Thursday, July 13, 2017

Bài viết hay(5174)

Băng qua đường mà tay vẫn cầm phone textchat hay "tám" tía lia mà hổng thèm đếm xỉa gì đến xe cộ đang chờ họ đi nhanh hơn tới lề đường. Quan trọng hơn là bất kể gì đến an toàn cho chính bản thân họ bởi họ sống ở Mỹ, họ nghĩ luật pháp Mỹ bảo vệ họ nên xe có đụng thì họ cũng hổng chết mà còn có tiền xài. Chính tâm lý đó đã khiến người Mỹ đâm ra cà chớn hơn khi hầu như ai cũng tỏ ra láu cá đến mức cao bồi, ngang tàng, láo xược hết chổ nói; chưa kể là bệnh ghiền phone sẽ khiến họ mắc nhiều bệnh lạ hơn. Nhìn Trump là hiểu hơn về nét đặc thù của dân Mỹ để hiểu vì sao lính Mỹ đi đâu cũng bị thiên hạ ghét cho dù họ chiến đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền hay chỉ là lính đánh thuê khi luôn coi thường dân bản xứ và thiếu tôn trọng văn hóa, tập quán, tín ngưỡng của dân địa phương. 
Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển
Trong khi trước đây người ta hô hào về việc xóa bỏ địa chủ phú nông, thì phương Tây xóa bỏ bần nông. Trong khi trước đây người ta tự hào về việc xóa bỏ quý tộc thì phương Tây xóa bỏ lưu manh. Đây chính là hai tư tưởng trị quốc hoàn toàn khác nhau, có thể dùng câu nói nổi tiếng để khái quát: một chế độ tốt có thể làm cho người xấu trở thành người tốt, một chế độ xấu có thể làm cho người tốt biến thành kẻ xấu. Phát động lưu manh để tiêu diệt quý tộc, cũng không thể làm cho lưu manh trở thành cao thượng, chỉ có thể làm cho lưu manh càng trở nên lưu manh hơn. Dụ dỗ, đe dọa nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến cả xã hội thành lưu manh.
Quý tộc, bình dân và lưu manh
Nhân loại là một quần thể to lớn và phức tạp nhất trên thế giới. Nói về tính chất vốn có của tinh thần và ý thức, có thể phân thành 3 thứ bậc khác nhau: quý tộc, bình dân và lưu manh. Ba thứ bậc này được phân theo dạng hình thoi đứng, ở giữa phình to là tầng lớp bình dân, đầu nhỏ ở trên cùng là tầng lớp quý tộc, còn đầu nhỏ dưới cùng là lưu manh. Từ bình dân tới quý tộc thì không có giới hạn rõ rệt, từ bình dân tới lưu manh cũng không có giới hạn rõ rệt, nhưng lưu manh và quý tộc thì có sự khác biệt một trời một vực.
Sở dĩ được gọi là quý tộc không phải vì có nhiều của cải, cũng không phải vì có nhiều quyền lực, mà là vì họ có một tinh thần cao quý, sử sách gọi đây là tinh thần quý tộc. Người thiếu tinh thần quý tộc, thì dù giàu có không ai sánh bằng cũng chỉ là mang bản tính lưu manh mà giàu có; dù có quyền lực to đến mấy, thì cũng chỉ là kẻ độc tài chuyên chế mang bản tính lưu manh.
Sở dĩ gọi là lưu manh không phải là vì không có gì trong tay, mà là ý thức lưu manh ở bên trong nội tâm. Giai cấp vô sản không đồng nghĩa với lưu manh, giai cấp vô sản đa số là người bình dân an phận thủ thường. Trong quần thể lưu manh, có người giàu, có kẻ nghèo; có bình dân, có quyền quý; có người ngốc nghếch, cũng có kẻ thiên tài.
Tinh thần quý tộc đại diện cho đỉnh cao của văn minh nhân loại, ý thức lưu manh đại diện cho sự thấp kém nhất của nhân loại. Dường như tất cả mọi người đều có suy nghĩ hướng tới sự cao thượng, và cũng có những ham muốn dục vọng thấp kém, đây chính là cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính. Nhân tính chiến thắng thú tính, thì con người hướng tới sự cao thượng; thú tính chiến thắng nhân tính, con người sẽ hướng tới sự hèn hạ bỉ ổi. Đối với đa số người bình dân, nhân tính và thú tính vẫn đang giằng co chưa có hồi kết, nên nó làm cho cả một đời vẫn cứ loay hoay quanh cao thượng và thấp kém. Đa số người dân đều là an phận thủ thường nên cả đời sẽ không có gì nổi bật. Bình dân nếu muốn siêu phàm thoát tục, thì phải hướng tới cao thượng để có hy vọng trở thành quý tộc. Còn nếu hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì sẽ trở thành lưu manh. Con người vươn tới sự cao thượng thì rất khó, và để trở thành quý tộc thì lại càng khó hơn; còn hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì rất dễ, trở thành lưu manh thì dễ như trở bàn tay. Cũng chính vì nguyên nhân này mà xã hội nhân loại hiện nay quý tộc thì ít mà lưu manh thì nhiều.
Cao thượng và cao quý không khác nhau về bản chất, nhưng cao thượng và cao quý lại có khoảng cách, đó là mức độ khác nhau, trạng thái khác nhau. Bình dân cũng biết cao thượng, nhưng thường chỉ có thể cao thượng trong thuận cảnh, chứ không thể “cố thủ” cao thượng trong nghịch cảnh. Nếu như trong nghịch cảnh mà có thể giữ được cao thượng, thì đó chính là trạng thái cao quý, cũng tức là đã thành quý tộc.
Nếu cao thượng đã đạt đến trạng thái cao quý, thì tức là “phú quý mà không dâm, dưới áp lực mà không chịu khuất phục”. Đây chính là trạng thái của tinh thần quý tộc. Câu trên có hai tầng ý nghĩa. Tầng thứ nhất là giải thích đối với phú hào quyền quý: Anh giàu có rồi thì không thể dâm đãng, anh có quyền rồi thì anh không thể lấy quyền đấy để bắt người khác khuất phục. Tầng thứ hai là giải thích với tầng lớp bình dân: Anh không giàu có, nhưng anh không thể bị phú quý dụ dỗ mê hoặc để rồi từ bỏ cao thượng; anh không có quyền lực nhưng anh không thể khuất phục trước quyền lực, anh chỉ có thể tâm phục khẩu phục trước sự công bằng và chân lý. Đạt đến trạng thái này rồi, thì dù có là bình dân nhưng anh vẫn có tinh thần quý tộc.
Tinh thần quý tộc là gì?
Tinh thần quý tộc có 3 nội hàm cao quý đó là: thành tín, đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm.
Thành tín là linh hồn của văn minh nhân loại, không có thành tín, thì không có đạo đức, cũng không có văn minh; thành tín cũng là linh hồn của phẩm cách cá nhân, không có thành tín, thì không thể có phẩm cách cao thượng. Người thiếu sự thành tín, thì hoặc là người vô lại hoặc là kẻ lưu manh. Dân tộc thiếu sự thành tín, thì chắc chắn là dân tộc ngu muội không có văn hóa. Thành tín cũng là gốc rễ của chế độ dân chủ, vì không có thành tín, thì không có dân chủ đúng nghĩa. Cụ thể, dân chủ dựa vào hiến pháp, và hiến pháp chính là khế ước của xã hội. Thành tín chính là gốc rễ của khế ước, không có thành tín thì khế ước cũng chỉ là tờ giấy vứt đi.
Quý tộc sở dĩ là quý tộc, là bởi vì quý tộc coi thành tín quan trọng hơn cả mạng sống, thành tín mang đến sự cao thượng, sự tôn nghiêm và giá trị cao quý của sinh mệnh. Ví dụ, quý tộc châu Âu thà dùng quyết đấu sòng phẳng thẳng thắn để phân thắng thua, chứ không muốn dùng âm mưu quỷ kế để tranh cao thấp. Đây thực chất chính là thà chết để giữ lấy giá trị của thành tín. Sử quan thời Trung Quốc cổ đại thà chết chứ không muốn vì đế vương thay đổi lịch sử, cũng chính là thà chết để giữ lấy giá trị của sự thành tín.
Đạo nghĩa bao hàm nhân đạo và công đạo. Nhân đạo là tiền đề của công đạo, chính là sự tôn trọng đối với sinh mệnh của con người. Người ngay cả ý thức nhân đạo cũng không có, thì về cơ bản không thể có công đạo. Tôn thờ bạo lực chính là coi thường nhân đạo. Nhân đạo và công đạo hòa quyện sinh ra chủ nghĩa nhân quyền của nền văn minh hiện đại, sở dĩ châu Âu có thể sinh ra Công ước Nhân quyền, thực chất chính là do sự thúc đẩy của tinh thần quý tộc.
Tinh thần đạo nghĩa mang tới nhân từ, mang tới khoan dung, mang tới sự quan tâm, mang tới sự công chính. Quý tộc quan tâm tới những người yếu, các sự nghiệp từ thiện trên thế giới dường như đều do quý tộc đầu tư xây dựng, và cái mà họ dựa vào chính là tinh thần đạo nghĩa.
Tinh thần trách nhiệm chính là tinh thần dám gánh vác. Chịu trách nhiệm với lương tri của xã hội nhân loại, chịu trách nhiệm với văn hóa truyền thống của nhân loại, bảo vệ đạo đức, duy trì công bằng xã hội, bảo vệ sự phát triển hòa bình của xã hội.
Chính tinh thần trách nhiệm mang tới lòng tin và sức mạnh không gì lay chuyển được của quý tộc, một khi dân tộc rơi vào khủng hoảng, quý tộc sẽ đứng phía trước dân tộc, bảo vệ an toàn cho dân tộc. Chính tinh thần trách nhiệm này mang đến cho họ tinh thần “Prometheus cướp lửa thần trao cho nhân loại”, và tinh thần “ta không vào địa ngục thì còn ai vào nữa”. Cũng chính tinh thần này đã bảo vệ và thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển hơn.
Ba loại tinh thần này đều đến từ tín ngưỡng tôn giáo, chỉ có tín ngưỡng tôn giáo mới có thể chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần kiên định và bền bỉ, đạt đến trạng thái cao quý.
Dù cá nhân quý tộc có tồn tại khuyết điểm này khuyết điểm nọ, nhưng quần thể quý tộc vẫn là lực lượng chủ đạo thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển.
Tinh thần quý tộc thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển
Trong mỗi cá nhân đều tồn tại cuộc chiến nhân tính và thú tính, và nó làm cho cả một đời cứ loay hoay giữa cao thượng và thấp kém: thượng đế kêu gọi con người hướng đến cao thượng, ma quỷ dụ dỗ con người hướng đến sự thấp kém; người cao quý cao thượng thì gần quý tộc hơn, người hướng tới thấp kém bỉ ổi thì gần với lưu manh hơn; hoặc có thể nói, người gần với quý tộc thì trở nên cao thượng, kẻ gần với lưu manh thì trở nên thấp kém. Tục ngữ gọi hiện tượng này là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Mở rộng ra, một dân tộc cũng tồn tại cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính, điều này thực chất là cuộc chiến giữa văn minh và vô văn hóa, cũng là cuộc chiến giữa quý tộc và lưu manh. Một dân tộc do quý tộc chủ đạo, thì sẽ mang đến sự tiến bộ cho nền văn minh; do lưu manh chủ đạo thì sẽ lùi lại về không có văn minh, đây không phải là sức sản xuất vật chất bị thụt lùi, mà là sự thụt lùi về văn minh tinh thần, về văn hóa, đạo đức. Điều này đã được chứng minh bởi lịch sử.
Lịch sử phát triển của nhân loại là do quý tộc chủ đạo, do đó nhân loại mới từ không văn minh mà hướng đến văn minh, nhưng trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài, có lúc cũng bị lưu manh kiểm soát, lưu manh chiếm cứ địa vị chủ đạo, kết quả làm cho văn minh bị thụt lùi, do đó, tiến trình phát triển của văn minh nhân loại mới xuất hiện nhiều khúc khuỷu, tiến lùi.
Ý thức tinh thần của con người là thể đa diện phức tạp, tức có ý thức giữ gìn cao thượng, thì cũng có ham muốn tình cảm thấp kém. Tuy nhiên, con người hướng tới cao thượng lại giống như leo núi, rất khó; còn hướng tới thấp kém lại rất dễ, giống như đang ngồi cầu trượt. Do đó mà xã hội nhân loại từ trước đến nay lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc.
Xã hội nhân loại trước giờ lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc, vậy sao quý tộc có thể chiếm địa vị chủ đạo trong sự phát triển của xã hội? Điều này quyết định bởi thái độ của tầng lớp bình dân: tầng lớp bình dân ủng hộ quý tộc, thì quý tộc chiếm thượng phong, tức chiếm vị trí chủ đạo, và dân tộc này sẽ duy trì nền văn minh cao thượng; tầng lớp bình dân mà ủng hộ lưu manh, lưu manh chiếm thượng phong, tức lưu manh chiếm vị trí chủ đạo, thì dân tộc này sẽ duy trì sự thấp kém không văn minh. Đây chính là nguyên nhân cơ bản các dân tộc khác nhau có tiến trình văn minh và mức độ văn minh khác nhau.
Dân tộc ủng hộ quý tộc, quý tộc dễ chiếm thượng phong; dân tộc ủng hộ lưu manh, lưu manh dễ chiếm thượng phong. Nếu lưu manh chiếm thế thượng phong, chiếm vị trí chủ đạo, thì tất nhiên sẽ mê hoặc và dụ dỗ nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, ép buộc nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến thành một đại quốc lưu manh, văn hóa đạo đức sẽ bị thoái lui toàn diện, xã hội sẽ đổ vỡ.
Sáng tạo văn minh và sáng tạo lịch sử
Thành tựu văn minh nhân loại dường như đều là quý tộc sáng tạo, từ tư tưởng triết học thời viễn cổ, tín ngưỡng tôn giáo, lòng tin đạo đức, đến văn hóa nghệ thuật thời trung cổ, đến khoa học tự nhiên thời cận đại, cho đến cơ chế dân chủ thời hiện đại, tư tưởng mở ra thời đại mới của lịch sử nhân loại, dường như đều là quý tộc sáng tạo ra. Có thể nói thế này, không có quý tộc, thì không có văn minh nhân loại. Không cần tìm đâu xa, chỉ cần tìm những nhà triết học, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, thần học, khoa học vĩ đại trên thế giới, có ai không phải là quý tộc?
Quý tộc không chỉ sáng tạo văn minh, mà còn sáng tạo ra lịch sử. Những nhà quý tộc thời cận đại của châu Âu, họ đã sáng tạo ra “Quân chủ lập hiến”, sáng tạo “Tuyên ngôn độc lập”, sáng tạo “Tuyên ngôn nhân quyền”, anh hùng dân tộc Ấn Độ Mahatma Gandhi đã sáng tạo ra “Cách mạng phi bạo lực”, Martin Luther King của Mỹ sáng tạo ra “Tôi có một ước mơ”, họ đem những tư tưởng văn minh này vào thực tế, sáng tạo ra lịch sử huy hoàng, trở thành những cột mốc cho nhân loại hướng tới văn minh.
Sáng tạo lịch sử khác sáng tạo văn minh
Từ trước tới nay, lưu manh không biết sáng tạo lịch sử, chỉ biết sáng tạo sự ngang tàn bạo ngược. Tuy vậy lưu manh cũng có thể sáng tạo lịch sử, nhưng lưu manh không thể sáng tạo lịch sử của văn minh, chỉ có thể sáng tạo lịch sử của sự phá hoại, sáng tạo lịch sử tàn sát. Lưu manh từ trước giờ chỉ biết sáng tạo bạo lực, sáng tạo chiến tranh, sáng tạo sự hoang đường, sáng tạo tai nạn.
Nếu một dân tộc mà nhóm người lưu manh giữ vai trò chính trong thời gian dài, thì sẽ trở thành dân tộc “ỷ mạnh hiếp yếu”, trở thành một dân tộc hung bạo, trở thành một dân tộc hủ bại biến chất.
Đạo lý như thế này, lẽ nào còn cần ai chứng minh sao?

Thượng tôn pháp luật


Chắc giờ thì ai cũng hiểu khẩu hiệu "thượng tôn pháp luật" không phải là thần chú cho mọi vấn đề được. Luật pháp vốn dĩ không toàn năng mà chỉ là một nỗ lực của con người để hướng đến cái công bằng - tức là cái hài hòa. Mà đã là nỗ lực thì sẽ có sai lầm. Đồng ý là sai thì sửa sai nhưng sẽ có những cái không thể bù đắp được nữa. Vì vậy, những người chống lại các luật bất công như một giải pháp cuối cùng không phải là không có lý của họ. Martin Luther King từng nói: "Đừng quên rằng những gì Hitler làm đều hợp pháp còn những gì các chiến sĩ tự do Hungary làm đều bất hợp pháp."
Vậy nếu pháp luật không công bằng thì phải làm gì? Trên thực tế, thượng tôn pháp luật vẫn là nguyên tắc đỡ tệ nhất cho xã hội loài người, thay vì chấp nhận để cho người dân thay trời hành đạo. Nhưng thượng tôn pháp luật đứng riêng lẻ thì sẽ phản tác dụng mà nó phải đi kèm với nền dân chủ. Nền dân chủ để cho người dân cơ hội sửa sai sau mỗi nhiệm kỳ một cách thực sự ý nghĩa. Nếu ngày hôm nay luật sai, anh vẫn tuân thủ nó, nhưng luật không trên trời rơi xuống mà là do người cầm quyền ban hành. Vậy ở kì bầu cử tới, người dân sẽ truất phế anh để sửa sai cho nhiệm kỳ trước. Thiếu dân chủ thì thượng tôn pháp luật không khác gì bảo người dân phục tùng lệnh vua - điều chỉ xảy ra ở các vương quốc phong kiến.
Nhưng dân chủ cũng không hoàn hảo vì nếu người dân dân trí thấp thì sao? Vậy thì phải giáo dục. Giáo dục họ trở thành một con người cho nền dân chủ, cho sự khai phóng, cho tự do, chứ không phải một con người tuân thủ, giáo điều. Giáo dục để họ thành một quốc dân chứ không phải một thần dân hay tệ hơn là một con dân.
Vậy cái nào nên làm trước? Giáo dục trước cho dân trí cao rồi cho họ nền dân chủ để cổ vũ thượng tôn pháp luật? Hay phải thượng tôn pháp luật để ổn định, xong giáo dục cho dân trí cao, rồi hãy nói chuyện dân chủ? Theo mình thì tất cả phải làm cùng lúc mới được. Những quốc gia trưởng thành nhất vẫn sai lầm nhưng chính những sai lầm đó thúc ép người dân tư duy và sản sinh ra những lãnh đạo để biết phát huy trí tuệ và sự thỏa hiệp của đám đông. Và dân chủ chính là bài thực hành của giáo dục, còn giáo dục là nền tảng lý thuyết cho dân chủ, và thượng tôn pháp luật chính là bùa hộ mệnh cho ổn định để mọi người tiếp tục học làm người tự do. Vì sao tất cả phải được làm cùng nhau? Vì không cái nào trong ba ý tưởng tưởng như rất đẹp kia là cứu cánh, là cái đích sau cùng cả. Cái đích sau cùng chính là tự do cho con người. Thiếu một trong ba yếu tố trên, con đường đến tự do sẽ khiếm khuyết vì những công cụ kể trên sẽ lại trở thành con dao hai lưỡi cản trở tự do.
Vậy thì nếu từ chối dân chủ, cản trợ giáo dục tự do, thì không ai có tư cách bắt ép người dân phải thượng tôn pháp luật cả.Lê Nguyễn Duy Hậu

Về nhân vật Ngô Đình Diệm

Mấy hôm trước, trong một tút ngắn về sự thất bại của thể chế tổng thống ở Venezuela, mình có nhắc đến sự thất bại của chế độ tổng thống ở miền Nam Việt Nam và sự độc tài trong chế độ Ngô Đình Diệm, và nhận vài ý kiến của các bạn, kêu đưa ra bằng chứng về sự độc tài của ông. Mình có hứa sẽ viết một bài chi tiết, nhưng bận quá chưa thực hiện được, nên nay mình chia sẻ ngắn gọn ba điều:
Thứ nhất, thật ra khi so sánh với các chế độ độc tài đàn áp đối lập hay chủ nghĩa cộng sản như ở Indonesia, Đài Loan, hay Hàn Quốc cùng thời, Việt Nam Cộng Hòa dưới thời của tổng thống Ngô Đình Diệm có nhiều tự do hơn và không có các vụ thảm sát hàng loạt như ở các nước trên, nhưng vẫn có đàn áp đối lập. Chính quyền Ngô Đình Diệm không những đàn áp những người cộng sản, mà còn cả những người và đảng phái quốc gia không cộng sản. Về quá trình ông Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, sự đàn áp của ông trong thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đối với các đảng phái đối lập, và những sai lầm trong chính sách của ông, các bạn có thể đọc từ trang 234 đến trang 251 trong cuốn sách "Việt Nam 1945-1990" của Giáo sư Lê Xuân Khoa bằng cách tải về ở đây: https://goo.gl/nU1s0Z
Thứ hai, có một điểm cần lưu ý nữa là khi thông qua Hiến pháp mới 1956 dưới thời Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, đúng ra tổng thống Ngô Đình Diệm phải ngay lập tức tổ chức một cuộc bầu cử tổng thống mới thì vị trí tổng thống của ông ta mới hợp hiến. Tuy vậy, tổng thống Ngô Đình Diệm đã không cho tiến hành một cuộc bầu cử tổng thống. Điều này, như Giáo sư Nguyễn Văn Bông có nhận xét trong cuốn sách "Luật Hiến pháp và Chính trị Học", là tổng thống Ngô Đình Diệm thiếu tinh thần dân chủ. Nếu có thời gian các bạn nên đọc phần cuối của cuốn sách bình luận về nội dung của cả hai bản hiến pháp 1956 và 1967 của Việt Nam Công Hòa. Hiến pháp 1956 không có tinh thần dân chủ và tập quyền, còn hiến pháp 1967 là một sự rối rắm về phân quyền không thể tưởng tượng. Tải cuốn sách "Luật Hiến pháp và Chính trị Học" về ở đây: https://goo.gl/xaOU9H
Và thứ ba, là chế độ tổng thống mang trong mình nhiều nhược điểm; ở nhiều nước, chế độ tổng thống sau một thời gian vận hành cuối cùng hoặc dẫn đến độc tài, hoặc dẫn đến đảo chính. Ở Việt Nam, chế độ Việt Nam Cộng Hòa dưới hai thời kỳ Đệ Nhất và Đệ Nhị đã thử nghiệm chế độ tổng thống nhưng cuối cùng chỉ để lại là một sự thất bại. Nhưng khi mà chế độ tổng thống đã từng được áp dụng và thất bại ở hầu như tất cả mọi quốc gia, ngoại trừ Hoa Kỳ, thì có gì phải ngạc nhiên khi nó tiếp tục thất bại ở Việt Nam? Muốn biết tại sao một chế độ tổng thống thường dẫn đến thất bại thì đọc bài này: https://nguyenhuyvu.blogspot.no/…/tai-sao-khong-nen-chon-ch…
Lời cuối: nhiều bạn ngưỡng vọng và quý mến Việt Nam Cộng Hòa có thể sẽ cảm thấy buồn. Nhưng sự thật thì vẫn là sự thật, và chúng ta nên học tinh thần của người Đức. Người Đức thử nghiệm nền dân chủ đầu tiên của mình dưới chế độ Cộng hòa Weimar (1919-1933), để rồi chế độ này nhanh chóng sụp đổ và hình thành nên một chế độ độc tài phát xít, nhưng không có nghĩa rằng người Đức hắt hủi nó, mà nhìn nó như một trải nghiệm dân chủ. Để rồi ngay sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới Lần thứ hai, rút kinh nghiệm từ sự thất bại của Cộng hòa Weimar, họ đã thiết lập nên một chế độ chính trị nghị viện - liên bang đặc trưng kiểu Đức với bản hiến pháp 1949 cùng lá cờ dưới chế độ Weimar để hồi sinh nước Đức. Và họ đã thành công trong việc duy trì một hệ thống dân chủ ổn định và một nền kinh tế phồn thịnh. Trong gần 7 thập niên sau đó kể từ năm 1949, chế độ chính trị của Đức chỉ có 8 thủ tướng -- một sự ổn định đáng kinh ngạc của thể chế nghị viện -- và ngày nay Đức là quốc gia hùng mạnh nhất châu Âu.Nguyễn Huy Vũ

Đổi giờ và ùn tắc

Thời gian học ở Đại học Birmingham, Anh, chúng tôi bắt đầu lịch học từ 9h.
Sau hai ca học, sinh viên ở đây có 30 phút nghỉ ăn trưa, từ 13h - 13h30. Những ca học mới nối tiếp ngay sau đó và tất cả kết thúc vào 15h30. Nhân viên trường có cùng khung nghỉ trưa như chúng tôi và sẽ làm việc đến 16h. Tan giờ học, giờ làm, đa phần chúng tôi đều đi tập gym hoặc đi bơi sau đó ngồi lại thư viện đến 9-10h tối mới về nhà và nghỉ ngơi thực sự.
Hồi mới sang, đang quen với nhịp sinh học ở Việt Nam nên tôi rất ngạc nhiên khi người Anh lại bắt đầu giờ học và làm muộn như vậy. Thầy giáo tôi giải thích rằng để bắt đầu làm việc từ 9h sáng, có lẽ chúng ta phải thức dậy từ 7h kịp ăn sáng và di chuyển đến trường. Não người thường làm việc hiệu quả nếu có một giấc ngủ đủ khoảng 8h/ ngày. Khung thời gian não tập trung cao độ nhất cũng nằm trong khoảng từ 8h sáng đến 3h chiều, sau đó mức độ tập trung giảm dần và nếu có cố gắng thì hiệu quả cũng sẽ không được cao. Chưa kể đến việc não cũng cần nghỉ ngơi, cân bằng các hoạt động thư giãn, vận động thì mới tái tạo được khả năng tập trung sau đó.
Trở lại Việt Nam, tôi gần như phải thích ứng lại với nhịp sống quê nhà. Thay vì thức dậy từ 7h sáng, tôi thường đánh thức con dậy từ 6h sáng để kịp đến trường lúc 7h30. Tôi cũng như lũ trẻ không bao giờ kịp ăn sáng ở nhà. Con tôi ăn ở trường còn tôi thường phải "cấu véo" khoảng 30 phút làm việc để nạp năng lượng mỗi sáng. Mỗi khi tan sở, tôi mất cả giờ đồng hồ để đưa con, về đến nhà khoảng 6-6h30 chiều. Thời gian di chuyển căng thẳng vì khói bụi ô nhiễm, cộng với công việc gia đình khiến tôi rất mệt mỏi.
Vì vậy, khi Hà Nội đề xuất thay đổi giờ học, giờ làm, tôi rất quan tâm, dù từng một lần thất vọng. Đây không phải là lần đầu Hà Nội có đề xuất này. Năm 2012, 10 quận ở Thủ đô đã tiến hành thay đổi thí điểm để giảm tình trạng ùn tắc giao thông. Các trường học bắt đầu từ 7h sáng, trường mầm non từ 8h; các cơ quan công sở làm việc từ 8h còn trung tâm thương mại dịch vụ mở cửa từ 9h. Sự thay đổi đó, như tôi thấy, gần như không mảy may tác động tích cực gì đến giao thông. Đường sá vẫn ùn tắc và người dân cuối cùng vẫn trở về với vòng quay sinh học khắc nghiệt như trước. Bởi tôi cho rằng, những tồn tại của giao thông phải được giải quyết bằng các vấn đề giao thông căn cốt: như là hạ tầng, ý thức người dân, như là tăng tính hiệu quả của giao thông công cộng. Không thể ngây thơ hy vọng rằng chỉ cần vặn lệch nhịp sinh hoạt của người dân là chúng ta có thể giải quyết được cả một vấn nạn ùn tắc đã tồn tại suốt hàng chục năm qua.

Nhưng việc thay đổi khung giờ học, giờ làm vẫn là điều cần tính đến. Thói quen lao động từ sáng sớm có lẽ bắt rễ sâu từ đặc điểm của một nền kinh tế nông nghiệp, khi việc đồng áng của người dân phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết. Người lao động có xu hướng dậy sớm, kết thúc công việc sớm để tránh nắng nóng. Rõ ràng, nhịp lao động này hoàn toàn không còn phù hợp với các đô thị lớn.
Một bất cập nữa của khung giờ làm ở Việt Nam là quy định về thời gian nghỉ trưa quá dài. Điều này làm nảy sinh thói quen ăn nhậu trưa của nhân viên các cơ quan công sở. Tôi gặp không ít: những bữa trưa thịnh soạn ở các nhà hàng kết thúc vào khoảng 3h chiều; những nhân viên công sở mặt đỏ gay lảo đảo trở về cơ quan khi đã quá giờ làm...
Rõ ràng, một khung thời gian hợp lý cần được suy nghĩ thấu đáo trước khi triển khai nhằm đảm bảo đầy đủ các yếu tố về an sinh xã hội hay hiệu suất lao động, cũng như đảm bảo yếu tố sức khoẻ cho người dân. Tôi đã rất ngạc nhiên khi khám phá ra rằng đến khung thời gian làm việc người ta cũng tính toán chi tiết tính tối ưu của não bộ, sự phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần để có một sức bền nhất định mà bản thân mỗi cá nhân có thể cống hiến cho sự nghiệp, đóng góp cho sự phồn thịnh của xã hội bằng việc tối ưu hoá hiệu quả lao động.
Việc thay đổi giờ học, giờ làm nếu có phải xuất phát từ mong muốn nâng cao hiệu quả lao động, chất lượng sống người dân chứ không chỉ là giải pháp "chữa cháy" cho một vấn đề giao thông.Vân Anh

No comments:

Post a Comment