Tuesday, July 11, 2017

Bài viết hay(5167)

Ông bà ta thường nói: không tiền cạp đất mà ăn. Bởi vậy cán bộ Đảng ta ngày nay cứ cạp đất mà ăn riết. Mỗi lần muốn kiếm tiền thì phải đẻ ra dự án để có lý do mà cạp đất của dân. Vui làm sao khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cứ cạp đất mà ăn. Chủ trương cạp đất coi bộ có ăn nên từ từ cạp đất thành quốc sách.  Cạp đất riết rồi giết nhau chỉ vì không còn đất để mà cạp nữa. 

Hoan hô GS Đặng Hùng Võ đã chỉ ra đất Đồng Tâm mà Viettel lăm le nhảy vào không phải đất Quốc phòng theo Luật Đất đai:

TRÍCH: "Như vậy, có thể thấy khái niệm về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh đã được (Luật Đất đai) quy định ngày càng chặt chẽ hơn trên nguyên tắc:

(1) Mục đích quốc phòng, an ninh phải được xác định “thuần túy” gắn với nhiệm vụ bảo vệ đất nước; (2) Mọi diện tích đất do các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang sử dụng vào mục đích làm kinh tế hoặc quốc phòng, an ninh kết hợp làm kinh tế đều không được coi là đất quốc phòng, an ninh.

Nói cách khác, đất đai do các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang sử dụng đều không thuộc phạm vi đất quốc phòng, an ninh, được coi là đất sản xuất nông nghiệp hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp". Ở Trung Quốc (khi dẹp bỏ việc QĐ làm kinh tế ) "thuật ngữ “dịch vụ sinh lời” được sử dụng để thay thế thuật ngữ “làm kinh tế”. Cốt lõi của vấn đề chính là cơ chế “sinh lời”, là nguyên nhân làm xao nhãng nhiệm vụ chính của quân đội là bảo vệ đất nước... Những chính sách như vậy từng bước đã đưa Trung Hoa từ một nước có nền quốc phòng không mạnh trở thành đất nước có lực lượng quân sự hiện đại trên thế giới." (HẾT TRÍCH)



TTCT- Những ngày qua, vấn đề sử dụng đất quốc phòng thu hút sự quan tâm của người dân. TTCT giới thiệu bài viết của GS. TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường, nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan vấn đề này.
clip_image002
Đường Võ Nguyên Giáp (Q. Sơn Trà, Đà Nẵng) trước đây có nhiều đơn vị quân đội đóng quân. Sau thời gian chính quyền Đà Nẵng thuyết phục, năm 2005 quân đội đã đồng ý di dời các đơn vị để có đất cho TP phát triển - Hữu Khá
Câu hỏi lớn nhất được đặt ra đối với khung pháp luật về quản lý và sử dụng đất quốc phòng là: mục đích gì được gọi là mục đích quốc phòng?
Tất nhiên câu trả lời không hề đơn giản, vì mục đích quốc phòng khá đa dạng và phức tạp. Ví dụ một đơn vị quốc phòng sử dụng đất để xây dựng nhà máy sản xuất vũ khí thì có đúng mục đích quốc phòng hay không?
Hay một đơn vị quốc phòng sử dụng đất nông nghiệp ở vùng cao, vùng xa, vùng sâu, nơi vắng dân cư vừa để bảo vệ đất nước vừa được thụ hưởng nông sản thì có gọi là cho mục đích quốc phòng hay không?
Vậy nên sử dụng đất vào mục đích quốc phòng hay kinh tế vẫn không thể có một ranh giới thực sự rõ ràng. Luật đất đai (LĐĐ) đã có thay đổi đáng kể trong góc nhìn về cách quản lý và sử dụng đất quốc phòng, nhưng đều chưa đạt được những tiêu chí hợp lý.
clip_image003
Khung pháp luật về quản lý và sử dụng đất quốc phòng
Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng chưa được quy định cụ thể trong LĐĐ đầu tiên năm 1987.
Tiếp theo trong LĐĐ 1993, khoản 1 điều 65 quy định cụ thể về sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh bao gồm đất để đóng quân; đất làm căn cứ quân sự; đất xây dựng các công trình quân sự, an ninh; đất làm sân bay, ga, cảng quân sự; đất làm kho tàng cho các lực lượng vũ trang; đất làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí; đất xây dựng nhà trường, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang và đất sử dụng làm các công trình công nghiệp, khoa học, kỹ thuật phục vụ quốc phòng, quốc phòng kết hợp làm kinh tế.
Tuy nhiên, mục đích cuối cùng có nội dung “phục vụ quốc phòng kết hợp làm kinh tế” lại không được thống nhất nhìn nhận.
Khoản 1 điều 89 của LĐĐ 2003 đưa ra quy định về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh với hai điều chỉnh so với LĐĐ 1993:
(1) bổ sung mục đích sử dụng đất làm nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân và đất làm trại giam giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý;
(2) bỏ cụm từ “quốc phòng kết hợp làm kinh tế” trong mục đích sử dụng “đất làm các công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh”.
Như vậy, LĐĐ 2003 đã có góc nhìn “khắt khe” hơn với đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh. LĐĐ 2013 vẫn giữ nguyên quy định về đất quốc phòng, an ninh như LĐĐ 2003 và được quy định tại điều 61 và điều 148.
Điều 61 quy định về phạm vi áp dụng cơ chế nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, trong đó không áp dụng cho trường hợp đất để sử dụng vào mục đích “quốc phòng kết hợp làm kinh tế”.
Như vậy, có thể thấy khái niệm về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh đã được quy định ngày càng chặt chẽ hơn trên nguyên tắc:
(1) mục đích quốc phòng, an ninh phải được xác định “thuần túy” gắn với nhiệm vụ bảo vệ đất nước; (2) mọi diện tích đất do các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang sử dụng vào mục đích làm kinh tế hoặc quốc phòng, an ninh kết hợp làm kinh tế đều không được coi là đất quốc phòng, an ninh.
Nói cách khác, đất đai do các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang sử dụng đều không thuộc phạm vi đất quốc phòng, an ninh, được coi là đất sản xuất nông nghiệp hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
clip_image005
Để có con đường Phạm Văn Đồng (Q. Sơn Trà) thông ra biển rộng và đẹp như hôm nay, nhiều đơn vị quân đội đã di dời đi nơi khác để Đà Nẵng có quỹ đất làm đường, chỉnh trang đô thị - Hữu Khá
Câu chuyện sử dụng đất quốc phòng
Đất quốc phòng được hình thành tự nhiên như một câu chuyện lịch sử. Năm 1954 khi giải phóng miền Bắc và năm 1975 khi giải phóng miền Nam, quân đội nhân dân ta đã tiếp quản và sử dụng tất cả đất đai do quân đội thực dân và quân đội chế độ cũ chiếm đóng.
Từ đó biến động tăng giảm không nhiều. Đến năm 2000, tổng diện tích đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh của cả nước là 191.680 ha (không có số liệu tách riêng đất quốc phòng và đất an ninh), trong đó đất an ninh do các đơn vị thuộc Bộ Công an sử dụng chỉ chiếm khoảng 10%, chủ yếu là đất sử dụng vào mục đích quốc phòng.
Theo LĐĐ 2003, đất quốc phòng và đất an ninh được tách riêng thành hai loại riêng biệt. Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng có biến động qua các năm (xem biểu đồ).
Trong tổng diện tích đất quốc phòng như bảng trên, diện tích đất quốc phòng tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc duyên hải miền Trung từ Đà Nẵng tới Bình Thuận, chiếm tới khoảng 50% tổng diện tích đất quốc phòng.
Xét về mặt biến động, diện tích đất quốc phòng được tăng thêm trên 70.000 ha trong giai đoạn 2000 - 2005, tiếp tục tăng khoảng 36.000 ha trong giai đoạn 2005 - 2010 và giảm khoảng 43.000 ha trong giai đoạn 2010 - 2015.
Diện tích đất quốc phòng tăng nhiều trong giai đoạn 2000 - 2010 vì các lý do chủ yếu bao gồm: (1) bổ sung các diện tích đất trước đây do quân đội sử dụng thực tế nhưng chưa đưa vào thống kê đất quốc phòng; (2) Nhà nước giao thêm đất quốc phòng để sử dụng làm sân bay, cảng biển, trường bắn vũ khí hiện đại và nhiều nhu cầu sử dụng khác vào mục đích quốc phòng...
Bên cạnh diện tích đất quốc phòng tăng mạnh, cũng có một số diện tích đất quốc phòng giảm do Bộ Quốc phòng giao lại cho chính quyền địa phương để sử dụng vào mục đích dân sự, cụ thể bao gồm:
(1) đất quốc phòng đã giao cho gia đình quân nhân để xây dựng nhà ở, đã thành khu dân cư phù hợp quy hoạch, nay chuyển giao cho địa phương quản lý;
(2) đất quốc phòng nhưng phù hợp với mục đích phát triển kinh tế, bảo tồn di tích văn hóa, lịch sử... được giao lại cho các địa phương sử dụng;
(3) được cho phép chuyển nhượng cho các nhà đầu tư dân sự để bổ sung ngân sách cho các đơn vị thuộc lực lượng quân đội.
Trong giai đoạn 2010 - 2015 đất quốc phòng giảm khá mạnh, trong đó lý do chủ yếu là Chính phủ quyết định chuyển một phần diện tích thuộc một số hải đảo khác về loại đất sử dụng cho mục đích dân sự.
Ngoài ra, việc rà soát hiện trạng sử dụng đất quốc phòng và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng cũng đẩy mạnh quá trình giao lại đất sử dụng hợp lý hơn cho mục đích phát triển kinh tế cho các địa phương cấp tỉnh quản lý và bố trí sử dụng, hoặc chuyển nhượng cho các nhà đầu tư dân sự để thực hiện các dự án đầu tư.
Suốt thời gian qua, lãnh đạo các tỉnh, TP trực thuộc trung ương đã có nhiều cố gắng trong việc thuyết phục các cơ quan quốc phòng cấp trung ương và cấp tỉnh về ba chuyện có liên quan tới đất quốc phòng.
Một là quy hoạch lại các khu dân cư do các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang tạo lập nhằm giải quyết nhà ở cho gia đình quân nhân để giao về cho địa phương quản lý như đất ở.
Hai là chuyển giao đất có lợi thế về phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa, lịch sử đang là đất quốc phòng về cho các địa phương quản lý và bố trí sử dụng.
Tại Hà Nội, sau một thời gian dài triển khai, Bộ Quốc phòng đã bàn giao lại một nửa thành cổ Hà Nội cho UBND TP để bảo tồn di tích lịch sử, nhưng vẫn giữ lại một nửa để sử dụng vào mục đích quốc phòng, lấy ranh giới là đường Nguyễn Tri Phương.
Ngoài ra, đất quốc phòng thuộc khu vực sân bay Bạch Mai cũ, sân bay Gia Lâm cũ cũng đã chuyển giao một phần nhất định để phát triển hạ tầng giao thông, làm công viên...
Tại các tỉnh, thành thuộc vùng duyên hải miền Trung, các sở tài nguyên và môi trường (TN-MT) đều có nhiệm vụ trọng yếu là thay mặt UBND cấp tỉnh thảo luận, thuyết phục cơ quan quân sự cấp tỉnh giao lại nhiều bãi biển đẹp để phát triển du lịch.
Có thể lấy ví dụ điển hình là bãi biển Mỹ Khê hay bán đảo Sơn Trà tại Đà Nẵng đã được bên quân sự bàn giao lại cho địa phương phát triển du lịch.
Trong nhiều lần trao đổi riêng, anh Nguyễn Điểu, nguyên giám đốc Sở TN-MT Đà Nẵng, đã cho biết nhiệm vụ thuyết phục bên quốc phòng giao lại đất quốc phòng có lợi thế phát triển kinh tế là rất khó nhưng Đà Nẵng đã thành công, tạo lợi thế lớn trong việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Đà Nẵng trở thành TP hiện đại, TP đáng sống.
Ba là việc các đơn vị quốc phòng xin chuyển nhượng lại đất đang sử dụng (chủ yếu “đất vàng”) cho các nhà đầu tư dân sự để thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế.
Có thể lấy ví dụ điển hình trường hợp này là Nhà máy Ba Son của quân đội đã được chuyển nhượng cho VinGroup để phát triển nhà ở và khu đô thị mới. Những vụ chuyển nhượng tương tự với các nhà khách, khách sạn, nơi vui chơi giải trí do quân đội quản lý cũng diễn ra ở nhiều địa phương.
clip_image007
Một phần Hoàng thành Thăng Long đã được Bộ Quốc phòng bàn giao cho UBND TP Hà Nội để bảo tồn di tích lịch sử - Nguyễn Khánh
Bàn thêm về chính sách quân đội làm kinh tế
Quân đội làm kinh tế hay không làm kinh tế không chỉ là chính sách lớn, mà còn là triết lý quốc phòng lớn, cách thức vận dụng còn phụ thuộc vào tình hình cụ thể từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Ở VN hay ở nhiều nước châu Á khác, triết lý quân đội phát triển sản xuất trong thời bình để tự lo hậu cần cho thời chiến đã được áp dụng suốt chiều dài lịch sử nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát triết lý này thành một triết lý lớn hơn: mỗi người dân là một người lính bảo vệ đất nước, mỗi người lính cũng là một người dân trong sản xuất. Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng dựa trên triết lý này.
Từ đây, cơ chế doanh nghiệp quốc phòng tham gia hoạt động kinh tế sinh lợi được hình thành và phát triển.
Khảo cứu kinh nghiệm nước ngoài cũng có thể cho thấy một số chính sách khác nhau được áp dụng. Nhà nước Trung Hoa trong thời gian vài chục năm qua cũng đã có những thay đổi mạnh mẽ trong cách nhìn về chính sách quân đội có làm kinh tế hay không.
Dưới thời Tổng bí thư Giang Trạch Dân, số lượng các đơn vị vũ trang làm kinh tế đã được thu hẹp. Tháng 3-2016, Tổng bí thư Tập Cận Bình đã có thông báo dừng toàn bộ các hoạt động dịch vụ sinh lời của các đơn vị quân đội và cảnh sát vũ trang.
Ở đây, chúng ta cần lưu ý thuật ngữ “dịch vụ sinh lời” được sử dụng để thay thế thuật ngữ “làm kinh tế”. Cốt lõi của vấn đề chính là cơ chế “sinh lời”, là nguyên nhân làm sao nhãng nhiệm vụ chính của quân đội là bảo vệ đất nước.
Những chính sách như vậy từng bước đã đưa Trung Hoa từ một nước có nền quốc phòng không mạnh trở thành đất nước có lực lượng quân sự hiện đại trên thế giới.
Tại các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Pháp... kinh tế quốc phòng là một lĩnh vực phát triển rất mạnh, sinh lợi cao nhưng không do lực lượng vũ trang thực hiện, mà do kinh tế tư nhân thực hiện như các ngành kinh tế khác.
Ví dụ như ở Pháp, doanh nghiệp tư nhân EADS bảo đảm sản xuất mọi loại vũ khí, máy bay quân sự, tên lửa sử dụng vào mục đích quốc phòng. Hay ở Mỹ, Tập đoàn tư nhân Lockheed Martin cũng chế tạo những vũ khí hàng không, vũ trụ cho mục đích quốc phòng.
Quân đội không làm kinh tế, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ luyện tập để trở thành những đội quân tinh nhuệ, sức chiến đấu cao.
Tại VN, kinh tế quốc phòng là lĩnh vực khu vực dân sự không được thực hiện, mà phải do lực lượng vũ trang thực hiện. Nếu không cho quân đội làm kinh tế quốc phòng thì sẽ không phát triển được công nghệ và kinh tế quốc phòng.
Vấn đề được đặt ra là quân đội làm kinh tế theo cơ chế nào và hạn chế trong phạm vi nào thì phù hợp. Hơn nữa, cần tìm lộ trình hợp lý để thực hiện, tạo nên hướng đi mạch lạc trong nhiệm vụ hiện đại hóa quân đội ta và sử dụng đất quốc phòng đúng mục đích, hiệu quả cao.
Việc thứ nhất có thể làm là quân đội không tham gia các hoạt động dịch vụ kinh doanh “sinh lời” trong phạm vi khối kinh tế dân sự đang làm. Các doanh nghiệp quân đội sẽ được cổ phần hóa để trở thành các doanh nghiệp dân sự thông thường và đất quốc phòng đang sử dụng cũng được trả về cho địa phương quản lý.
Việc tiếp theo là các doanh nghiệp quốc phòng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế quốc phòng theo một cơ chế đặc thù, không lấy tiêu chí “sinh lời” riêng làm trọng tâm.
Quy định về chuyển đất quốc phòng sang sử dụng vào mục đích kinh tế
Đất quốc phòng thuộc loại đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, không được tham gia thị trường bất động sản. Việc chuyển đất quốc phòng sang sử dụng vào mục đích khác phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.
Theo quy định tại điểm đ và e, khoản 1 điều 57 và điều 59 LĐĐ 2013, việc chuyển đất quốc phòng sang sử dụng vào mục đích kinh tế phải được phép của UBND cấp tỉnh.
Theo điều 173 LĐĐ 2013, các tổ chức sử dụng đất quốc phòng không được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng cho người khác.
Việc chuyển quyền sử dụng đất phải được thông qua cơ chế Nhà nước thu hồi đất quốc phòng và giao đất cho người khác sử dụng, phù hợp với quy định có thu tiền hoặc không thu tiền sử dụng đất. GS. TSKH ĐẶNG HÙNG VÕ

Thực dụng hay thực tiễn có tên Donal Trump

Những gì tổng thống Donald Trump đang làm trong thế giới ngoại giao hiện đại giữa các siêu cường, chính là đặc trưng tính thực tiễn của chủ nghĩa thực dụng Mỹ. Tính thực tiễn của chủ nghĩa thực dụng đó đã giúp Trump chiếm thế thượng phong áp đảo đối với mọi đối thủ có mặt trong G20 - 7/2017 tại Humbeurg.
Nhưng điều đáng nói là việc Trump có thể đã làm thất bại mọi thủ đoạn theo kiểu khôn lỏi, ma mãnh vốn vẫn giúp Trung Quốc vượt mọi thứ rào cản, vượt lên mọi đối thủ. Đó là thủ đoạn tạo ra sự đã rồi nhỏ giọt, dừng lại trước khi gây ra khủng hoảng, và mỗi sự đã rồi là một bước nhảy lên phía trước và để đối thủ lại phía sau.
clip_image002

Có vẻ như tổng thống Trump đã bắt được cái tẩy đó của Trung Quốc. Trên hồ sơ Triều Tiên, Trung Quốc biến thủ đoạn đó thành trò chơi “bước nửa bước”. Trước mỗi đe doạ áp lực của Mỹ, Trung Quốc lại xăm xắn hành động, làm như hăng hái hưởng ứng, nhưng chỉ bắt đầu rồi dừng trước khi hành động gây tác dụng thực, đợi môt áp lực mới để lại hăng hái bước nửa bước mới. Mục đích là không để Mỹ phát khùng, nhưng không để cái gì Mỹ muốn thành thật.
Trung Quốc tuyên bố cắt nhập khẩu than của Triều Tiên, và một vài chuyến tàu chở than phải quay đầu, nhưng quý I/2017, lượng than nhập khẩu từ Triều Tiên đã tăng 40% so với cùng kỳ. Trung Quốc tuyên bố ngừng toàn bộ hoạt động thương mại, nhưng, theo Reuters, xe ô tô loại sang, xe chở khách, hàng tiêu dùng, lương thực, thực phẩm quá cảnh biên giới Trung - Triều vẫn không giảm tốc độ. Trung Quốc tuyên bố ngưng mọi liên hệ quân sự với Triều Tiên, nhưng không có gì xảy ra trên thực tế. Mật độ và cường độ các lần thử tên lửa chỉ mỗi ngày một tăng. Người ta không giải thích được bằng cách nào, Triều Tiên đạt được tốc độ phát triển kỹ thuật tên lửa nhanh như vậy. Nhà máy của Triều Tiên có trang bị như thế nào để có thể sản xuất các mẫu mới với những tổ hợp kỹ thuật mới phức tạp trong một thời gian ngắn kỷ lục…?
Trung Quốc đang chơi trò ú tim với Mỹ? Triều Tiên sẽ phải có vũ khí bắn tới mọi nơi trên đất Mỹ và sẽ buộc Mỹ phải nhượng bộ hoặc chịu thiệt hại khi cuộc chiến xảy ra? Đó chính là mục tiêu của chính Trung Quốc, không phải của Triều Tiên. Chế độ Triều Tiên không thể bị tiêu diệt và có sứ mệnh phải làm vật thiêu thân cho cuộc chiến Trung - Mỹ. Trump thừa biết như vậy. Triều Tiên là một phần của Trung Quốc. Những gì trông thấy và nghe thấy chỉ là trò diễn. Nhưng cái thời Trung Quốc thôi miên thiên hạ đã qua rồi.
Đấy là chưa kể cả Nga lẫn Trung Quốc đều chơi con bài Triều Tiên với vai một anh Chí Phèo.
Ông Rex Tillerson nói: “...Trung Quốc đã có hành động đáng kể và sau đó tôi nghĩ, vì nhiều lý do khác nhau họ tạm dừng hành động thêm, sau đó họ làm tiếp một số bước rồi lại tạm dừng”.
Ngôn ngữ ngoại giao là loại ngôn ngữ có thể phải đăng được trên thông tin đại chúng. Còn hiểu được thì phải nhìn được phía sau ngôn ngữ đó.
Trump đã bỏ ngoài tai những gì Trung quốc tuyên bố miệng và mặc nhiên coi như Trung Quốc luôn ủng hộ các sáng kiến của Mỹ nhằm chấm dứt nguy cơ hạt nhân của Triều Tiên. Trump đang thực thi nghị quyết của Liên Hiệp Quốc và Trung Quốc có bổn phận ủng hộ.
Trump đưa hạm đội và máy bay ném bom tập trận chung với Hàn Quốc và Nhật bản, Trump ném bom cảnh cáo vào một vị trí giả định trên đất Triều Tiên, Trump trừng phạt các công ty, ngân hàng và các cá nhân làm ăn với Bắc Triều Tiên, Trump cho tàu đi xuyên khu vực Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại đảo Hoàng Sa, Trump bán cho Đài Loan lượng vũ khí trị giá 1,4 tỷ đô la. Trump sẽ không dừng việc lắp đặt THADD tại Nam Hàn...
Trung Quốc đau hơn hoạn, nhưng Tập vẫn phải nhũn nhặn và “hoà nhã” khi gặp mặt Trump tại G20. Có lẽ trong lịch sử ngoại giao, Trung Quốc chưa bao giờ rơi vào tình huống khó xử như hiện nay. Với lối chơi siêu thủ đoạn, với các nước khác, nhất là các nước nhược tiểu quanh vùng Đông Nam Á, Trung Quốc đã quen với sự quy phục và đã quen xử sự theo lối trịch thượng.
Trump đã hành động theo cách thức mà Tôn Tử gọi là “tương kế tựu kế”, dùng chính thủ đoạn “nửa bước” của Trung Quốc để buộc Trung Quốc chấp nhận việc đã rồi do Mỹ hành động. Dù là nửa bước, cũng là đi cùng một chiều, không có lý gì phản đối, và không thể phản đối.
Cùng một lúc, Trump buộc Trung Quốc phải đối phó với cả ba hồ sơ: Đường lưỡi bò, Đài Loan và Triều Tiên. Trên cả ba hồ sơ, Trung Quốc đều bị trói vào mà đánh, đau mà không kêu được.
Có căn cứ để có thể tin được rằng “đường lưỡi bò” đang vuột khỏi tay Trung Quốc, nếu không bằng chiến tranh. Trung Quốc chỉ thích ăn cướp, nhưng sợ chiến tranh, và Trung Quốc chưa bao giờ thắng bất cứ cuộc chiến tranh nào.
Hà Nội hoàn toàn có thể hưởng lợi từ hành động của Mỹ, miễn là đừng có giở trò khôn vặt. Cái khôn vặt theo kiểu ma-cô đã không còn đất sống nữa rồi.
Bởi vì, nếu cái tẩy của Trung Quốc không qua được mắt của Trump, thì cái tẩy của cộng sản Việt Nam không thể có may mắn. Sự lèo lá lươn lẹo nào cũng chỉ thắng ván mà không thể thắng trận.
Cái thời làm bạn với tất cả, luồn lách cóp nhặt những rơi vãi do sơ ý giữa những sự hỗn độn của thế giới qua rồi. Đó là lối tư duy của một thằng ăn mày, khố rách áo ôm, không giúp một người đàng hoàng ngẩng mặt lên được.
Cần phải xác định bạn và thù. Cái khốn nạn sẽ gắn liền thành một khối giữa cái “Hợp tác với kẻ thù” và “Cảnh giác với bạn bè”. Đã chơi với bạn thì “còn cái xà lỏn” cũng chơi. Với kẻ thù thì chỉ có rào giậu cho kín. Vấn đề là tìm được bạn.
Chế độ đến rồi đi, chỉ có đất nước và dân tộc còn lại. Hợp tác với kẻ thù, tưởng giữ được chế độ, nhưng khi đất nước không còn, dân tộc không còn, thì chế độ bám vào đâu để tồn tại?
11/07/2017Bùi Quang Vơm

Đạo đức là sự bất lực đưa ra hành động (Mênh mông thế sự để gió cuốn đi 6)

Đôi lời thưa trước
Vừa qua, ông Vũ Ngọc Hoàng bàn về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rất chi là chấn động dư luận về những ý mạnh mẽ cứ y như cây bút “lề trái” vậy. Những ý tưởng mạnh dạn búa bổ nghe thật sướng vì nó phang rất mạnh vào những cái lâu nay giới tuyên giáo ra sức tụng ca. Phần lớn đều trúng và đúng. Tuy nhiên cũng có những ý cần bàn, trong đó có những ý nói về đạo đức. Ví như: Đạo đức là giá trị lõi của văn hóa. Đạo đức hỏng tức là nền tảng văn hóa hỏng. Mặt khác, đạo đức của cán bộ hỏng thì dẫn đến chất lượng của hệ thống chính trị giảm và niềm tin của mọi người đối với Đảng và Nhà nước không còn. Khi chất lượng của hệ thống chính trị suy giảm nghiêm trọng và niềm tin của nhân dân không còn tức là nền tảng chính trị đổ vỡ và do đó, chế độ chính trị không còn chỗ dựa để tồn tại”. Có lẽ nên đảo ngược lại mệnh đề này thì đúng hơn. Chính cái thể chế chính trị hư hỏng và đổ nát đã làm băng hoại đạo đức. Người từng hết lòng vun vén tuyên truyền giáo huấn cho cái thể chế chính trị hư hỏng đó, oái oăm thay, chính là người vô đạo đức. Nhưng nếu nói vậy thì tự phủ định một thời vàng son của mình. Có lẽ phải thông cảm cho tâm trạng “Còn chi nữa cánh hoa tàn. Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân”! (*)

Ông Nguyễn Đức Chung lại cũng đề cập đến những câu, những từ, những mệnh đề thuộc về những phạm trù cốt lõi của đạo đức, ví như: “Tôi mong muốn từ lương tri từ tấm lòng của những người đảng viên ở thôn Mít, thôn Hoành và đặc biệt có những cụ lão thành ở đây… Như tôi hứa sẽ không bao giờ nói ra, còn tự các bên lương tâm sẽ tự định nghĩa với nhau, còn câu chuyện tôi hứa với bà con những gì chúng ta còn thời gian... mong muốn mọi người đã có lòng tốt rồi thì hãy nhân nó lên… sự thật thì nó vẫn là sự thật… phải thượng tôn pháp luật, lấy pháp luật làm trọng… bảo vệ những điều gì đem lại giá trị cuộc sống.
Nghe cứ y như thật! Chỉ có điều “đạo đức học là triết học thực tiễn” (Kant), còn anh bạn tôi, tiến sĩ Hồ Ngọc Đại thì diễn đạt một cách ngạo ngược, nhưng mà đúng: “Đạo đức là một đồng xu có hai mặt đang lăn lóc ngoài đời chứ không nằm chết dí trong đầu óc”. Thế nên cụ Engel nói rõ rằng “khát vọng hạnh phúc có tính chất bẩm sinh… cho nên nó phải là cơ sở cho đạo đức”. Vì thế ba hoa khoác lác mà không đếm xỉa đến khát vọng thiết tha nhất của người dân chính là kẻ vô lương tâm. Bởi thế mà Khổng tử nói “xảo ngôn loạn đức” (lời nói khéo làm bại hoại đạo đức) (Luận ngữ, chương 15), đặc biệt cụ Khổng rất khinh người bất tín “Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã (người mà không có chữ tín là đồ bỏ đi) (Luận ngữ, chương 2). Chẳng vậy mà Mạnh tử chua chát mà rằng: “Nhân hữu kê, khuyến phóng, tắc tri cầu chi, hữu phóng tâm nhi bất tri cầu” (Con gà con chó mà chạy lạc thì ai cũng biết đi tìm, vậy mà có kẻ để lương tâm thất lạc lại không để ý đi tìm) (Cáo tử, thượng, bài 2). Mạnh tử nghiêm khắc cho rằng xem cái lương tâm của mình không bằng con gà, con chó chỉ có thể là người ngu xuẩn vì “thao tắc tồn, xả tất vong” (giữ thì còn, bỏ thì mất) (Khổng tử). “Nhân bất khả dĩ vô sĩ, vô sĩ chi sĩ, vô sĩ hĩ!(Việc đáng hổ thẹn mà không hổ thẹn là đồ vô sỉ) (Tận tâm, thượng, bài 6)!
Vậy là, có khá nhiều vấn đề rất cơ bản để được hầu chuyện với hai quan chức, một đã lui về song đang tiếp tục thực hiện sứ mệnh tuyên truyền giáo huấn như trước đây từng làm, một đang còn tại vị với sứ mệnh chăn dắt thần dân của mình tại thủ đô. Một số điều đã được nêu lên trong bài “Khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào” (Mênh mông thế sự số 5) ngày 5.7.2017. Nay tiếp tục trao đổi về chủ đề đạo đức của bài viết cách nay đúng 5 năm đã nói đến đúng vào những vấn đề mà hai quan chức nói trên đang nói đến: đạo đức và thượng tôn luật pháp để rồi sẽ tiếp tục hầu chuyện hai vị trong những bài sắp tới. Và đây là bài viết:
“Đạo đức là sự bất lực đưa ra hành động”
*
* *
Đây là lời của K. Marx phê phán L. Feuerbach (**), nhà triết học cổ điển Đức vừa được Nguyễn Phú Trọng trích dẫn trong bài nói tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4: “Người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”. Tuy nhiên L. Feuerbach lại cổ vũ cho một quan điểm đạo đức đậm mùi tôn giáo, vì thế, K. Marx đã phê phán kiểu đạo đức ấy. Một kiểu đạo đức mà những người chủ trương “đức trị, nhân trị” ở phương Đông đề cao.
Chính vì đề cao “nhân trị, đức trị” nên Khổng Tử bác bỏ tư tưởng của Hàn Phi và Quản Trọng về việc cai trị dân bằng luật pháp. Bởi lẽ, theo Hàn Phi “Pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu. Cho nên điều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật” (Hàn Phi Tử, quyển 2, thiên VI). Còn Quản Trọng, người đã làm cho nước Tề thành “bá” từ sáu thế kỷ trước Công Nguyên đã từng khẳng định: Pháp (luật) là cái quy tắc của thiên hạ... Quan sai khiến dân mà có pháp (luật) thì dân theo, không có pháp (luật) thì dân dừng lại. Dân lấy pháp (luật) chống nhau với quan. Người dưới lấy pháp (luật) phục vụ người trên, cho nên bọn dối trá không thể lừa chủ, bọn ghen ghét không thể có cái bụng kẻ giặc, bọn xu nịnh không thể khoe cái khéo, ngoài ngàn dặm không dám làm điều trái” (Quản tử, quyển 21).
Khổng Tử không tán thành, vì theo ông, “Sở dĩ dân có thể tôn quý kẻ sang, người sang nhờ thế giữ gìn được cơ nghiệp của mình. Người sang, người hèn không lẫn lộn, cái đó gọi là pháp độ... Nay bỏ pháp độ này mà làm cái vạc ghi pháp luật, thì dân chỉ biết cái vạc, lấy gì để tôn quý (người sang)? Người sang còn có cơ nghiệp nào để giữ? Người sang, kẻ hèn không có trên dưới lấy gì để làm thành nước?” (Tả truyện, quyển 26).
Thì ra, ẩn đằng sau những lập luận của ngôn từ là cái lợi ích cụ thể, là “cái ghế” của người đang nắm quyền lực! “Nhân trị”, “đức trị” hay “pháp độ” thực chất là công cụ của kẻ đang nắm được quyền lực muốn duy trì hiện trạng của sự bất công, phân biệt kẻ sang, người hèn, bắt “người hèn” sợ uy lực và khuất phục “kẻ sang”. Mạnh tử đã từng cảnh báo vua: “Vua coi dân như cỏ rác thì dân coi vua như cừu thù” và lên án việc đẩy dân đến chỗ là “cừu thù” rồi dùng hình phạt hà khắc để trừng trị họ “khác nào đặt lưới bẫy dân”. Vì thế dùng cái “nhân”, cái “đức” của người cầm quyền để giáo hóa và trị dân xem ra cũng có cái lý của nó. Thế nhưng, chìm sâu vào bên trong cái nhân cái đức ấy là sự áp đặt ý chí của kẻ có quyền buộc thần dân phải tuân theo, không dám dùng pháp luật vì sợ dân có thể dùng ngay pháp luật để chống lại mình.
Xem ra, “nhân trị”, “đức trị” chẳng qua là sự tùy tiện của người có quyền. May mắn mà người cầm quyền có “đức” có “nhân” thì dân được nhờ. Vô phúc vớ phải hôn quân, bạo chúa hay kẻ làm ra vẻ mặt đạo đức giả thì dân đành chịu vậy. Mà trò đời, đã nắm được quyền thì muốn giữ riệt lấy quyền ấy, mấy ai chịu “nhường ngôi”, “từ chức” nếu không có sự ràng buộc của cơ chế pháp luật đã định hình và áp lực của “sức dân như nước, đẩy thuyền là dân mà lật thuyền của dân”. (Ở đây ta chỉ bàn về chuyển “đẩy thuyền”, chỉ nói đến công luận phản ảnh ý chí của dân mà kẻ có vẻ mắt đạo đức giả hiện nay rất kiêng kỵ).
Ấy vậy mà, nhìn lại lịch sử của đất nước từng là quê hương của “pháp gia” hay “nho gia” ấy, người ta nghiệm ra rằng, trong các cuộc “tranh bá, đồ vương”, những nước cố giữ lấy “pháp độ” thực hành “đức trị” và “nhân trị” thì sớm suy vong còn những nước chịu theo pháp trị” thì hùng cường lên để có thể thôn tính các nước khác! Người ta càng hiểu ra rằng, chỉ hô hào đạo đức suông mà không tạo ra một cơ chế vận hành xã hội trên cơ sở pháp lý nhằm loại bỏ những hành vi phản đạo đức thì giống như điều mà K. Marx đã từng phê phán đạo đức do L. Feuerbach đề xướng: “Đạo đức là sự bất lực đưa ra hành động”!
Thế nhưng, để tạo ra một cơ chế vận hành xã hội trên cơ sở pháp lý, “pháp trị” thì phải thực hiện một cuộc “cách mạng về quyền lực” nhằm giành lấy quyền lập pháp khỏi các lực lượng chuyên chế để trao lại cho nhân dân và cho những người đại diện được nhân dân bầu lên. Cùng với việc đó, phải đặt quyền lực ấy trong vòng kiểm soát. Đó là tư tưởng của Montesquieu, nhà “Khai sáng” thuộc thế hệ thứ nhất.
Theo ông, và rồi sau ông, Locke cũng như Rousseau đều nhận ra rằng “dân chúng có quyền lực tối cao, họ rất giỏi khi chọn người để giao cho một phần quyền lực của mình” vì có những điều mà họ “học được nơi quảng trường một cách sâu sắc hơn mà ông vua không thể học được trong cung điện”.
Thế nhưng, không phải ai cũng đủ trình độ để tự mình quản lý công việc quốc gia, cho nên Montesquieu chủ trương hợp lý hoá, tinh lọc hoá thành phần trực tiếp sử dụng quyền lực nhà nước trong tổng thể chủ thể quyền lực nói chung. Giải pháp tối ưu là xây dựng một nền dân chủ kết hợp được cả những yếu tố dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chúng có được sự lựa chọn chính xác và tối cao, nhưng việc quản lý thì phải ở những người có đủ trình độ; dân chủ trực tiếp từ sự quyết định của toàn dân, nhưng dân chủ đại diện lại có thể tạo cho công việc tiến triển một cách thích đáng trong vòng trật tựĐó chính là nền dân chủ pháp quyền, kết tinh toàn bộ tư tưởng về bình đẳng, tự do, dân chủ của Montesquieu.
Trong lịch sử tư tưởng triết học chính trị, lần đầu tiên điều này được nâng lên thành các quyền chính trị - xã hội của con ngườivới tư cách công dân, tức là quyền tồn tại về mặt chính trị trong một xã hội hiện thựcKhi định hình một nền dân chủ mới, bản thân việc kiểm soát quyền lực trước khi trở thành một biện pháp ước chế sự lạm quyền của một nền dân chủ, trong lý luận và mục đích của Montesquieu, nó tồn tại như một phương thức nhằm giành lấy quyền lập pháp khỏi các lực lượng chuyên chế để trao lại cho nhân dân và cho những người đại diện được nhân dân bầu lên. Cùng với việc đó, đặt quyền lực ấy trong vòng kiểm soát, đó chính là một cuộc cách mạng về quyền lực, dù chỉ là trên phương diện lý luận, mà hơn hai ngàn năm qua, kể từ nền dân chủ cổ đại, không một nhà triết học nào trước ông thực hiện được.
Triết lý chính trị của Montesquieu đã đặt nền móng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền, thay thế cho sự chuyên chế độc quyền. Đây là một cột mốc quan trọng trên con đường xây dựng một chế độ dân chủ đích thực. Thậm chí, nhà Khai sáng này còn ao ước “có cách gì làm cho người cầm quyền tăng thêm được tri thức về những việc họ phải quản lý và làm cho người thừa hành thêm hứng thú khi họ tuân lệnh. Và rồi, cùng với thời gian, người ta hiểu ra rằng mong ước cao đẹp đó đã nhuốm màu ảo tưởng. Bởi lẽ, quyền lực, đặc biệt là quyền lực chính trị thực hiện sự tham nhũng trong chính nó, đang cổ vũ những người sở hữu quyền lực đó nô dịch và đàn áp những người không có quyền. Chẳng thế mà ngay giữa thế kỷ XXI này người ta dám trắng trợn tuyên bố không chấp nhận tam quyền phân lập”, ai dám nói đến điều này là “suy thoái chứ còn gì nữa, phải xử lý”!
Điều này thì như G. Bourdeau trong Đại Bách khoa Toàn Pháp đã từng phân tích: “Như những gì K. Marx đã chứng minh, tự do chính trị chỉ là tự do hình thức, nhằm tạo ra bằng chứng ngoại phạm cho những người thực sự nắm giữ sức mạnh kinh tế và là những người duy nhất có thể sử dụng quyền tự do chính trị của họ”.
Đinh Học Lương, một học giả Trung Quốc, từ những dẫn giải trong cuốn sách Sự hưng vọng của một quốc gia của Mancur Olson Đại học Maryland, khi đưa ra luận điểm về “những tập đoàn kinh tế lớn bắt làm con tin chính sách phát triển và chiến lược quốc gia” đã có sự phân tích khá sòng phẳng: Bất kỳ một quốc gia nào chỉ cần có thời gian ổn định chính trị đủ dài là sẽ xuất hiện những tập đoàn lợi ích đặc biệt, hơn nữa chúng sẽ trở nên ngày càng thành thục, có kỹ xảo… Vì kỹ xảo của chúng ngày càng thành thạo, nên lợi ích thu được ngày càng nhiều. Cuối cùng dần dần dẫn đến thể chế, chính sách tổ chức về các mặt như kinh tế, xã hội, hành chính, pháp luật… của quốc gia đó biến thành sự sắp xếp phù hợp nhất với tập đoàn lợi ích đặc biệt. Vì vậy, động lực mới của sự phát triển ngày càng bị kiềm chế, các ngành ngày càng xơ cứng, điều này tất dẫn đến sự suy vong của quốc gia (Tạp chí Quan sát tháng 10.2008).
Tác giả của luận điểm trên cũng giải thích rằng, ở các nước Âu Mỹ, chuyện thao túng các tập đoàn kinh tế lớn cũng diễn ra, song khác với Trung Quốc là chúng bị sự ràng buộc của môi trường pháp lý và thể chế pháp quyền. Chính cái đó kiềm chế cho các tập đoàn lợi ích đặc biệt không thể bắt làm con tin chính sách phát triển và chiến lược phát triển quốc gia lâu dài, mặc dù nó có thể ảnh hưởng một thời gian hoặc ở một nơi nào đó.
Soi vào thực tế của nước ta, những vấn đề người ta phân tích ở trên xem ra cũng có điểm tương đồng! Thì chẳng thế sao. Hãy đọc lại những lời dưới đây trong bài phát biểu của ông Trọng tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4: “thẳng thắn vạch ra những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trên cả 3 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, chỉ ra tính chất, phạm vi, xu thế và hậu quả của những yếu kém, khuyết điểm đó. … Những khuyết điểm đó nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ ta” (**).
Vậy là, về tính chất nghiêm trọng, kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ trong phạm vi, xu hướng, và hậu quả đều dẫn đến sự thách thức sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 đã đưa ra “4 nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên. Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt Đảng. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách. Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Đồng thời chỉ rõ: “Các giải pháp bảo đảm tính đồng bộ, nhưng cũng rất tập trung, có lộ trình”, đặc biệt “nêu cao và rất nhấn mạnh sự tự phê bình và phê bình, sự gương mẫu của cấp trên…”.
Những giải pháp đó được đưa ra khi mà “thực trạng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư… thực trạng này Đảng đã thường xuyên ngăn chặn nhưng làm không đến nơi đến chốn khiến căn bệnh ngày càng trở nên trầm trọng” (***). Bởi vậy, “vai trò tiên phong "uống thuốc giải bệnh” phải là Bộ Chính trị, cần sinh hoạt dân chủ, thẳng thắn tự phê bình và phê bình những yếu kém, tồn tại để làm gương cho cấp dưới (***).
Vậy là mọi sự sắp đặt đã tươm tất, chỉ lạ một điều là các nhóm giải pháp không đề cập đến dân, không huy động sức dân góp phần quyết định vào việc xây dựng chỉnh đốn Đảng. Nếu việc phê bình, tự phê bình chỉ là việc riêng của Đảng theo kiểu “đóng cửa bảo nhau” thì e khó mà thành công. Thế mà toàn Đảng, toàn dân lại đang trong cuộc vận động học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, mà điểm cốt lõi của tư tưởng ấy là lấy dân làm gốc, “quyền hành và lực lượng đều nơi dân”. Hình như điều cần nhất trong việc chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được đặc biệt lưu ý, nhưng chính cái đó mới là chìa khóa của thành công…
Không có dân tiếp sức thì việc chỉnh Đảng không thể thành công. Bởi lẽ, căn bệnh trầm kha của người nắm quyền là xu hướng mở rộng quyền lực vô hạn độ. Mà quyền lực lại có xu hướng tham nhũng, quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối. Không thiếu những minh chứng sống động từ Đông sang Tây, từ cổ đến kim về cái quy luật phũ phàng và nghiệt ngã đó của sự gắn kết giữa lợi ích với quyền lực.
Cho nên, thức tỉnh lương tâm, kêu gọi đạo đức là điều cần thiết, nhưng chỉ thế thì chưa đủ. Bởi vì đạo đức nào cũng gắn với lợi ích, lợi ích của cá nhân người cầm quyền, lợi ích phe nhóm quyền lực… thậm chí lợi ích của “những tập đoàn kinh tế lớn bắt làm con tin chính sách phát triển và chiến lược quốc gia” như vừa dẫn ra ở trên! Bởi vậy, nếu tách khỏi lợi ích chỉ kêu gọi đạo đức suông mà không kèm theo những chế tài, những quy phạm pháp luật buộc cá nhân công dân, bất cứ đang giữ trách nhiệm gì cũng phải tuân theo, không có sự giám sát và phản biện của dân thì khó thành công mà lại “rơi vào tình trạng "không đạt yêu cầu" như nhiều lần trước”.(**) Thế là vẫn không sao khắc phục được “cái làm cho quần chúng oán thán nhất, gây mất lòng tin nhất, làm xói mòn bản chất Đảng đó chính là sự suy thoái cả về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; cái này thật là nghiêm trọng”!(**) Và như đã dẫn ra ở trên: ung thư mà “đã nặng lắm rồi” thì di căn là điều khó tránh, không có những giải pháp quyết liệt có tính đột phá thì e khó mà đạt được hiệu quả mong muốn!
Lúc này mà chỉ kêu gọi sự thức tỉnh đạo đức và lương tâm của người nắm quyền lực thì xem ra cũng chỉ là “sự bất lực đưa ra hành động” mà K. Marx đã khuyến cáo!
Đương nhiên, nói thế không phải là phủ nhận sự kêu gọi đạo đức và thức tỉnh lương tâm. Chỉ có điều, đừng quên rằng lương tâm gắn liền với ý thức về nhân phẩm là phạm trù cốt lõi của đạo đức chính là sự cưỡng chế bên trong đối với hành vi của con người. Và sự cưỡng chế bên trong ấy cần tiếp sức của sự cưỡng chế bên ngoài, đó là luật pháp và công luận.
Vì thế, việc thức dậy lương tâm bị ngủ quên, khiến cho sự cưỡng chế bên trong bị tê liệt đòi hỏi phải có sự cưỡng chế bên ngoài. Luật pháp, đúng như chức năng đích thực của nó, là thể hiện ý chí và sức mạnh của nhân dân trong một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa, sẽ thực hiện sự cưỡng chế bên ngoài đó và cùng với tinh thần thượng tôn pháp luật là sự khơi dậy sức mạnh của công luận. Sức mạnh ấy sẽ là một áp lực mạnh mẽ tạo ra sự cưỡng chế bên ngoài nói ở trên. Chuyện này chẳng có gì mới mẻ. Thì chẳng phải Louis XIV của nước Pháp từng ngạo nghễ tuyên bố “Nhà nước là ta” (L’État c’est moi), Napoléon tuy rất tâm đắc với ý tưởng của nhà độc tài đó vẫn buộc phải thừa nhận rằng: “Nhà nước là gì? Không là gì cả nếu không có dư luận”!
Vả chăng, lương tâm là yếu tố cốt yếu của lý trí thực hành như định nghĩa của Kant, nhà triết học Đức vĩ đại. Chưa phải lúc để bàn về khái niệm “lý trí thực hành” của Kant, ở đây từ triết lý của Kant mà nói đến chuyện đánh thức lương tâm bằng hành động thực tiễn trong bối cảnh thực trạng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư… ngày càng trở nên trầm trọng” (***).
Bởi vậy, lúc này đây, để chữa trọng bệnh, “phải đưa chính trị vào giữa dân gian” (****) khuyến cáo của Hồ Chí MinhTức là phải “tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa (****).

No comments:

Post a Comment