Friday, July 14, 2017

Bài viết hay(517̉̉̉6)

Rút kinh nghiệm từ bài học xương máu của 3X, anh F. tỏ ra biết điều hơn với Cả Lú; nhất là trong những vấn đề "nhạy cảm" như Formosa, Đồng Tâm của phía Bắc thì anh F. khép nép sau lưng Cả chờ Lú phán; từ vĩ tuyến 17 trở vô thì coi bộ mạnh miệng hơn. Vậy mới khôn chứ ai ngu như anh 3, anh 4 đã cầm cu chó đái mà còn bị đá cho ra rìa luôn. Tui sẽ không dại gì hy sanh như Lưu Hiểu Ba mà phải biết sống sao cho khôn khéo như anh F. vì tương lai của con mình chứ đừng vì thiên hạ bởi chẳng có thiên hạ nào hy sinh cho ai ngu như họ Lưu khi ông ta không lo có con để nối dõi tông đường mà cứ lo nhân quyền, dân chủ quá ư tào lao thiên địa.

Cái tát dành cho Bộ Tài nguyên và Môi trường

Một lần nữa, thủ đoạn xảo ngôn, dối trá trắng trợn của một quan chức cấp cao lại bị vạch trần. Đó là trường hợp của Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Linh Ngọc, khi ông này nói về việc cấp phép xả 1 triệu m3 (chất thải nạo vét luồng vào cảng) cho Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 ra biển Bình Thuận, cách khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Cau chỉ 8 km.
Trên báo Pháp luật TP. HCM, ông Ngọc trả lời phỏng vấn như sau:
"• Như ông nói là Bộ đã khảo sát chi tiết khu vực 30 ha cấp phép cho hoạt động nhận chìm này. Vậy hệ sinh thái biển dưới đó thế nào?
+ Cát thôi.
• Có các hệ sinh thái, sinh vật như cỏ biển, san hô hay khu vực mà sinh vật biển sinh sản?
+ Không có. Nếu có thì không bao giờ chúng tôi cấp phép! Khẳng định với các bạn như vậy! Chúng tôi có trách nhiệm với môi trường, các bạn không nên đặt những câu hỏi kiểu như vậy
".
Thế nhưng, những bức ảnh tôi post dưới đây lại chính là khu vực đáy biển, nơi tiếp nhận chất thải mà ông Nguyễn Linh Ngọc cấp phép.

clip_image002
clip_image004
clip_image006
clip_image008
Giữa lời khẳng định chắc nịch là đáy biển chỉ có "cát thôi", không có san hô và sinh vật biển, với các hình ảnh hết sức trực quan sinh động là đang có san hô, có thảm sinh vật biển sinh sống, được VTC14 thông qua các thợ lặn ghi lại, thì thực sự không còn gì để nói về sự dối trá trơ trẽn của lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đây là một cái tát vào mặt loại quan chức như ông Ngọc và cái tát dành cho cả Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Với sự thật không thể chối cãi này, ông Ngọc, nếu còn có lương tri để thức tỉnh thì hãy lập tức rời khỏi cái ghế mà ông đang ngồi. Ông không xứng đáng. Tuyệt đối không! Nếu ông ta vì tham quyền cố vị, vì bổng lộc, hay bất cứ lý do gì mà vẫn cố sống cố chết bám vào cái ghế thứ trưởng, thì những lãnh đạo cấp cao hơn, nếu còn có lương tri, nếu còn nghĩ đến giữ gìn kỷ cương phép nước, đến niềm tin của nhân dân, cần phải cách chức thứ trưởng đối với ông Ngọc. Một kẻ đạo đức như vậy không xứng đáng làm người chứ đừng nói làm quan.
Với sự thật đã được phơi bày này, Bộ Tài nguyên và Môi trường phải ngay lập tức rút lại giấy phép đổ 1 triệu m3 chất thải xuống biển.
Chính ông Ngọc, người thay mặt ông Bộ trưởng Trần Hồng Hà ký giấy phép, đã nói nếu có (san hô và sinh vật biển) thì không bao giờ cấp phép. Nay báo chí đã chứng minh dưới đáy biển có san hô, có sinh vật biển, thì việc rút lại tờ giấy kia là đương nhiên. Sự thật đã rành rành, các ông không thể tiếp tục lì lợm được nữa. Bởi như thế chẳng khác nào các ông gián tiếp tuyên bố, làm quan chức là phải mất hết liêm sỉ!?Bạch Hoàn

Tư hữu hóa ở Nga và sự ra đời của một giai cấp đầu sỏ tư bản

Lời nói đầu của người dịch

Đầu năm, một bà thứ trưởng Bộ Công thương bị khiển trách vì đã bổ nhiệm một cán bộ trái với quy định. Trong khi điều tra được tiến hành thì lòi ra chuyện tài sản của gia đình bà khoảng 700 tỷ đồng, một phần ba giá trị của một công ty mà khi xưa bà đã có trách nhiệm trong việc thực hiện cổ phần hoá. Cơ quan kiểm tra chưa đưa ra kết luận, nhưng theo báo chí trong nước kể lại thì chuyện này tương tự như những gì đã xảy ra cách đây một phần tư thế kỷ khi chính phủ Nga hậu Xô viết tư hữu hoá ồ ạt: trong một môi trường tham nhũng thối nát, Nhà nước Nga nợ nần đã phải bán tháo các xí nghiệp của mình cho tư bản mại bản để trả lương cho công chức và cho người nghỉ hưu.

Để học kinh nghiệm của một quốc gia trước kia chúng ta đã lấy làm kiểu mẫu, chúng tôi đã dịch và xin giới thiệu quý bạn đọc bài

Les privatisations en Russie et la naissance d’un capitalisme oligarchique

(Tư hữu hoá ở Nga và sự ra đời của một giai cấp đầu sỏ tư bản)


của tiến sĩ Cédric Durand đăng trên trạm của tổ chức nghiên cứu (think tank) Gabriel Peri thuộc Đảng Cộng sản Pháp.

TS Cédric Durand là nhà kinh tế, phó giáo sư Đại học Paris XIII. Các công trình nghiên cứu của ông xoay quanh việc tổ chức kinh tế thế giới (công ty đa quốc gia, gia công phần mềm, toàn cầu hoá, chuỗi hàng hoá toàn cầu) và sự năng động của chủ nghĩa tư bản. Năm 2010, ông cho in ở nhà xuất bản Textuelin cuốn "Le capitalisme est-il indépassable?" (Chủ nghĩa tư bản có phải là không thể vượt?) đi ngược với trào lưu xét lại chủ nghĩa xã hội hiện nay ở nước ta.

Dưới một góc nhìn khác, nhưng với những nhận xét và kết luận tương tự, bạn đọc có thể tham khảo bài của Hội France Oural

La grande privatisation des entreprises publiques en Russie en 1991

(Chuyện tư hữu hóa lớn các doanh nghiệp Nhà Nước ở Nga vào năm 1991)


Tổng thống Vladimir Putin chưa khắc phục được di sản do người tiền nhiệm Boris Eltsin để lại thì đã lại tung ra một đợt tư hữu hoá mới mà giới tài phiệt Âu Châu nghi ngờ về tính khả thi của nó. Về đợt tư hữu hoá này bạn đọc có thể tham khảo bài của Maria Koutouzova

Les banques européennes s’interrogent sur la privatisation du russe Rosneft

(Các ngân hàng Âu Châu đặt câu hỏi về tư hữu hóa công ty Rosneft của Nga)


Nhân vụ Đồng Tâm và các vụ đuổi dân lấy đất khác, trong nước có nhiều vị suy nghĩ đến việc tư hữu hoá ruộng đất và bất động sản. Để đóng góp vào thảo luận, chúng tôi xin giới thiệu báo cáo của Ngân hàng Quốc tế:

Russie 1992: Privatisations hors marché

(Nga 1992: Tư nhân hóa ra thị trường)


*****
Trong thập niên 1990, nước Nga đã trải qua một suy thoái kinh tế lớn, sâu sắc như cuộc suy thoái ở Hoa Kỳ vào đầu thập niên 1930. Bên cạnh sự bùng nổ của những bất bình đẳng thì các chỉ số như tuổi thọ, giáo dục người trẻ và tăng trưởng dân số đã suy giảm rất nhiều. Những cuộc tư hữu hoá các xí nghiệp ở giai đoạn cuối của thời kỳ Liên Xô là nền tảng của sự chuyển đổi sang nền kinh tế tự do dẫn đến thảm hoạ này. Chúng biểu tượng cho công cuộc cải cách về sở hữu lớn nhất chưa từng thấy cho tới nay.
Bây giờ nếu xét lại thiên hùng ca vĩ đại này của chủ nghĩa tân tự do thắng thế vào thời đó thì chúng ta có thể viết thêm vào sự ký vốn đã dài của những ảo ảnh được bán cho dân chúng và những mộng vỡ sâu xa chúng gây nên. Nguyên nhân nào đã dẫn đến những cuộc tư hữu hoá mau chóng ở Nga và sự nhiệt tình ban đầu của người dân? Cải cách cơ cấu triệt để này đã được tiến hành ra sao? Bây giờ chúng ta có thể rút ra kết luận gì? Ngoài lịch sử của những biến đổi thời hậu Xô viết, trả lời cho những câu hỏi này sẽ giúp ta hiểu được tại sao cơ chế chính trị xã hội của chủ nghĩa tân tự do bây giờ lại suy yếu.

Tạo ra một tình huống không thể đảo ngược được...

Ngay năm 1987, dưới sự thôi thúc của Tổng bí thư Mikhail Gorbachev, một loạt quyết định tự do hoá kinh tế Liên Xô đã được thực hiện. Nhưng chỉ sau khi Liên Xô sụp đổ vào tháng chạp 1991 và với sự thành lập một nhóm nghiên cứu mới gồm các nhà kinh tế tự do xung quanh tổng thống Yeltsin thì mới có những quyết định quyết liệt thay đổi quan hệ về sở hữu. Trong khi tình hình kinh tế tiếp tục xấu đi và các thế lực chống lại quá trình tư hữu hoá vẫn được coi là tương đối mạnh, nhóm này nghĩ rằng họ đang nắm một thời cơ lịch sử. Theo ông Yegor Timurovich Gaidar, thủ tướng thời đó, thì phải hành động nhanh chóng để "tạo ra một cấu trúc xã hội mà làm cho sự trở lại quyền hành của những người cộng sản không thể thực hiện được hay ít nhất là rất khó khăn". Để làm được điều này, các nhà lãnh đạo mới có thể dựa vào sự ủng hộ tương đối của người dân. Tỷ dụ như năm 1989-1991, các thợ mỏ được huy động chống lại độc quyền chính trị và kinh tế của «Nhóm ưu đãi trong Đảng» (Nomenklatura) đã đồng hành với công cuộc đối kháng do ông Boris Yeltsin dẫn đầu. Nói chung hơn thì người dân tán thành "kinh tế thị trường" với hy vọng mức sống của họ sẽ được cải thiện và công bằng xã hội sẽ trở thành hiện thực.

... với sự trợ giúp của phương Tây

Trên phương diện quốc tế thì tư duy chiến tranh lạnh vẫn còn đó và tương lai của Liên Xô cũ vẫn là rất được quan tâm. Vì thế mà các nước phương Tây, dẫn đầu là Hoa Kỳ, tham gia hỗ trợ tích cực các lãnh đạo muốn cải tổ theo chủ nghĩa tân tự do. Mặc dù dân biểu Boris Yeltsin đảo chính chống lại Quốc hội vào mùa Thu năm 1993 và một quan điểm về dân chủ chí ít nhất có thể coi là hạn chế, sự hỗ trợ này không bao giờ bị đặt lại. Năm 1992, Trung tâm Tư hữu hoá Nga đã nhận được hàng trăm triệu đô la tài trợ cho không hoặc cho vay từ Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Âu Châu và nhiều chính phủ khác nhau. Năm 1992, Anatoly Chubais thành lập Uỷ ban Nhà nước Phụ trách Tư hữu hóa và cho phép phương Tây làm thay đổi cán cân chính trị về phía ủng hộ sở hữu tư nhân và thị trường tự do. Richard Morningstar, một quan chức của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, nói thẳng thừng: "Nếu chúng ta đã không có ở đó để hỗ trợ Chubais, thì liệu chúng ta đã thắng cuộc chiến tư hữu hoá hay không? Chắc là không". Anatoly Chubais và các đồng chí chính trị của ông đã nắm được lợi quyền nhờ sự hào phóng tài chính của những người hỗ trợ Tây phương trước khi hưởng lợi từ vị trí của họ trong quá trình tư hữu hoá. Họ không phải là những người duy nhất. Các "Harvard Boys" khác của chính phủ Mỹ, trong đó có một số người song tịch, pha trộn các thể loại để hưởng lợi riêng tư, đôi khi là tư vấn, đôi khi là đại diện các chính phủ, đôi khi họ cũng là doanh nhân làm ăn cho riêng mình.
Với sự hỗ trợ của phương Tây, năm 1992 nhóm Chubais chọn thực hiện cái gọi là tư hữu hoá hàng loạt. Họ phát cho dân tem phiếu dùng để mua cổ phần các xí nghiệp được tư hữu hoá hay để bán lại cho người khác. Song song, họ cũng dành ưu đãi cho nhân viên và lãnh đạo các xí nghiệp đó. Kết quả thật là ấn tượng: vào giữa tháng năm năm 1994, 60% GDP được sinh ra từ khu vực tư nhân. Ngược lại, các nhà cải cách hầu như không còn được dân chúng ủng hộ. Lý do rất dễ hiểu! Phần đông không được hưởng lợi gì từ những vụ tư hữu hoá đó. Cổ phần của họ (người dân) đã bị các nhà quản lý ngăn chặn, mua lại với giá rẻ mạt trong khi tiền lương không được trả cho nhân viên hay là không còn giá trị nữa vì tài sản của hãng đã bị rút sạch.
Tháng Bảy 1994, Boris Eltsin và Anatoly Chubais chuyển sang giai đoạn mới của công cuộc tư hữu hoá với việc bán đấu giá cổ phần tại các công ty trong các ngành năng lượng, kim loại và viễn thông. Mục tiêu của giai đoạn thứ hai này là để bù đắp thâm hụt ngân sách liên bang. Trước các cuộc bầu cử, chính phủ thực sự có nhu cầu bức xức về tài chính để trả nợ lương cho công chức, quân nhân và những người hưu trí. Tuy nhiên, phương án này đã không đáp ứng được mong đợi của chính phủ bởi vì vốn chạy khỏi Nga quá lớn và đầu cơ quá mạnh. Trong bối cảnh này chính phủ đưa ra giải pháp "dùng cổ phiếu để trả nợ". Các ngân hàng sẽ cho Nhà Nước vay và nợ được bảo lãnh bằng lượng cổ phần lớn hay quá bán của những xí nghiệp có giá trị cao của ngành công nghiệp Xô Viết, mà họ sẽ trở thành sở hữu chủ. Thâm hụt ngân sách Nhà Nước rất lớn. Toàn bộ công ty Norilsk, nhà sản xuất nickel lớn nhất thế giới, đã được bán với giá vài tỷ đô la. Thông đồng và thiên vị trong các thương vụ hiển nhiên đến nỗi chính sách bị chỉ trích kịch liệt kể cả từ Ngân hàng Thế giới. Vô ích. Một công hai chuyện, phương án này đã được thực hiện tới cùng và đã cung cấp tài chính đủ cho Boris Eltsin tái cử khi chẳng mấy ai tin vào kết quả đó.
Từ năm 1996, các chính phủ kế tiếp đã tiếp tục tuần tự bán tài sản công cộng. Những bất thường về định giá các xí nghiệp tư hữu hoá vẫn còn nhiều dù ít trắng trợn hơn.

Sự tập trung tài sản và quyền lực

Sau gần mười lăm năm tư hữu hoá, nhận xét đầu tiên là xã hội Nga đã gắn chặt với chủ nghĩa tư bản. Đây là thành tích chính trị của phe cải cách tự do cũng như của các tổ chức quốc tế và các nước phương Tây đồng hành với họ. Ngược lại, về phía người dân thì thất vọng là lớn. Sự tập trung tài sản và quyền lực kinh tế đi ngược với khẩu hiệu mà tổng thống Boris Eltsin liên tục phát biểu: "Chúng ta cần đến hàng triệu chủ nhân, chứ không phải là một nhóm triệu phú nhỏ".
Vì bất lực bởi tầm quan trọng của cuộc khủng hoảng và bởi các quy định mới không thông thoáng, nhân viên các xí nghiệp đã không thể huy động mạnh để chống lại sự chiếm đoạt đồ sộ này. Ngược lại Nhà nước đã bị giật dây vì lợi ích của một nhóm nhỏ. Tháng Mười một năm 2004, Tòa án Tài chính Liên bang Nga do cựu thủ tướng M. Stepashin chủ trì công bố một báo cáo lên án những bê bối lớn về quản trị chính sách công. Báo cáo phán quyết rõ ràng : "Nguyên tắc bình đẳng của công dân trong việc tư hữu hoá ồ ạt và lợi ích và quyền lợi của tất cả các tầng lớp xã hội đã không được tôn trọng".
Cơ bản hơn, công cuộc tư hữu hoá lớn này của Nga dựa trên sự tịch thu quyền tranh luận cần thiết của người dân. Trước đòi hỏi dân chủ hoá, quyền kiểm soát một nền kinh tế đã bị thể chế quan liêu Xô Viết chiếm đoạt chỉ có đề xuất duy nhất là giải pháp tư hữu hoá. Trong khi lý thuyết kinh tế chưa cho phép kết luận về tính hữu hiệu của các hình thức sở hữu khác nhau, những khả năng kết hợp sở hữu công, tự quản và sở hữu tư nhân các doanh nghiệp nhỏ chưa bao giờ được thảo luận.
Mặc dù quá trình tư hữu hoá đã không gây ra đối đầu xã hội toàn bộ, bất mãn này sẽ có dấu ấn xã hội lâu dài cho nước Nga. Trong những thăm dò ý kiến thì đại đa số người Nga cho rằng tư hữu hoá đã có tác động tiêu cực đối với đất nước họ và những người đã có hành động bất hợp pháp trong bối cảnh này phải được đưa ra trước công lý. Dù Vladimir Putin đã nhiều lần loại bỏ việc xét lại chính sách tư hữu hoá, vấn đề này vẫn hiện diện thường xuyên trong các cuộc tranh luận công cộng.Cédric Durand
(Bản dịch của ĐẶNG Đình Cung, Kỹ sư tư vấn)

Thủ tướng nên đứng ra phân xử vụ tranh chấp đất ở Đồng Tâm

Từ nay đến khi Thủ tướng quay về với việc dân việc nước tôi sẽ chia sẻ lại bài này liên tục. Các bạn cũng nên chia sẻ rộng rãi bài viết của Phạm Viết Đào, một người có tầm nhìn sâu rộng, có kinh nghiệm và tri thức về thanh tra đã từng đưa sáu quan chức vào tù ở thập kỷ 90 khi anh làm thanh tra Bộ Văn hoá. Đây không phải đơn tố giác, khiếu nại hay cầu cứu, mà là một bài viết thẩm định kết quả thanh tra của Hà Nội với đất Đồng Tâm của một cán bộ thanh tra có thâm viên, sắc sảo, dày kinh nghiệm, nắm vững luật pháp, hiểu sâu từng con số, với số liệu và lý lẽ chính xác, thuyết phục. Thủ tướng cần đọc, cho dù sau khi đọc ông lờ đi thì lẽ phải của dân Đồng Tâm mà bài viết vạch ra rõ như ban ngày cũng đã nằm gọn trong lương tâm ông, có thể bị chôn vùi ở đó và cũng có thể một ngày nào đó sẽ cựa quậy và sống dậy. So với những lý lẽ rối rắm, loanh quanh, mập mờ, ấp úng và quy chụp của Nguyễn Đức Chung thì lý lẽ của bài này như mặt trời so với đèn pin, như Tiến sỹ so với học sinh trung học. Các vị ở các cơ quan công quyển và trong các nhóm lợi ích dán tem nhãn QP có thể trì hoãn, lờ đi, chứ không thể nào bác bỏ.

Đỗ Minh Tuấn


Vụ thanh tra đất ở Đồng Tâm đã công bố dự thảo kết luận thanh tra. Theo luật Thanh tra thì kết luận chính thức sẽ được công bố ngay sau đó vài tuần…
Theo người viết bài này, với chiều hướng kết luận của thanh tra đất như bản dự thảo vừa qua thì khó lòng đạt được sự đồng thuận giữa dân Đồng Tâm với chính quyền Hà Nội và Bộ Quốc phòng…
Mục tiêu của bất kỳ cuộc thanh tra nào cũng đều tìm các giải pháp thực tế, khách quan, công tâm, thấu lý đạt tình, “rút củi đáy nồi” để đạt được sự đồng thuận, để an dân… Mục tiêu của thanh tra không phải đẩy dân vào chân tường, biến dân thành đối thủ, đối địch; nhất là do xuất phát từ sự tranh chấp đất đai.
clip_image002
Cha ông từng đúc kết: “Hôn nhân, điền thổ vạn cổ chi thù”… Những tranh chấp đất đai nếu không được giải quyết khôn ngoan, thấu đáo, công tâm, tỉnh táo sẽ là mầm họa gây nên sự bất bình giữa dân chúng, chính quyền. Vì lý do đó, blogger Phạm Viết Đào đề nghị đích thân Thủ tướng nên vào cuộc vì mấy cơ sở pháp lý sau đây:
1/ Đất Đồng Tâm là đất do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký quyết định thu hồi bằng Quyết định 113/TTg ngày 14/4/1980 để phục vụ mục đích xây dựng 1 sân bay quốc phòng; số đất quyết định thu hồi của dân Đồng Tâm và một số xã ở Chương Mỹ là 206 ha.
Sau khi làm xong thủ tục thu hồi đất, Bộ Quốc phòng chắc vì lý do khách quan nào đó nên đã không xây dựng sân bay, sau đó đã cắm mốc giới để đó coi là đất quốc phòng, coi như dự án thu đất xây sân bay quân sự phá sản.
Số đất này được quy tụ gần bốn chục năm trời, trong khi đó sau năm 1980, chính phủ đã ban hành liên tiếp 2 nghị định đó là Nghị định số 09/CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 về chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh; Nghị định số 69/2000/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2000 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 09/CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 về chế độ quản lý sử dụng đất quốc phòng, an ninh…
Cả 2 Nghị định này đều quy định Thủ tướng là người có quyền hạn thu hồi đất và cấp đất cho các dự án an ninh quốc phòng; Bộ Quốc phòng khi tiếp nhận đất quốc phòng phải sử dụng đúng mục đích, nếu không sử dụng hết thì phải báo cáo trả lại cho Thủ tướng.
Không rõ từ năm 1980 đến năm 2003 là giai đoạn đất quốc phòng được điều chỉnh bởi các quy định của 2 nghị định trên đã được Bộ Quốc phòng báo cáo Thủ tướng như thế nào và UBND thành phố Hà Nội quản lý ra sao? Có dấu hiệu đất bỏ hoang hóa, giao cho Lữ đoàn 28 quản lý sử dụng sai mục đích? Theo dự thảo kết luận là từ năm 1981-1989.
2/ Điều 50 của Luật Đất đai 2013 quy định: Báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
1. Trách nhiệm báo cáo hàng năm về kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện có trách nhiệm gửi báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gửi báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến Bộ Tài nguyên và Môi trường;
b) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm gửi báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh đến Bộ Tài nguyên và Môi trường;
c) Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp kết quả thực hiện hàng năm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước để báo cáo Chính phủ trình Quốc hội vào kỳ họp cuối năm…”.
Như vậy, Luật Đất đai 2013 vẫn tiếp tục quy định Chính phủ và Quốc hội mới là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc quy hoach, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng.
Điều 59 của Luật Đất đai 2013 không giao quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố quyền hạn quy hoạch và sử dụng đất quốc phòng…
Mọi diễn biến thay đổi quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng, thay đổi các chủ thể sử dụng đất quốc phòng phải được báo cáo cho Chính phủ và Quốc hội phê duyệt…
Sở dĩ xảy ra những lộn xộn vừa qua ở Đồng Tâm là do Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội và Bộ Quốc phòng dự định cắt một phần đất của dự án sân bay Miếu Môn để giao cho Viettel, một doanh nghiệp kinh doanh truyền thông của Bộ Quốc phòng.
Nếu đúng như thông tin này thì đây là quyết định sử dụng đất sai mục đích của Bộ Quốc phòng, quyết định giao đất của CT UBNDTP Hà Nội vượt trái thẩm quyền vì: nếu Bộ Quốc phòng và UBND TP Hà Nội muốn chuyển đổi mục đích sử dụng, thay chủ thể nắm quyền sử dụng đất ở Miếu Môn thì phải báo cáo Thủ tướng, phê duyệt lại quy hoạch của khu đất của dự án xây sân bay Miếu Môn.
3/ Tại Đồng Tâm xảy ra việc tranh chấp đất đai: Quân đội và chính quyền thành phố cho rằng dân Đồng Tâm lấn chiếm đất quốc phòng; còn dân Đồng Tâm lại cho rằng: dân Đồng Tâm chấp hành nghiêm chỉnh Quyết định Quyết định 113/TTg ngày 14/4/1980; chính quân đội lấn chiếm đất của dân.
Ông Bùi Văn Kỉnh, 62 tuổi phát biểu tại buổi công bố dự thảo kết luận thanh tra 7/7 vừa qua: “Người dân chúng tôi bảo lưu quan điểm rằng: kết luận thanh tra nói không có đất đồng Sênh là không đúng, đây là đất cha ông chúng tôi để lại. Nhân dân chúng tôi đã gọi là đất cẩu Đồn, từ thời thực dân Pháp đóng quân. Trong quá trình đo đạc mới nhất là không chính xác. Dự thảo thanh tra có nói đơn người dân Đồng Tâm không chính xác về diện tích đất, nhưng chúng tôi khẳng định chân lý, duy nhất chỉ có quyết định 113/TTg thu hồi 47,36 ha đất Đồng Tâm, chúng tôi luôn tuân thủ không xâm chiếm. Đề nghị Quốc phòng phải tuân thủ, phải có cuộc đo đạc lại nghiêm túc khu đất cẩu Đồn và đất Đồng Sênh”. Ông Kỉnh đề nghị các cấp có thẩm quyền đo đạc tỉ mỉ cùng với sự chứng kiến của người dân cả khu đất cẩu Đồn và đất Đồng Sênh, trừ đi 47,36 ha đất sẽ ra bao nhiêu diện tích đất của người dân đang sử dụng. Nếu nói đất của nông trường chè Lương Mỹ nằm trên đất Đồng Tâm phải cung cấp được văn bản, số liệu chứng minh…” (Thanh Niên)
Đứng về lôgich hình thức, mặc dù người viết chưa từng đến Đồng Tâm, qua số liệu do đoàn thanh tra công bố thì rõ ràng quân đội đã lấn chiếm đất của dân chứ kết luận lấn chiếm đất quốc phòng là sai.
Quyết định 113 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ giao 206 ha, thế nhưng ông Nguyễn An Huy, Phó chánh thanh tra Hà Nội công bố sáng 7 tháng 7 cho biết: “Theo quyết định 113 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ, và tỉnh Hà Sơn Bình năm 1981, Hà Nội năm 2014, kết quả đo đạc kiểm tra mốc giới sân bay Miếu Môn ngày 21.6 thì từ năm 1981 đến nay, toàn bộ đất sân bay Miếu Môn được giới hạn bởi các mốc giới bê tông cốt thép được cắm trên thực địa còn nguyên, là đất quốc phòng, do các đơn vị quốc phòng quản lý và sử dụng, có diện tích 236,9 ha, tăng 28,9 ha so với diện tích trong quyết định 113…”.
Sự việc rõ như ban ngày như vậy: Chính phủ chỉ ra quyết định thu hồi 206 ha, khu đất bây giờ do cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng đo đạc lên tới 236,9 ha ? Đất đâu có khả năng đẻ ra đất?
Vậy thì quân đội không lấn của dân Đồng Tâm thì lấn của ai mà diện tích lên tới 236,9 ha? Nếu nói là lấn của Trung Quốc thì phải lên Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng, ra Biển Đông… Ở Đồng Tâm số đất dôi ra chỉ có thể do đơn vị này đã lấn đất của dân…
Ông Bùi Văn Kỉnh đại diện cho dân cũng đã phát biểu một cách đúng mực, hiền hòa, nào có đòi hỏi kích động gì? Số liệu do Bộ Quốc phòng và Đoàn thanh tra nêu trong kết luận thanh tra chức có phải do dân Đồng Tâm tự đo đạc rồi hô lên rằng: Quân đội đã lấn của dân Đồng Tâm 28,9 ha đâu?
Ngay việc cầm nhầm, lấn quá 28,9 ha này đoàn thanh tra cũng đã kết luận là sai và yêu cầu Bộ Quốc phòng cho kiểm điểm do không báo cáo Thủ tướng điều chỉnh lại quyết định giao đất… mặc dù đã “cầm quá” 28,9 ha… gần 40 năm? Đây là một dạng “phạt cho tồn tại” của ngành thanh tra xây dựng…
Một trong 10 lời thề của quân nhân đó là “không lấy của dân”? Thế mà?
Nếu lấy mà để phục vụ cho xây dựng sân bay Miếu Môn, phục vụ mục đích quốc phòng thì dân Đồng Tâm cũng yên lòng; đằng này thu hồi đất xong, cắm mốc quay lại bỏ hoang đó, có thời còn phát canh thu tô, cho dân thuê canh tác nộp tô 100.000 đ/sào (theo thông tin báo chí đưa). Mãi tới 2012 mới thôi không phát canh thu tô nữa. Nghe mà ngậm ngùi cám cảnh cho dân Đồng Tâm.
Kết luận của đoàn thanh tra nêu: số đất dôi ra 28,9 ha không không phải của dân Đồng Tâm mà của nông trường Lương Mỹ. Nếu như vậy thì vẫn là của dân ta chứ không phải của Trung Quốc, không phải của Mỹ???
Ông Bùi Văn Kình cho rằng “Đây là đất cha ông chúng tôi để lại. Nhân dân chúng tôi đã gọi là đất cẩu Đồn, từ thời thực dân Pháp đóng quân”; ”Nếu nói đất của nông trường chè Lương Mỹ nằm trên đất Đồng Tâm phải cung cấp được văn bản, số liệu chứng minh…”.
Theo người viết bài này, chính lãnh đạo Lữ đoàn 28 là những người biết phải trái, liêm sỉ nên khi kê khai để xin cấp sổ đó, họ chỉ dám kê khai đề nghị 208 ha đất. Họ không xưng xưng nhận vơ, nhận xằng cái phần lấn sang đất của dân và yêu cầu nhà nước công nhận. Thế mà Thanh tra Hà Nội nhân danh cơ quan chuyên môn chỉ tuân thủ pháp luật, lại không nhận ra đâu là phải trái, liêm sỉ, đúng sai quay sang quy chụp cho dân Đồng Tâm lấn chiếm đất quốc phòng? Lại cho hành động biết phải trái liêm sĩ của một số cán bộ ở Lữ đoàn 28 là sai?
4/ Phát biểu tại buổi công bố dự thảo kết luận thanh tra khi trả lời câu hỏi đất quốc phòng là đất gì, Chủ tịch Nguyễn Đức Chung cho biết ở cương vị và cấp của ông cũng chỉ biết đất quốc phòng là đất quốc phòng.
Ông Nguyễn Đức Chung có thể trả lời như vậy nhưng Thủ tướng, Chính phủ, Quốc hội không thể không biết mục đích sử dụng lâu dài của 238,9 ha đất thuộc diện bờ xôi ruộng mật ở Mỹ Đức, Chương Mỹ?
Với trách nhiệm là cấp ra quyết định cấp đất cho dự án quốc phòng, Thủ tướng cần vào cuộc với các hình thức sau:
- Yêu cầu Bộ Quốc phòng báo cáo quy hoạch sử dụng lô đất này vào mục đích phòng thủ, quốc phòng là mục đích gì?
Trước đây đã dự kiến định xây sân bay quân sự nhưng không khả thi nên thôi; Vậy thì bây giờ muốn quy hoạch lại Thủ tướng phải được biết và phải chịu trách nhiệm về quy hoạch và sử dụng đất ở Miếu Môn sao cho hợp lý, kinh tế và khoa học.
Nếu Bộ Quốc phòng không thuyết phục được chính phủ, không có dự án thật sự vì mục đích quốc phòng mà chỉ vì mục đích kinh doanh thì cái “nhãn mác” đất quốc phòng đã bị nhóm lợi ích nào đó lợi dụng… Do đó Thủ tướng nên thu hồi lại 236,9 ha này trả lại cho dân để hạn chế bớt các nhóm lợi ích ở Bộ Quốc phòng cứ thấy đất là mờ mắt, vác súng ống, ôm tiền lao vào thì chí nguy…
Với những bàn tay sắt như Giang Trạch Dân, Vương Kỳ Sơn, Tập Cận Bình mà còn gờm mấy ông tướng làm kinh tế của Trung Quốc nên đã phải hủy để ngăn chặn bớt nạn kiêu binh coi trời bằng vung, bất cố liêm sỉ…
Năm 2011, chính Bộ Quốc phòng đã từng có công văn đề nghị Chính phủ xây dựng sân golf tại khu đất định xây sân bay Miếu Môn:
“Bộ Xây dựng vừa gửi văn bản đến Văn phòng Chính phủ đề nghị làm rõ việc chuyển mục đích sử dụng 176 ha đất quốc phòng thuộc Trường bắn Miếu Môn (Hà Nội) để xây dựng sân golf.
Trước đó, Văn phòng Chính phủ đã lấy ý kiến các bộ ngành về việc Bộ Quốc phòng kiến nghị xây sân golf tại Trường bắn Miếu Môn.
Theo Bộ Xây dựng, Thủ tướng đã có quyết định phê duyệt quy hoạch sân golf Việt Nam đến năm 2020 cũng như quyết định phê duyệt quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050, trong đó không có quy hoạch xây mới sân golf tại khu vực Miếu Môn…”
(Đất trường bắn được đề xuất chuyển thành sân golf http://vnexpress.net/…/dat-truong-ban-duoc-de-xuat-chuyen-t… -Thứ sáu, 11/11/2011 | 15:31 GMT+7)
Hy vọng Thủ tướng và Chính phủ tỉnh táo trong vụ đất Đồng Tâm, Chính phủ cần yêu cầu chính quyền Hà Nội, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài nguyên Môi trường, Thanh tra Chính phủ có báo cáo, làm sáng tỏ các vấn đề liên quan tới đất đai ở Đồng Tâm trước khi Thanh tra Hà nội công bố kết luận chính thức…
Vụ Đồng Tâm tầm có mức nghiêm trọng và các hệ lụy xã hội lớn hơn nhiều vụ “Quán Xin chào” và nhiều vụ đích thân Thủ tướng đã vào cuộc… Nếu Thủ tướng không vào cuộc để “rút củi đáy nồi”, phân xử cái vụ tranh chấp ở Đồng Tâm do chính các đơn vị nhân danh lợi ích quốc phòng gây ra, biến thương trường thành chiến trường. 
Vụ này nếu không giải quyết ổn thỏa, đúng pháp luật sẽ làm chính phủ mang tiếng không liêm chính, không kiến tạo, bị các nhóm lợi ích lôi kéo, phù phép…Phạm Viết Đào

No comments:

Post a Comment