Tuesday, July 11, 2017

Bài viết hay(5164)

Ngày xưa, tui rất khoái ông Nguyễn Xuân Vinh khi nghe nói là ông làm cho NASA. Ngày nay, tui vô JPL thấy VN làm trong đó lủ khủ luôn nên tui ...cụt hứng. Chưa kể là Tàu, Ấn Độ còn nhiều và làm lớn hơn nữa. Xem ra Mỹ điếm thiệt. Cha mẹ sinh ra và tốn biết bao nhiêu tiền để nuôi con khôn lớn cho tới khi học xong đại học thì đứa nào giỏi cũng muốn làm cho Mỹ. Nhân tài thế giới bị Mỹ hốt hết ráo. Mỹ hưởng lợi nhất bởi nó biết chiêu dụ và xài đúng chổ.

Quân đội: sức mạnh ở đâu?

2015, Trung Quốc đã chính thức cấm quân đội (và cả công an) làm kinh tế. Phần để chặn ngăn nạn tham nhũng từ các nhóm lợi ích tướng tá chóp bu. Nhưng phần chính, để quân đội duy nhất một mục tiêu: tập trung vào chiến đấu. Một trong những chiến trận thuộc diện tiền tiêu của quân đội Trung Quốc những năm gần đây là bồi đắp, quân sự hóa hầu hết các đảo mà họ chiếm giữ thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Trong thời gian đó, quân đội Việt Nam đã làm gì?
Ngoài biển, đã không làm được gì để ngăn chặn dã tâm xâm lược của kẻ thù. Biển đảo bị chúng liếm dần. Trong đất liền thì nóng hực những điểm chiếm cứ, tranh giành đất đai của các tập đoàn quân đội mang danh "kinh tế". Những "cuộc chiến" Đồng Tâm, những "tập đoàn cứ điểm" golf Tân Sơn Nhất...
Cái gì, chứ điểm này phải học ở chính... kẻ thù của mình. Xoá sổ toàn bộ các tập đoàn kinh tế núp danh quân đội. Quân đội là đội quân. Trong đội quân ấy không thể hình thành những lớp trọc phú, đại gia mang hàm tướng tá. Không thể tồn tại một thế hệ lớp lớp những ông tướng chuyên... đi buôn (làm tiền)!
Stop chuyện một tay cầm súng, tay chìa dự án. Dẹp bỏ, rời xa trận tuyến kinh tế tai tiếng này thì quân đội mới mạnh nổi.
Sức mạnh quân đội, đâu phải trông vào đất? Cũng đâu phải ở độ trưởng thành và sức "hùng mạnh" của hệ thống ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, địa ốc, những sân golf, khách sạn, nhà hàng tiệc cưới, vila...?
Đừng để tiếng xấu, rằng súng ống quân đội chỉ chúi mũi xoay nòng về phía nhân dân, tranh giành từng thửa đất bờ xôi ruộng mật của dân.— truongduynhat

Nhân chuyện “không đồ lót không băng vệ sinh” cuả Quỳnh


Chuyện Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh "7 tháng trong trại giam không đồ lót, không băng vệ sinh" chẳng những ngập tràn mạng, mà nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới cũng đã lên tiếng.
Thông tin này, từ chính Quỳnh báo cho luật sư. Tất nhiên có giám sát chặt chẽ của lực lượng quản giáo, và cả cán bộ điều tra. Quỳnh không thể xạo, dựng chuyện vu khống trước mặt họ. 
Nếu không thật, tại sao đến giờ công an Khánh Hoà vẫn im lặng?
Có thể ai đó nghi ngờ. Cũng đúng thôi. Bởi khó ai có thể tưởng tượng nổi tới mức phi nhân tính vậy. Có thể do họ chưa bị bắt giam. Hoặc cũng có thể họ bị bắt giam rồi nhưng may mắn hơn Quỳnh gặp một nơi giam giữ nào đấy "nhân đức" hơn.
Tôi, thuộc trong cái số không có được sự "may mắn" đó, nên tôi tin Quỳnh.
Khi từ trại B14 của Bộ Công an (Tổng cục an ninh) chuyển vào trại Hoà Sơn (Đà Nẵng), tôi đã phát hoảng. Chẳng những không cho mặc quần lót, còn không được đem giấy vệ sinh vào phòng. Tôi hỏi "vậy vệ sinh xong lấy gì chùi?", "tay, dội nước lấy tay quẹt thôi". "Gớm thế, tay vậy sao ăn?". Thằng tù "chim lợn" (án hình sự) cùng phòng ở "kèm" tôi thản nhiên cười, chỉ vào cục xà phòng móp sọp gắn vách tường "quẹt tay vào đấy rửa, xong!".
Kinh tởm.
Chưa kể những ngày hè, nó cúp nước một phát thì còn hơn... chuồng lợn!
Đấy là án chính trị, tôi cũng có ít "tên tuổi", nên bọn trại kiêng nể. Các phòng án hình sự, còn súc vật hơn cả súc vật.
Nhắc vậy, để chia sẻ và thương Quỳnh hơn, cũng như những phụ nữ khác đang chịu cảnh tù đày. Cũng chỉ dám kể, nhắc sơ hai chuyện không được mặc quần lót và không giấy vệ sinh. Chứ thêm nhiều chuyện nữa có người lại bảo "đến mức ấy sao vẫn sống được?". Vâng, vẫn sống và phải sống. Không gì có thể khuất phục Quỳnh, tôi, và những bạn tù bất khuất của tôi. Tù đày, chỉ làm chúng tôi mạnh lên chứ không khiến chúng tôi sợ hãi!— truongduynhat

Chính sách, pháp luật nào của Đảng?


Hình: news.zing

LĐLSVN (Liên đoàn Luật sư Việt Nam) mới có văn bản số 173/BTV-LĐLSVN chấn chỉnh các luật sư, không được phát ngôn theo ý chủ quan trên mạng xã hội, “chưa phù hợp với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước”.
Đọc xong, tôi giật mình. Theo LĐLSVN thì Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) sinh ra chính sách hoặc pháp luật hoặc cả hai (!?)
Pháp luật của Nhà nước, điều này ai cũng rõ. Nhưng Đảng cũng không sinh ra chính sách vì như thế là bao biện, làm thay
“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”  (Từ điển bách khoa Việt Nam).  
Chính sách căn cứ vào đường lối mà đặt ra, ví dụ chính sách đối với đồng bào dân tộc ít người, chính sách đối với vùng sâu vùng xa. Cũng như pháp luật, chính sách cụ thể hóa đường lối.
Còn Đảng chỉ đưa ra đường lối thôi, ví dụ đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối hợp tác hóa nông nghiệp… (mà những đường lối này đều tắc tị hoặc phá sản).
Trên thực tế có thể có chuyện đảng đưa ra chính sách, thậm chí can thiệp vào những việc cụ thể hơn nữa như quyết định bố trí nhân sự vào bộ máy hành pháp. Nhưng đó là chuyện lấn sân. Còn đã nói bằng văn bản thì phải nói theo sự phân công của hệ thống chính trị.
Sự nhầm lẫn này thật đáng tiếc nhất là trong văn bản của LĐLSVN - tổ chức phải nắm vững luật hơn ai hết.
Trở lại chuyện chấn chỉnh các luật sư. LĐLSVN muốn tỉa tót, nhào nặn các luật sư theo khuôn mẫu của Đảng, tước đi quyền nói năng hàng ngày của họ. Thiết tưởng, đã là luật sư thì phải thượng tôn pháp luật và chỉ chấp hành luật pháp là đủ . Cũng như mọi công dân khác, họ căn cứ vào pháp luật,  điều gì cấm và điều gì không cấm để phát ngôn hay hành nghề. Họ không cần biết đến đường lối của Đảng ra sao vì đường lối của Đảng đã được cụ thể hóa trong các điều khoản của luật pháp và trong các văn bản pháp qui khác.
Với văn bản này, LĐLSVN tước bớt đi của giới luật sư quyền công dân. Tại sao lại cấm họ bình luận theo ý chủ quan của mình? Trong vai trò bào chữa, nếu họ chỉ được nói những điều theo kết luận của cơ quan nhà nước thì luật sư làm gì được cho thân chủ đây khi công tố, hội đồng xét xử buộc tội thân chủ của họ một cách oan ức? Trong trường hợp luật sư biết rõ những tình tiết chứng minh thân chủ bị oan sai nhưng vì chưa có “kết luận của cơ quan nhà nước”, luật sư cũng phải ngậm miệng sao?
Nói và làm theo pháp luật đó là nghĩa vụ và quyền lợi của công dân chứ không thể nói và làm theo các cơ quan nhà nước khi rất nhiều cơ quan nhà nước làm cũng sai mà ban hành văn bản cũng sai. Chính luật sư, giới trước hết có khả năng vạch ra những cái sai đó.
Văn bản của LĐLSVN không chỉ nhầm lẫn vai trò của Đảng mà còn muốn tước đi của luật sư những quyền tối thiểu như quyền bày tỏ chính kiến, hạn chế tư duy sáng tạo của luật sư. LĐLSVN muốn biến nốt số luật sư có chính kiến ít ỏi còn lại thành vật trang trí cho nền pháp luật hiện nay.Nguyễn Tường Thụy

Biệt phủ và việc kê khai tài sản quan chức

Từ "biệt phủ" có lẽ là một từ hoàn toàn mới, vì đến nay nó không có trong từ điển tiếng Việt, kể cả từ điển Hán Nôm. Tuy vậy gần đây từ biệt phủ được báo chí Việt Nam sử dụng một cách rộng rãi để chỉ các dinh cơ đồ sộ của các quan chức ở Việt Nam ở các địa phương. Những biệt phủ đó có chung sự giống nhau về sự "hoành tráng", nguồn gốc tiền xây dựng. Đáng buồn nhất là những biệt phủ thường xuất hiện ở các tỉnh nghèo, dân không đủ ăn cũng là nơi mà nhà nước thường xuyên phải cứu trợ.
Trong thời gian gần đây, chuyện về các biệt phủ khủng của các quan chức đã được xuất hiện dầy đặc với tần xuất lớn trên các mắt báo chí chính thống của nhà nước. Cụ thể là ở tỉnh Yên Bái của các ông Phạm Sỹ Quý- Giám đốc Sở Tài Nguyên Môi trường, ông Đặng Trần Chiêu – Giám đốc Công an tỉnh với giá trị đầu tư tới hàng triệu USD và loại nhỏ hơn là các dinh thự nguy nga bề thế của ông Vũ Xuân Sáng – Giám đốc Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Yên Bái... Nhưng xem ra những biệt phủ vừa nêu, nếu so với biệt phủ của ông Hoàng Quốc Khánh, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Sơn La mà trên mạng xã hội vừa phanh phui kèm theo hình ảnh thì chỉ là con muỗi. Nghĩa là hiện tượng các biệt phủ nguy nga không chỉ là hiện tượng cá biệt của Yên Bái, mà là tình trạng chung ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Điều đó cho thấy, quan chức ở Việt Nam bây giờ không chỉ giàu có mà còn là siêu giàu. Điều đó khiến người ta đặt câu hỏi, cán bộ cộng sản thời bây giờ còn là đầy tớ của dân nữa như ông gì nói hay không?
Điều khá tức cười là nguồn gốc của các tài sản khổng lồ ấy theo giải thích của Thiếu tướng Phạm Lê Xuất, phó chánh thanh tra Bộ Công an, khi nói về những bất cập của việc kê khai tài sản hiện nay đã cho rằng: "Nhiều cán bộ giải trình nguồn gốc tài sản có từ... 'nuôi lợn'". (!?) Điều này đã cho thấy sự coi thường, thậm chí là khinh dân của các quan chức cỡ cấp tỉnh ở Việt Nam. Có lẽ họ không nhận thức được rằng, chỉ một người dân bình thường khi so sánh thu nhập hàng tháng của họ với những khối tài sản không lồ đó, thì chắc chắn có được từ tham nhũng.
Vậy tại sao, các ban ngành kiểm tra, thanh tra, công an, tư pháp lại không phát hiện và xử lý được trong lúc việc kê khai thu nhập của các quan chức nhà nước là điều bắt buộc họ phải thực hiện đầy đủ hàng năm.
Trước đây vài năm từng có vụ biệt thự của ông Trần Văn Truyền - nguyên tổng Thanh tra Chính phủ cũng đã từng ầm ĩ. Nếu bây giờ so dinh thự của ông Truyền thì không bằng một góc của các quan chức cấp tỉnh vùng sâu, vùng xa. Khi đó, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã đánh giá cho rằng: “Với cương vị nguyên là cán bộ lãnh đạo cấp cao, ông Truyền thiếu cân nhắc và chủ quan khi xây dựng công trình biệt thự lớn trong khuôn viên đất rộng, trong khi nhà ở và đời sống nhân dân địa phương trong vùng còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; gây phản cảm và tạo dư luận xấu, lan rộng trong xã hội”. Nghĩa là đảng cầm quyền biết mối nguy hại của việc quan chức giàu có là như vậy, song mọi việc sẽ đâu lại vào đó, giống như ta ném đá ao bèo. Với thể chế chính trị như hiện nay, dẫu họ có muốn diệt trừ cũng không thể giải quyết được, có chăng chỉ là một vài con dê tế thần hoặc các đối tượng thuộc phe nhóm khác.
Vấn đề ở đây là tình trạng dột từ nóc dột xuống, các quan chức cao cấp nhất không được xử lý nghiêm minh thì làm sao xử lý được cấp dưới? Hẳn ai cũng còn nhớ căn phòng khách nội thất xa hoa, sơn son thếp vàng nhưng quá rởm đời thể hiện thị hiếu thấp hèn lại xuất hiện trong biệt thự của người đứng đầu Đảng CSVN là cựu Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh. Hình ảnh đó chẳng khác gì chuyện trước đây, truyền thông đã từng tốn nhiều giấy mực cho một gia đình siêu giàu ở tỉnh lẻ khi tổ chức đám cưới cho con thì bà mẹ chồng tặng vàng cho cô dâu nhiều đến mức đeo trĩu cổ. Tất cả không ngoài mục đích để khoe của của lũ trọc phú vô học. Tình trạng xuất hiện các biệt phủ của các quan chức hiện nay cũng có thể hiểu tương tự như vậy. Họ bất chấp tất cả, thay vì các quan tham biết nhịn nhục "nín thở qua sông", chờ đến khi hạ cánh an toàn khi đó rồi hãy sử dụng số tài sản có được do tham nhũng dưới mọi hình thức. Như ông Trần Văn Truyền - nguyên tổng Thanh tra Chính phủ chẳng hạn, song bọn họ không kiềm chế được tính huênh hoang, thích khoe giàu vả lại họ nghĩ rằng với tiền sẵn có trong tay họ có thể mua được những người có trách nhiệm ở mọi cấp.
Đây là hệ quả của việc người ta giàu có một cách quá nhanh chóng, quá dễ dàng mà không phải nhờ năng lực, của những kẻ có học vấn thấp hoặc ít học. Bọn quan chức bây giờ với các tấm bằng tại chức cử nhân, thạc sĩ thậm chí cả tiến sĩ nhưng chỉ học cho lấy lệ, chủ yếu là mua điểm, mua bằng mà có. Nhưng kiến thức chỉ nhỉnh hơn những người mù chữ mà ta thường thấy. Có người đã mỉa mai chua xót rằng: "Những người ấy giàu quá nhanh, đến mức văn hóa, đạo đức không trưởng thành bằng đồng tiền họ kiếm được." Chủ nhân của các căn biệt phủ, biệt thự ở Việt Nam bây giờ đa phần là những người như vậy. Phải chăng đó là kết quả của các cuộc vận động học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, "coi trọng hồng, không cần chuyên" của các thế hệ lãnh đạo Việt Nam gần đây nay đã đến lúc bộc lộ.
Một câu hỏi được đặt ra là, nguyên nhân góc rễ của vấn đề này là do đâu?
Rất dễ để có câu trả lời là, đây là hậu quả của cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN do một đảng chính trị độc quyền lãnh đạo. Mà ở đó, mọi cơ chế giám sát để điều chỉnh quyền lực bị vô hiệu hóa, bị tê liệt vì bị các lệnh miệng từ trên xuống hoặc chính các cá nhân chịu trách nhiệm về việc này bị mua bằng đồng tiền. Như ông Trần Văn Truyền - nguyên tổng Thanh tra Chính phủ là một ví dụ.
Quan trọng hơn là hệ thống báo chí vốn được coi là cơ quan quyền lực thứ tư, có trách nhiệm giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước và phanh phui các vụ tham nhũng lại thuộc về độc quyền của nhà nước đã bị định hướng. Hiện tượng các bài báo, các phóng sự điều tra động chạm đến các nhóm, các cá nhân thường xuyên bị hạ xuống đã cho thấy sự bất lực của hệ thống báo chí thiếu tự do không còn sức chiến đấu. Cuối cùng là, các hồ sơ kê khai tài sản của các cán bộ các cấp - đầy tớ của nhân dân lại được coi là bí mật quốc gia. Đây là điều duy nhất chỉ có ở Việt Nam, trong khi ở các quốc gia khác, mỗi năm một lần các hồ sơ về tài sản của các quan chức giữ các trọng trách từ thứ trưởng hoặc tương đương trở lên được niêm yết công khai tại trụ sở Quốc hội cho báo chí và mọi người được biết. Tại sao một việc công khai dễ dàng như thế mà họ không chịu làm?
Điều đó đã cho thấy sự dung túng cho tham nhũng một cách có hệ thống, đó là việc phủ nhận việc chống tham nhũng - đánh Chuột để giữ lấy bình.
Sau hội nghị Trung ương 5 vừa qua, đảng CSVN tiến hành việc kiểm tra kê khai tài sản của 1.000 cán bộ lãnh đạo cao cấp. Để rồi xem Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ giải quyết được vấn đề này đến đâu, hay ông Trọng chỉ nói cho lấy lệ?
Ngày 09 tháng 07 năm 2017

BÀN CỜ THẾ ĐỒNG TÂM

Toàn bộ sự việc Đồng Tâm liên quan tới hai khu đất riêng rẽ, nằm kề nhau, tạm gọi là Khu A (47,36 ha) và Khu B (59 ha).
Khu A là đất dự án sân bay Miếu Môn mà dân Đồng Tâm giao cho Chính phủ từ năm 1980. Dự án sân bay treo tới nay đã 37 năm nên để tránh lãng phí, Quân đội đã giao kèo với Đồng Tâm cho phép dân canh tác và nộp tô lợi cho Quân đội suốt hàng chục năm qua.
Thật kỳ khôi khi Quân đội ngồi không hưởng tô lợi trên đất vốn của dân làng trước đây, song để có đất canh tác thì dân Đồng Tâm vẫn chấp nhận, nên mọi chuyện vẫn suôn sẻ bao năm nay, mãi tới khi Viettel gần đây rục rịch có dự án triển khai tại khu vực này.
Khi đó nếu Quân đội chỉ thu hồi lại Khu A này giao cho Viettel thì dù có buồn vì phải mất đất canh tác, dân Đồng Tâm vẫn chịu, vì họ chấp nhận rằng khu đất này, dù gốc gác vốn là của làng đi chăng nữa, cũng đã được giao cho Chính phủ 37 năm trước. Họ hiểu họ chỉ đang mượn đất. Có mượn thì có trả, lẽ thường tình là thế.
Nhưng không, Quân đội và Viettel muốn hơn thế. Họ nhắm cả Khu B bên cạnh, địa thế đẹp hơn với vị trí 2 mặt tiền (phía Nam và phía Tây giáp tỉnh lộ DT429, nối tới đường Hồ Chí Minh). Đây chính là đất đồng Sênh trong cách gọi của dân Đồng Tâm.
Tranh cãi bắt đầu từ đây. Dân Đồng Tâm cho rằng 100% Khu B là đất nông nghiệp của xã, Viettel muốn lấy phải bồi thường theo quy định (ít nhất cũng vài trăm tỷ). Phía Quân đội và Viettel dĩ nhiên không muốn thế, nhưng thái độ lại phức tạp, bất nhất. Khi thì họ kết hợp với chính quyền Hà Nội định bồi thường bố trí tái định cư chỉ cho vài chục hộ dân (gồm cả sĩ quan của họ mới mua đất ở khu này) - tức là gián tiếp thừa nhận đây không phải là đất quốc phòng. Khi thì lại cho quân về rào đất, cắm biển đất quân sự trên toàn bộ khu đất trước khi tiến hành thu hồi.
Để chứng minh quan điểm của mình, cụ Kình - đại diện dân làng Đồng Tâm, đưa ra các lập luận:
Một, và quan trọng nhất: Nếu là đất quốc phòng thì sao Viettel và chính quyền Hà Nội lại bồi thường bố trí tái định cư cho các hộ dân ở đây? Chưa phạt họ chiếm dụng đất quốc phòng đã là may cho họ rồi, sao lại còn ưu đãi đền bù hàng tỷ đồng cho mỗi hộ dân và lập dự án bố trí tái định cư cho họ nữa?
Hai, khi rục rịch có chuyện thu hồi đất, dân làng Đồng Tâm khiếu nại cơ quan chủ quản dự án sân bay Miếu Môn là Quân chủng Phòng không-Không quân thì được Quân chủng đề nghị liên hệ với các cấp chính quyền Hà Nội. Thế nghĩa là đất dân sự, chứ nếu là đất quốc phòng thì sao Quân chủng đẩy trách nhiệm sang cho chính quyền Hà Nội được?
Ba, nếu là đất quốc phòng thì sao chính quyền xã Đồng Tâm bao lâu nay vẫn thu thuế đất nhà ở cho các hộ dân được xã cấp tạm đất?
Bốn, chính quyền Hà Nội xác định tổng diện tích đất quốc phòng ở đây là 236,9 ha, song Lữ 28 - đơn vị trực tiếp quản lý đất dự án sân bay Miếu Môn - lại thừa nhận chỉ đang nắm 208 ha, bằng đúng diện tích Chính phủ thu hồi làm sân bay 37 năm trước. Sao lại có chuyện chênh lệch tới 28,9 ha?
Cả bốn lập luận này đều không dễ phản bác. Tuy nhiên, sau sự kiện bắt giữ cán bộ vô tiền khoáng hậu ở xã Đồng Tâm, chính quyền Hà Nội không còn lựa chọn nào khác phải chứng minh dân làng Đồng Tâm sai. Mà phải là sai hoàn toàn, thì các động thái đàn áp sau đó mới dễ được biện minh.
Chính quyền Hà Nội đã làm thế nào?
Bốn ngày trước khi công bố dự thảo kết luận thanh tra đất đai Đồng Tâm, ngày 3/7, Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung đề nghị HĐND thành phố thu hồi dự án bố trí tái định cư cho các hộ dân trong Khu B (đất Đồng Sênh), với lý do thật lạ thường là “dân ở đó đã có đất, không cần tái định cư nữa” [1] Nghĩa là, để đối đáp lại lập luận thứ nhất của cụ Kình, chính quyền Hà Nội đã phải chấp nhận hi sinh phần nào lợi ích của vài chục hộ dân (hoặc là dân địa phương có liên đới với chính quyền xã, hoặc là các sĩ quan quân đội vừa mua đất đón đầu đền bù tái định cư).
Động thái này mở đường đến việc công bố dự thảo kết luận thanh tra ngày 7/7, trong đó chính quyền Hà Nội kể một câu chuyện hoàn toàn khác. Đó là, chẳng có Khu A, Khu B nào cả, mà tất cả là đất quốc phòng hết. Chính quyền cơ sở đã sai khi buông lỏng quản lý, để mặc các hộ dân lấn chiếm, cho tặng, chuyển nhượng (phản bác lập luận thứ ba của cụ Kình). Bên cạnh đó, sở dĩ cho sự chênh lệch diện tích lên tới 28,9 ha là vì “bị ảnh hưởng của thi công” và đây là đất thực hiện “giai đoạn 2 sân bay Miếu Môn” (phản bác lập luận thứ tư của cụ Kình). Diện tích này chưa được “các đơn vị quốc phòng báo cáo Bộ Quốc phòng để báo cáo Thủ tướng Chính phủ” cũng là một thiếu sót (phản hồi lại lập luận thứ hai của cụ Kình). [2]
Khá khen cho chính quyền Hà Nội chỉ bằng một động thái thu hồi dự án và một bản dự thảo kết luận thanh tra đã phản bác đồng loạt 4 lập luận quan trọng của cụ Kình - người đang dẫn dắt dân Đồng Tâm đấu tranh giữ đất.Không khó để thấy chính quyền Hà Nội chẳng qua chỉ đang tận dụng thế mạnh tuyệt đối của nó so với phía dân làng ở chỗ nắm giữ và tạo ra văn bản, cả cũ lẫn mới, và thông qua đó có thể kể một câu chuyện khác cho những gì đã xảy ra - một thứ sự thật thay thế (alternative fact).
Tuy nhiên, kịch bản một khi đã ngụy tạo ắt hẳn có kẽ hở. Trong câu chuyện mới được kể của chính quyền Hà Nội, kẽ hở có thể nằm ở những điểm sau:
Một là, tháng 5/2016, UBND TP Hà Nội có văn bản 2590 gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban chỉ đạo Giải phóng mặt bằng Thành phố, UBND huyện Mỹ Đức và Tập đoàn Viễn thông Viettel trong đó ghi rõ “kinh phí thực hiện bồi thường hỗ trợ và tái định cư do Tập đoàn Viettel chi trả”. [1] Nếu chính quyền Hà Nội khăng khăng đây là đất quốc phòng và dân lấn chiếm xây dựng công trình thì sao chính quyền Hà Nội lại yêu cầu Viettel bỏ tiền ra bồi thường hỗ trợ và tái định cư?
Hai là, chênh lệch tới 28,9 ha với lý do “bị ảnh hưởng của thi công” là gì? Sao dự thảo kết luận thanh tra gần 2 tháng trời lại có một câu văn tối nghĩa đến như vậy? Đất nở ra vì ảnh hưởng của việc thi công công trình? Câu văn ngô nghê bất thường này cho thấy chính quyền Hà Nội dường như đang túng thiếu một lý do chính đáng trong khi thời gian thanh tra có hạn.
Ba là, từ khi nào và trong văn bản nào có cái gọi là “giai đoạn 2 sân bay Miếu Môn”? Một dự án treo 37 năm chưa có nhát xẻng làm giai đoạn 1, và mãi mãi sẽ không thực hiện, nay lại thu hồi đất cho giai đoạn 2?
Nếu chính quyền Hà Nội tự tin với những lập luận họ đưa ra trong dự thảo kết luận thanh tra, tôi đề xuất thế này: Tổ chức một cuộc đối chất được điều phối bởi các luật sư và có truyền hình trực tiếp trên báo và mạng xã hội (Facebook, Youtube), trong đó từng điểm lập luận của mỗi bên được đưa ra mổ xẻ, tranh luận trước sự theo dõi của công luận. Các văn bản (trong đó quan trọng bậc nhất là tài liệu liên quan đến cái gọi là giai đoạn 2 sân bay Miếu Môn) phải được công khai, và được các luật sư mời giám định độc lập xác định tuổi văn bản, tránh tình trạng dự án năm 1980 và các văn bản về nó lại được tạo lập năm 2017.

Đồng Tâm: Vẫn là lá bài sở hữu toàn dân

Khi bị ông Bùi Văn Kỉnh, một dân làng Đồng Tâm, phản bác dự thảo kết luận thanh tra, cho rằng đất đồng Sênh là do "tổ tiên chúng tôi để lại, chênh 1m cũng là đất, phải đo đạc đàng hoàng", Chánh Thanh tra Hà Nội Nguyễn Văn Tuấn Dũng ngay lập tức viện dẫn "dân tộc Việt Nam" để bảo vệ quan điểm của mình:
"Đất này của dân tộc Việt Nam, sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, không có đất nào là cha ông để lại...Đây là gốc của vấn đề." [1]
Nghĩa là, theo Chánh Thanh tra Hà Nội, hóa ra "dân tộc Việt Nam" đồng ý lấy đất của dân làng Đồng Tâm giao cho Viettel sản xuất kinh doanh, cũng như lâu nay "dân tộc Việt Nam" đã đồng ý cho quân đội lấy đất sân bay Tân Sơn Nhất xây sân golf, và như thế thì không ai được phép ý kiến?
Những ai cho rằng quy định sở hữu toàn dân không phải là vấn đề chính trong tranh chấp đất đai hiện nay ở Việt Nam có thể sẽ nghĩ lại sau khi nghe phát ngôn của ông Chánh Thanh tra, bởi lẽ, họ sẽ tìm thấy ở đây một khía cạnh quan trọng mà họ bỏ quên trong các phân tích thiên về pháp lý của họ:
Quy định "sở hữu toàn dân-nhà nước thống nhất quản lý" theo thời gian đã tạo ra lối nghĩ trong đầu óc cán bộ rằng chính họ chứ không ai khác là chủ của toàn bộ đất đai quốc gia với độc quyền quản lý, và từ đó nảy sinh tâm lý thù địch với bất kỳ người dân nào đòi đất, coi họ như những kẻ cướp đất.
Trong các cuộc cưỡng chế thu hồi đất, luôn có một sự thay đổi tâm lý tinh vi của người cán bộ - từ thủ phạm (đi lấy đất của dân) biến thành nạn nhân (đất này thuộc quyền của mình, dân chiếm, nay mình lấy lại, dân phản ứng thì dân là kẻ cướp), khiến họ tin rằng họ có chính nghĩa khi cưỡng chế đất hoặc xuống tay đánh đập những người đòi đất. Dù niềm tin này là một thứ ngụy tạo đi chăng nữa, nó vẫn sẽ được cán bộ bấu víu càng lâu càng tốt như một thứ trợ lực tinh thần để dàn xếp với lương tâm, rằng họ không phải là kẻ cướp. Niềm tin này chỉ tan biến khi sở hữu tư nhân về đất đai được công nhận. Khi đó, dù vẫn đem quân đi cưỡng chế đất từ dân, nhưng cán bộ không còn hầm trú nào để tránh khỏi bị định danh là kẻ cướp, cả từ dư luận lẫn trong lương tâm của họ nữa.
[1] Clip đối đáp giữa dân làng Đồng Tâm và Chánh Thanh tra Hà Nội ngày công bố dự thảo kết luận thanh tra đất đai Đồng Tâm: http://video.vnexpress.net/tin-tuc/xa-hoi/thanh-tra-ha-noi-tra-loi-khuc-...— nguyenanhtuan

No comments:

Post a Comment