm hực vì ông anh của mình là kẻ bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu, xem máu mủ trong nhà không ra gì, lại a tòng với người ngoài mà dày xéo mồ mả hương linh của ông bà, tổ tiên: “Thằng anh của tôi là thứ trời không dung, đất không tha, thứ ăn thịt người mà không cần chấm muối, chỉ trừ bộ xương của cha tôi nó chưa đào lên chẻ ra làm quân bài mạt chược thôi, không có việc gì mà nó không từ...
“Thằng anh” thì đại khái như vậy. Còn “thằng Lịch Sử” thì đã đi vào văn học dân gian hiện đại như là một danh từ riêng, là một trong những chuyện tiếu lâm giúp dân ta xả xú bắp khá hiệu quả trong cái thời ăn cơm độn nhưng phải hùng hục “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.
Chuyện kể rằng một anh cán bộ Mặt Trận xã về thôn vận động nhân dân đôn đốc con em tham gia nghĩa vụ quân sự và xuất tiền mua công trái để xây dựng Thủy Điện Thác Bà. Sau khi nêu hai chỉ tiêu thật cao mà huyện đã giao cho xã, anh cán bộ này hùng hồn: “Lịch sử đã giao phó thì bà con xã ta hãy gánh nhận, lịch sử đang nhìn vào thì mong rằng bà con xã ta hãy tiếp tục truyền thống vung đất cách mạng, lịch sử đang mong đợi thì bà con xã ta hãy…”.
Anh ta đang ngon trớn đọc bài đã luyện sẵn thì một cụ già thuộc lại “có công với cách mạng” đứng phắt dậy, hầm hầm, nói như muốn nhảy vào họng anh ta: “Lịch Sử là cái thằng bố láo nào mà giao cho xã ta chỉ tiêu cao như thế”.
“Thằng Lịch Sử phản động”
Nếu theo dõi thật kỹ ngôn từ của báo chí chính thống thì “Lịch Sử” không chỉ là một “thằng bố láo” mà còn phản động nữa. Vì bao nhiêu “tồn tại” của chế độ ta đều do nó mà ra cả.
Các đồng chí lãnh đạo đảng nhà nước -- hay các thư ký, trợ lý viết diễn văn -- có thói xấu là hay dẫm lên các quy tắc ngữ pháp để “trái khoáy hóa” tiếng Việt. Xã hội có gì bất ý, tiêu cực, tóm lại là những điều làm cho các quan chức lãnh đạo cảm thấy xấu hổ, là thứ mà về mặt ngữ pháp chúng ta phải diễn đạt bằng một danh từ, họ lại ngang phè gói gọn nó bằng động từ “tồn tại”. Hậu quả là bài diễn văn “tổng kết” hay “đánh giá tình hình chung” nào cũng… tồn tại cái sáo ngữ “biết rồi khổ quá nói mãi”: “Bên cạnh những biến chuyển tích cực (hay ‘ưu điểm’, ‘tiến bộ’ v.v..) vẫn còn một số tồn tại nhất định”.
Một trong những “tồn tại nhất định” đang làm xã hội sục sôi là cái sân golf Tân Sơn Nhất. Máy bay kẹt đường bay trên trời hay kẹt bãi đỗ: mặc; giao thông kẹt cứng bên ngoài phi trường, mặc; trời mưa nước ngập phi đạo, cũng mặc: cái sân golf và hàng loạt quán nhậu nhà hàng phục vụ vẫn tà tà… tồn tại.
Tại sao “tồn tại” ấy có thể… tồn tại ngay giữa vị trí trọng yếu của quốc gia đang bị áp lưc quá tải qua nhiều năm như vậy?
Theo lời của Tướng Chiêm thì cơn cớ là “do lịch sử”! Thử mang lời vàng ý ngọc của Tướng Chiêm đi google, chúng ta sẽ tìm thấy “lịch sử” trở thành một thứ thân tằm gánh chịu trăm dâu với các bài báo như thế này:
- Lạm phát vụ trưởng, vụ phó ở Bộ KH&ĐT: 'Do lịch sử để lại'
- Một sở có 6 phó giám đốc: Do lịch sử để lại?
- Tồn tại về nhà đất do lịch sử để lại - khó cũng phải làm –
- Trạm thu phí đặt nhầm chỗ: Do lịch sử để lại –
- Vỉa hè trước cổng Sở TNMT Hải Phòng thành bãi đỗ xe: Do lịch sử để lại
- Lương giáo viên mầm non không đủ sống do... lịch sử để lại
- Hơn 20 người họ hàng cùng làm 'quan' một xã là do... lịch sử để lại ...
Bổ nhiệm anh em và vây cánh tràn lan: “do lịch sử để lại”; xây trạm thu phí BOT tùy hứng khiến dân kêu trời: “do lịch sử để lại”; cả cái vỉa hè thành bãi đỗ xe hay lương không đủ sống, cũng là “do lịch sử để lại”.
“Nếu cần thì Satan cũng có thể viện dẫn kinh thánh” còn các quan chức của chế độ ta thì đụng đâu cũng lôi đầu lịch sử ra trút bỏ trách nhiệm. Nói tóm lại, toàn bộ những yếu tố chính trị - xã hội khiến dân ta oán thán, khiến đất nước ta lạc hậu thua sút các láng giềng từng thua kém láng giềng từng thua xa mình đều là do “lịch sử” cả!
Nếu cụ già trong chuyện tiếu lâm kia xuất hiện, cụ sẽ quá tháo rằng “Lịch Sử” là cái thằng đéo nào phản động thế, sao không lôi cổ nó ra bắn quách hay bắt đi cải tạo?
Nhưng “thằng” ấy là ai, muốn bắn, muốn bắt đi cải tạo hay công bằng hơn là truy tố ra tòa thì phải có tên có tuổi cụ thể chứ?
Phải có ông quan nào đó ở Hải Phòng ký giấy phê duyệt thì vỉa hè trước trụ sở Sở Tài nguyên & Môi trường mới thành bãi đổ xe chứ?
Phải có sự chia chác giữa nhóm lợi ích nào đó với quan chức nào đó thì các trạm BOT mới mọc lên ngang phè chứ?
Phải có nhóm quan nào đó phù phép để biến nhà mượn của dân làm cơ quan thành nhà riêng của mình thì dân mới vác đơn kêu oan và đòi nhà suốt mấy chục năm chứ?
Rõ ràng phải có tên, có tuổi, chó chức vụ cụ thể chứ không thể nói khơi khơi “do lịch sử”.
Cũng như “tồn tại” giữa Phi trường Tân Sơn Nhất.
Theo Tướng Chiêm thì “việc xây dựng sân golf đã được thủ tướng chính phủ và 7 bộ ngành liên quan phê duyệt, chấp thuận” thì vấn để phải làm tới nơi tới chốn là ông thủ tướng nào đã phê? Bộ trưởng nào đã duyệt? Và ông “ngành trưởng” nào đã ký?
Tạm gọi bọn này là “đảng sân golf” và đê tuy tìm lại lịch của đám này, chúng ta phải tìm hiểu hành tung của chúng và “lịch sử” của Tân Sơn Nhất.
“Đảng sân golf”
Cuối năm 2007, do áp lực quá tải, ngành hàng không đề nghị chính phủ cắt lô đất quân sự rộng 30 ha “nhàn rỗi” làm chỗ đáp máy bay và nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gật đầu đồng ý cái rụp. Nhưng cánh quân sự không chịu nên Dũng phải chiều, trở mặt 180 độ để ký quyết định 1946/2009 “về quy hoạch sân golf”.
Bánh ít trao đi, bánh quy trao lại và năm 2010 khi sinh mạng chính trị Dũng ở trong tình thế chuông treo sợi chỉ vì vụ Vinashin thì chính phe quân đội đã nhảy ra ứng cứu. Tại diễn đàn quốc hội, nhiều đại biểu đòi lôi cổ thủ tướng ra hạch tội nhưng rồi phe quân đội đã nhảy ra phản pháo: dẫu gì thủ tướng cũng là… thủ tướng, không thể có kiểu phê bình chỉ trích thủ tướng theo kiểu này.
Sinh họat bề nổi tại quốc hội, cơ quan chẳng có thực chất quyền lực mà đã thể thì cuộc đấu đá trong chốn thâm cung còn dữ dội đến nhường nào. Không rõ phe quân đội dàn trận thế nào, và Dũng quyến biến ra sao, kết quả Đại hội đảng thứ 11 (tháng 1 năm 2011) làm nhiều nhà bình luận thời cuộc chưng hửng: Dũng chuyển bại thành thắng, không chỉ thoát nạn mà còn chiến thắng vẻ vang!
Nhưng đến năm 2015, trước nhu cầu khẩn cấp về bãi đỗ và thấy dư luận kêu quá, phía quân đội cũng cảm chột dạ hay kỳ kỳ sao đó nên nhường cho ngành hàng không 7.3 ha. Dĩ nhiên đây chỉ là muối bỏ biển và phần đất “trả lấy thảo” này chẳng thấm vào đâu, Tân Sơn Nhất vẫn phải hoạt động trong cảnh quá tải, nhiều chuyến bay đến nơi phải bay lòng vòng chờ trên không cả tiếng đồng hồ tốn kém vô cùng lớn, gây mất an toàn và làm nản lòng nhiều hãng hàng không quá cảnh.
Tháng Tám năm câu chuyện lại bùng lên khi “dư luận” yêu cầu “Ủy ban kiểm tra Trung ương đảng” vào cuộc. Như có sự đạo diễn, bật đèn xanh từ trên, vấn đề lại làm nóng các diễn đàn, từ các phóng sự trên báo hay các cuộc thảo luận tại các cuộc “gặp mặt cử tri”. Sau nhiều tuần tranh cãi, ngày 21.2.2017 quân đội tạm lui một bước, trả 21 ha đất bằng cách chuyển Lữ đoàn 918 và Trung đoàn 917 không quân về Biên Hòa.
Chúng ta thấy gì ở đây?
Bọn họ có thể dời hai trung đoàn không quân bảo vệ Sài Gòn là “thủ đô kinh tế” nhưng không chịu dời cái sân golf. Rõ ràng thế lực của “đảng sân golf” này có thể khuynh loát cả vận mạng quốc gia. Sự việc càng khiến dư luận bất bình hơn, báo chí càng tấn công ráo riết hơn và phút mong đợi đã đến.
Chiều tối ngày 12.6.2017, Thủ tướng Phúc công bố quyết định: “khẩn trương nghiên cứu làm thêm đường băng số 3 tại phi trường Tân Sơn Nhất”.
Tuy nhiên ít ai chú ý đến sự trùng hợp này: ngay sau tuyên bố của Phúc, có vẻ như phe quân đội đã phản công bằng vụ Đồng Tâm. Tối 13.6.2017 Ban An ninh của Công an Hà Nội Nội công bố quyết định “khởi tố” người dân xã Đồng Tâm, thuộc huyện Mỹ Đức, ngoại thành Hà Nội, dù trước đó ngày 22.4.2018 chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung, đã cam kết với bằng văn bản là sẽ không truy tố họ,
Điểm đầu tiên ai cũng có thể thấy là quyết định trên đã “nhổ” vào mặt ông Chung. Ông này trước đây là Thiếu tướng Giám đốc Công An Hà Nội, Ban an ninh Công an Hà Nội khó mà qua mặt cựu giám đốc của mình nếu không có sự giật dây của các thể lực còn cao hơn ông ta.
Thế lực này phải đứng về phe nhóm lợi ích quân đội vì cuộc tranh của nông dân Đồng Tâm là liên quan đến kế hoạch thu tóm đất đai của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), công ty viễn thông trực thuộc Bộ Quốc phòng, là tập đoàn kinh doanh duy nhất có tổng giám đốc là một ủy viên trung ương đảng và có tổng thu nhập 2 tỷ Mỹ kim (2015).
“Chính phủ lấy Tân Sơn Nhất từ trong tay tôi à? Ừ, thì cũng được, nhưng nhớ nhé, chúng tôi sẽ không nhả Đồng Tâm ra đâu!”, phải chăng đó là thông điệp của phe quân đội?
Quân đội phải phục tùng quốc gia nhưng qua các thông tin trên chúng ta đã thấy là quốc gia phải phục tùng quân đội, và do đó tài sản quốc gia đã trở thành túi riêng của quân đội!
Vấn đề này đã khởi sự như thế nào?
“Đất quân đội”
Đó là tên một tiểu mục trong Chương 18: “Tam nhân phân quyền”, trong cuốn Bên thắng cuộc - - Quyển II: Quyền bính của Huy Đức. Xin trích một vài đoạn có những thông tin liên quan:
Tướng Lê Đức Anh có một quyết định khác làm đổi đời nhiều sỹ quan, đó là quyết định lấy đất doanh trại và đất mà các đơn vị quân đội đang nắm giữ ở các thành phố như Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ, Đã Nẵng… chia cho cán bộ xây nhà…
[…] Ông Lê Văn Năm, khi ấy là Viện trưởng Viện Quy hoạch Thành phố Hồ Chí Minh, nói: “Thành phố biết trước những khu đất này sẽ được chuyển giao cho mục tiêu dân sự nên muốn chủ động quy hoạch để phát triển đồng bộ. Nhưng, những năm 1987, 1988, mỗi lần vào khu vực Tân Sơn Nhất hay Hoàng Hoa Thám, chúng tôi đều phải xin phép trước. Chủ tịch Thành phố Phan Văn Khải dặn: Giữ thân, Lê Văn Năm ơi. Tôi đến Quân khu 7 xin cho làm quy hoạch, làm không công, tôi nói: Làm xong sẽ trình các anh trước. Nhưng chỉ khi chia đất, xây nhà xong, quân đội mới giao cho Thành phố. Chúng tôi lại phải điều chỉnh quy hoạch, khép mối các tuyến đường vừa mở”.
[…] Theo ông Lê Văn Năm, khi Thành phố trình phương án Quy hoạch Tổng mặt bằng, dự kiến bắc bốn cây cầu qua sông Sài Gòn ở hướng Thủ Thiêm, ông Lê Đức Anh nói: “Tại sao các cậu đòi nhiều cầu thế, trước nay Sài Gòn chỉ có một cầu cũng đủ kia mà!”. Theo quy định, Bộ Chính trị trực tiếp xem xét và quyết định quy hoạch của những thành phố như Hà Nội, Sài Gòn. Thay vì dự báo mức tăng trưởng để phát triển hạ tầng tương ứng, các nhà quy hoạch phải “vẽ” một thành phố chỉ với quy mô dân số mà Bộ Chính trị phê duyệt. Theo ông Lê Văn Năm: “Năm 1993, Bộ Chính trị yêu cầu khống chế quy hoạch Thành phố ở quy mô 5 triệu dân. Khi đó, chúng tôi đã thấy là không thể nào đáp ứng yêu cầu. Năm 1998, Bộ Chính trị phải đồng ý điều chỉnh quy mô dân số Thành phố lên 10 triệu”.
Trở lại với Tân Sơn Nhất thì thời Việt Nam Cộng Hòa Phi trường này có tổng diện tích 3,000 ha, trong đó vành đai phòng thủ với những cọc rào kẽm gai bên ngoài chiếm một diện tích khá lớn. Đây là điều dễ hiểu vì phi trường này là mục tiêu của bao nhiêu trận tấn công ác liệt.
Sau năm 1975 quân đội “tiếp thu” toàn bộ các căn cứ quân sự và doanh trại của quân đội miền Nam, trong dó có phần đất trên của Tân Sơn Nhất. Như đã thấy ở trên, khi Lê Đức Anh lên làm Bộ trưởng quốc phòng (1987 – 1991) thì tài sản quốc gia trở thành tài sản riêng của Bộ Quốc phòng. Có quyền, kẻ từng là cai đồn điền cao su này đã xem đất này như là cái… đồn điền riêng của quân đội nên cho phân lô, cấp cho các sĩ quan quân đội.
Không rõ trong chủ trương này Tân Sơn Nhất bị teo tóp bao nhiêu, nhưng nếu nói về lịch sử “cắt xẻ” Tân Sơn Nhất, chúng ta phải bắt đầu từ Anh.
Từ bước đi của Anh, Tân Sơn Nhất ngày càng teo tóp. Nó không còn là mục tiêu của các cuộc tấn công quân sự như trước năm 1975 nữa nhưng “vành đai phòng thủ” của Không quân VNCH xưa bị biến thành “vành đai lợi nhuận” của nhóm lợi ích quân đội, chi riêng phần bị “chuyển đổi mục đích” thành sân golf, nhà hàng, khách sạn đã rộng đến 175 ha.
Dĩ nhiên chuyện cắt xẻ phi trường để dẫn đến cái sân golf hiện tại còn nhiều mắc mứu khác. Sân golf được xây dựng vào năm 2010, trực tiếp liên quan đến cha con Phùng Quang Thanh – Phùng Quang Hải nhưng đầu mối của sự cắt xẻ là từ Anh.
Tướng Chiêm nói cái sân golf ấy là “do lịch sử để lại” nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể nhận diện ra ngay: ngoài Lê Đức Anh ra thì có ai khác “trồng khoai đất này”?
Nhưng ông tướng này còn để lại chuyện “do lịch sử” nhức nhối khác, trong đó đau nhức nhất là “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử”.
“Gạc Ma - Vòng tròn bất tử”
Đó tên là cuốn sách tập hợp từ các bài báo do nhiều nhà báo thực hiện, chủ biên là Lê Mã Lương, Thiếu tướng, cựu Giám đốc Bảo tàng Quân đội, thời chiến từng được phong “Anh hùng Lực lượng vũ trang”.
Các bài báo này nói về 64 bộ đội Hải quân Nhân dân Việt Nam bị bọn “bành trướng bá quyền Trung Quốc” sát hại ngày 14.3.1988 trên đảo Gạc Ma, sau khi bị cấp trên ra lệnh là “tuyệt đối không được nổ súng”.
Trên đã ra lệnh vậy, họ trở thành những bia sống cho quân Trung Quốc nả đạn và trận đánh “cố ý thua” này đã xoay chuyển hẳn thế cờ Biển Đông. Từ chỗ “không đất cắm dùi” tại Trường Sa, Trung Quốc đã chiếm cứ đảo này vả mở rộng sự hiện diện, tiến đến việc xây dựng các đảo nhân tạo ngày nay, uy hiếp nghiêm trọng an ninh của Việt Nam.
Cuốn sách trên được công ty First News thực hiện năm 2014 với mục đích “tưởng nhớ 64 liệt sĩ hy sinh tại bãi đá san hô Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa Việt Nam ngày 14.3.1988”, dự tính sẽ phát hành vào ngày 27.7.2014, tức ngày “Thương binh Liệt sĩ”.
Thế nhưng sau mãi đến nay, sau khi chuyền tay qua 13 nhà xuất bản khác nhau, Cục Xuất bản vẫn không cho phép với lý do rất mơ hồ, lãng nhách. Thí dụ lúc Nhà xuất bản Thuận Hóa và Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM đồng ý in sách thì Cục Xuất bản bác bỏ vì hai nhà xuất bản này “không có chức năng in các sách lịch sử về quân đội”.
Lý do rất dễ hiểu: cuốn sách này chẳng khác nào nào một bản cáo trạng gián tiếp hạch tội Lê Đức Anh?
Cáo trạng này đã được chính Tướng Lương phơi bày vào ngày 14.6.2014 trong cuộc hội thảo “Minh Triết Biển Đông”. Video bài phát biểu đã được ghi lại và đưa trên mạng youtube. Trong cuộc hội thảo Tướng Lương không nêu đích danh mà chỉ nói “một đồng chí lãnh đạo cấp cao”.
Dĩ nhiên, Lê Đức Anh – lúc đó là Bộ trưởng Quốc phòng - là người duy nhất có quyền ra lệnh bộ đội không được nổ súng.
Theo Tướng Lương thì trong cuộc họp của Bộ chính trị diễn ra sau đó, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch - người có lập trường chống Trung Quốc – đã đập bàn chất vấn: “Ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?
Các nguồn tin “thâm cung” khác cũng xác nhận việc này, cho biết trong cuộc họp trên ông Thạch đã đứng dậy chỉ vào mặt Anh chất vấn: “Nó không có gì, anh lại tạo cho nó chỗ đứng ở Trường Sa, làm thay đổi hẳn bàn cờ chiến lược, hình thành thế xôi đỗ rất nguy hiểm”.
Tuy nhiên lúc đó Anh có sự ủng hộ của Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười. Đây là ba nhân vật chủ chốt trong vụ “đi đêm” với Trung Quốc trong Hội Nghị Thành Đô 1990. Cả ba đã nhận áp lực từ Trung Cộng là loại bỏ Nguyễn Cơ Thạch vì quan điểm chống Trung Quốc. Sau đó năm 1992 Lê Đức Anh trở thành chủ tịch nước.
Hiện đã về hưu nhưng Anh vẫn tiếp tục thao túng chính trường, sử dụng vây cánh của mình ở để ngăn chặn việc phơi bày tội bán nước, cụ thể ở đây là tội cố ý làm mất Gạc Ma.
Tại sao cuốn sách trên không được xuất bản, chẳng lẽ phải giải thích là “do lịch sử để lại”?
Hơn ai hết, với Tướng Lê Chiêm thì cái cụm từ “Thằng anh Lịch sử nói trên trở nên cực kỳ hàm súc.
Là Thượng tướng, lại là kẻ đi sau, Tướng Chiêm phải xem bậc Đại tướng đi trước mình là bậc đàn anh: từ “anh” trong cụm từ này có thể hiểu như như một danh từ chung viết thường: “Thằng anh Lịch Sử”
Nhưng bậc đàn anh này cũng có tên có tuổi và từ này có thể hiểu danh từ riêng viết hoa “Thằng Anh Lịch Sử”.
Bất luận trường hợp nào, “anh” viết thường hay “Anh” viết hoa đều có lý cả, nhân vậy này đều đáng gọi là “thằng” – “thằng bố láo” hay “thằng phản động” -- như lời lẽ của ông già trong câu chuyện tiếu lâm xã hội chủ nghĩa nói trên. Đó là kẻ đáng để thế hệ đi sau sỉ vả như là kẻ đi trước bất tài, bất trí, bất nghĩa và bất đạo.
Thân làm tướng mà đánh trận “cố ý thua”, để mặc lính của mình cho quân thù nhắm bắn như những tấm bia thịt; đã vậy, bao nhiêu năm qua y lại cố tình ém nhẹm, thậm chí cấm cản cả việc hương khói họ? Bất nhân và bất nghĩa như thế, y có khác nào thứ “anh” rất đáng để em mình sỉ vả như là thứ “ăn thịt người không cần chấm muối”?
Để bảo vệ xã hội chủ nghĩa và cũng là bảo vệ các lô đất mà mình đã tự chia cho mình, y chọn con đường đầu hàng và mở cửa cho kẻ thù thò chân vào Biển Đông, uy hiếp nghiêm trọng an ninh và chủ quyền quốc gia của mình. Cái nước cờ chính trị mà y vận dụng này cũng đốn mạt không thua như hành vi của kẻ đào xương cha lên chẻ làm quân bài mạt chược để ngồi xoa với kẻ thù! [2]
Chú thích
[1] Đã ngưng mọi hoạt động xây dựng trong sân golf Tân Sơn Nhất, Huy Thịnh, baos Tiền Phong ngày 23 tháng 06 năm 2017
[2] Sau trận Gạc Ma, Lê Đức Anh đã lọt mắt xanh của Bắc Kinh và là kẻ “se duyên” để đi đến vụ bán nước mang tên “Hội nghị Thành Đô”.
Trung Quốc đã chủ động xúc tiến Hội nghị này để gài bẫy Việt Nam và nhân vật đầu tiên được nhắm là Anh.
Thay vì đến gặp Ngọai trưởng Nguyễn Cơ Thạch, ngày 21.10.1989 Đại sứ TQ tại Việt Nam Trương Đức Duy trực tiếp tới Bộ Quốc phòng gặp Bộ truởng Lê Đức Anh, tỏ ý muốn nói chuyện thẳng với nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Ngay sáng hôm sau, Linh đến Nhà khách Bộ Quốc phòng hội kiến với Duy tại Nhà khách Bộ Quốc phòng. Sau nhiều vòng quan lại, Linh đã đến Thành Đô vào tháng 9 năm 1990 và đẩy Việt Nam vào vòng phụ thuộc Trung Quốc.
Lê Trọng Hiệp/Tác giả gửi tới Dân Luận

Hòa giải hay là trò lố?

Vừa rồi trên một tuần báo văn nghệ của TP HCM lại xuất hiện một bài báo có nhan đề:“Lại đến ngày hà hơi xác chết quân lực VNCH”, nội dung của bài báo tất nhiên lại có sự xuất hiện của cặp đối lập quen thuộc “Cờ đỏ - Cờ vàng” thế nên khỏi cần bàn nhiều đến động cơ của bài báo này thì cũng đủ biết là lập trường của nó là như thế nào rồi và những bài báo có nội dung như bài báo trên là không hề thiếu trong hệ thống thông tin truyền thông, tuyên truyền chính trị ở trong nước.
Có lẽ đã không còn quá xa lạ khi trong nước có thể nghe thấy ra rả tuyên bố của nhà nước Việt Nam là đồng bào hải ngoại là một phần không thể thiếu của dân tộc Việt Nam thể hiện thái độ thiện ý với đồng bào hải ngoại nhưng có vẻ như liên tục xảy ra những mâu thuẫn bởi vì của nhà nước tuyên bố một đằng nhưng cái nhìn của một số cơ quan truyền thông của nhà nước Việt Nam đối với hải ngoại lại là một nẻo, điển hình chính là bài báo trên.
Từ trước đến nay chúng ta có thể nghe thấy nhiều tuyên bố của nhà nước về đồng bào hải ngoại đó là có thể tạm gác quá khứ để hướng đến hòa giải dân tộc, ấy vậy mà trong bài báo trên lại đề cập đến một loạt những sự kiện lịch sử theo quan điểm của hệ thống tuyên truyền từ trước đến nay của nhà nước đối với quốc gia VNCH của miền Nam Việt Nam trước kia, nhằm khẳng quyết cho bằng được quốc gia ở phía Nam vĩ tuyến 17 trước kia là một quốc gia giả hiệu, là ngụy quyền, là tay sai v.v…
Không biết là hệ thống tuyên truyền, cũng như chính nhà nước Việt Nam ở trong nước có bao giờ suy nghĩ rằng nếu như họ lấy hàng loạt các sự kiện lịch sử mà họ cho là “sự thật không thể chối cãi” để gán cho bằng được quốc gia VNCH xưa kia với hàng loạt các tính từ tồi tệ nhất thì ngược lại chính lịch sử của họ cũng có những điều chẳng thể gọi là đáng vỗ ngực xưng tên và cũng là “không thể chối cãi”. Chắc hẳn những người ở miền Nam Việt Nam di cư ra ngoại quốc sau ngày 30/4/1975 sau khi những người Cộng sản tiến vào Sài Gòn chẳng qua là vì họ cũng đã trải qua những ngày tháng ảm đạm dưới chế độ mới rồi, những gì mà họ trải qua với miền Nam trước và sau 75 thiết nghĩ là hoàn toàn trung thực, họ không thể lừa dối sự trải nghiệm đó của bản thân họ và họ quyết định ra đi.Như vậy, âu cũng là do ai???
Có thể thấy chủ trương hòa giải của nhà nước Việt Nam có lẽ sẽ chẳng đi đến đâu nếu như hệ thống tuyên truyền của họ vẫn còn hằng ngày cho ra những bài báo có những quan điểm mang tính chất dè bỉu những người VNCH, nào là châm biếm lễ kỷ niệm của họ, giễu cợt lá cờ của họ, chẳng lẽ nhà nước Việt Nam không hề biết rằng dẫu họ có tuyên bố hùng hồn đến đâu thì cái gọi là chủ trương hòa giải của họ chưa kịp đến tai của những người ở hải ngoại thì đã bị hệ thống tuyên truyền của chính họ phá tan hoang rồi! Như vậy thì cũng đủ kết luận sự “tiền hậu bất nhất” của chủ trương hòa giải này và sẵn sàng xem đó là chuyện hài hước và có thể cười nhạt vào nền chính trị Việt Nam trong nước dưới thể chế hiện nay.
Rốt cuộc thì đây là hòa giải hay là trò lố của bên nào đó???
Hiện Hữu
(*)Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

No comments:

Post a Comment