Friday, July 14, 2017

Bài viết hay(517̉̉̉8)

Lưu Hiểu Ba, Mẹ Nấm là 2 cái tên mà tui muốn nhắc tới hôm nay vì nhiều lão tướng Bolsa cho rằng Lưu Hiểu Ba thà ở tù chứ không ra nước ngoài chứ nhiều nhà đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ trong nước rất muốn đi Mỹ. Nói như vậy, tui cho là bôi nhọ và sĩ nhục những người như Mẹ Nấm. Ông Nguyễn Đan Quế thà ở tù chứ không ra nước ngoài kia kìa. Hơn 90 triệu người trong nước có bao nhiêu người dám lên tiếng đấu tranh khi còn có trách nhiệm với mẹ già và 2 con thơ dại? Không giúp gì được thì chớ xúc phạm danh dự người khác, please!
Cuộc khổ nạn của Lưu Hiểu Ba
Lưu Hiểu Ba vào những năm giữa 2000 | Hình: Liu Xia
Cuối những năm 1960, Mao Trạch Đông, người cầm lái vĩ đại của Trung Quốc, đã khuyến khích trẻ em và thanh thiếu niên phê đấu thầy cô và bố mẹ mình, đả đảo “ngưu quỷ xà thần,” và “làm cách mạng.” Trên thực tế, điều này đồng nghĩa với việc đóng cửa trường học ở Trung Quốc. Trong những thập niên sau đó, nhiều người đã lên án việc tước bỏ giáo dục của cả một thế hệ.
Lưu Hiểu Ba, chủ nhân giải Nobel Hòa bình năm 2010, người bị kết án 11 năm tù vì “kích động lật đổ” chính phủ Trung Quốc vừa qua đời hôm thứ Năm, đã thể hiện một con đường khác. Ông Lưu, sinh năm 1955, mới 11 tuổi khi các trường học đóng cửa, nhưng ông vẫn tiếp tục đọc sách, ở bất cứ đâu ông tìm được. Không có giáo viên dạy ông biết cách chính phủ muốn ông nghĩ về cái mình đọc, ông bắt đầu tự mình suy nghĩ—và ông thích điều đó. Mao vô tình đã dạy cho ông một bài học đi ngược lại chính mục đích của Mao là biến trẻ em thành “hồng tiểu binh.”
Nhưng trải nghiệm này chỉ giải thích một phần tính độc lập kiên cường của ông Lưu. Nó có vẻ còn là một phẩm chất bẩm sinh. Nếu có gien nào quyết định tính thẳng thắn thì rất có thể ông Lưu đã mang gien ấy. Trong những năm 1980, khi đang học thạc sĩ ngành văn học Trung Quốc, ông đã có tiếng là một “con ngựa ô” vì bài bác gần như mọi nhà văn Trung Quốc đương thời: ngôi sao văn học Vương Mông thì ba phải chính trị; các nhà văn “tìm về nguồn cội” như Hàn Thiếu Công thì quá lãng mạn về giá trị của truyền thống Trung Hoa; ngay cả những anh hùng lên tiếng vì nhân dân như Lưu Tân Nhạn cũng vẫn sẵn lòng đặt niềm tin vào các nhà lãnh đạo Cộng sản “tự do” như Hồ Diệu Bang. Không có ai đủ độc lập. “Tôi có thể tóm gọn vấn đề của các nhà văn Trung Quốc trong một câu,” Lưu Hiểu Ba viết năm 1986. “Họ không thể tự mình sáng tác—đơn giản là họ không có khả năng—vì chính cuộc đời họ cũng không thuộc về họ.”
Ông mang tính thẳng thắn theo mình ra cả nước ngoài. Tại một cuộc hội thảo về điện ảnh Trung Quốc tại Đại học Oslo năm 1988, ông đã ngạc nhiên khi biết các nhà Hán học châu Âu không nói được tiếng Trung (mà chỉ đọc được) và còn quá ngây thơ mà chấp nhận ý nghĩa đãi bôi trong những tuyên bố của chính phủ Trung Quốc. “Chín mươi tám phần trăm [bọn họ] là vô dụng,” ông nhận xét (còn cuộc hội thảo thì “nhàm chán tột cùng.”) Từ Oslo ông đến New York, đến Đại học Columbia, nơi ông phát cáu khi nghe các nhà lý thuyết hậu thực dân dạy bảo ông về cảm giác của việc là “kẻ khác” nhược tiểu. Không phải ông mới là người nên nói cho họ biết sao?
Mùa xuân năm 1989, hai trải nghiệm, đầu tiên ở New York và sau đó ở Bắc Kinh, đã thay đổi sâu sắc dòng chảy tư duy và cuộc đời ông. Ông vừa viết xong cuốn Chính trị Trung Quốc đương đại và phần tử trí thức Trung Quốc, khám phá một số cách thức mà nền văn minh phương Tây có thể là “một công cụ để phê phán Trung Quốc.” Nhưng khi sang phương Tây, ông nhận ra mô hình ấy không rõ ràng đến thế. Các vấn đề như khủng hoảng năng lượng, bảo vệ môi trường, vũ khí hạt nhân, và cái mà ông gọi là “thói nghiện lạc thú và thương mại hóa” là các vấn đề của con người, không chỉ riêng phương Đông hay phương Tây. Hơn nữa, chuyến thăm Bảo tàng Mỹ thuật Metropolitan ở New York đã làm ông tỉnh ngộ: chưa ai giải quyết vấn đề tinh thần của “sự bất toàn của cá nhân.” Ngay cả nhà văn vĩ đại của Trung Quốc hiện đại là Lỗ Tấn, với các tác phẩm phơi bày rất rõ sự chai cứng tinh thần, đạo đức giả, mê tín dị đoan, và sự bạo tàn, cũng không thể, theo ông Lưu, bước bước tiếp theo và “đấu tranh với bóng tối.” Lỗ Tấn đã cố, trong những bài thơ văn xuôi của ông, nhưng cuối cùng phải chùn bước; ông “không thể đối đầu với nỗi sợ hãi đơn độc của nấm mộ” và “không tìm được giá trị siêu việt nào để giúp mình đi tiếp.”
Cuốn Chính trị Trung Quốc đã được gửi đến nhà xuất bản, nhưng ông Lưu vẫn quyết định viết thêm một “Lời bạt,” và, với sự trung thực đặc trưng, ông dùng nó để làm suy yếu chủ đề chính của cuốn sách. Để làm “một người chân thực,” ông viết, giờ đây ông sẽ phải “tiến hành đồng thời hai phê bình”: một phê bình về Trung Quốc, vẫn dùng phương Tây như một thước đo, và một phê bình về chính phương Tây, và ở đây ông sẽ phải bắt đầu lại, từ đầu, nghĩ lại mọi thứ. Ông hoàn thành tiểu luận này vào tháng 3 năm 1989 với lời kết, “lời bạt này đã làm tôi kiệt sức.”
Tháng 4, ông lên máy bay từ New York về Bắc Kinh, không phải vì kiệt sức mà vì ông đã đọc được tin tức về các cuộc biểu tình đòi dân chủ của sinh viên ở Quảng trường Thiên An Môn và cảm thấy có trách nhiệm phải hỗ trợ họ. “Tôi hy vọng,” ông viết, “mình không phải kiểu người làm tư thế anh hùng rồi bắt đầu chau mày do dự khi đứng trước cửa địa ngục.”
Ở Bắc Kinh, lý tưởng của các bạn sinh viên đã làm ông cảm động. Ông giúp lên kế hoạch một cuộc tuyệt thực và tự mình tham gia. Cách tiếp cận của ông là không đối đầu, gần giống Gandhi. Trong “Tuyên bố tuyệt thực ngày mùng 2 tháng 6” ông viết rằng “xã hội dân chủ không được xây dựng trên thù hận và đối địch, mà được xây dựng trên sự tham vấn, tranh luận, và bỏ phiếu… [và trên] sự tôn trọng lẫn nhau, khoan dung, và sẵn sàng thỏa hiệp.” Chưa đầy hai ngày sau ông Lưu đã có cơ hội đưa lời nói của mình vào thực tiễn. Khi xe tăng bắt đầu lăn bánh về Quảng trường Thiên An Môn và chắc chắn những người cản đường sẽ bị sát hại, ông Lưu cùng bạn là Chu Đà và Hầu Đức Kiện đã thương lượng với quân đội nhằm cho phép sinh viên ở Quảng trường Thiên An Môn rời khỏi đó một cách an toàn. Không thể biết có bao nhiêu mạng sống đã được cứu nhờ thỏa hiệp này, nhưng chắn chắn phải đến hàng chục và có lẽ hàng trăm người.
Nhưng sau đó, ông Lưu làm một chuyện mà sau này ông coi là “sai lầm” làm ông ăn năn cả đời. Ông đã tìm kiếm nơi trú ẩn tạm thời ở nhà một nhà ngoại giao nước ngoài. Sau đó ông nghe nói những người khác—chủ yếu là dân thường—đã ở lại đường phố để giúp đỡ những người bị thương hoặc vẫn đang bị bắn. Họ đã mạo hiểm mạng sống để giúp đỡ, và khi chính phủ tuyên phạt những người tham gia “bạo loạn phản cách mạng,” những người dân thường ấy đã bị đối xử hà khắc hơn cả các sinh viên biểu tình. Nhiều người nhận án tù từ 18 đến 20 năm, một số bị tử hình. Bản thân ông Lưu bị đưa đến nhà tù Tần Thành, một cơ sở cao cấp giam giữ đối thủ chính trị của các nhà lãnh đạo cấp cao, và ở đó chỉ trong 19 tháng—“chán chết, nhưng chỉ thế thôi.”
Ông Lưu cảm thấy bị ám ảnh bởi những “hồn ma chưa siêu thoát” của Thiên An Môn, bóng ma phiền muộn của các sinh viên cũng như công nhân mà tuổi đời của họ mãi mãi dừng lại vào đêm họ ra đi. Ông viết rằng mình có thể nghe thấy tiếng khóc oán thán của họ—“yếu đuối, bất lực, đau lòng”—vọng lên từ lòng đất. Năm nào vào ngày kỷ niệm cuộc thảm sát ông cũng làm một bài thơ tưởng nhớ họ. “Lời sau cùng” của ông tại phiên tòa tháng 12 năm 2009 mở đầu: “Tháng 6 năm 1989 là bước ngoặt lớn trong cuộc đời tôi.” Tháng 10 năm 2010, khi bà Lưu Hà vợ ông báo tin ông được trao giải Nobel Hòa bình, ông nói, “Đây là cho những bóng ma phiền muộn.”
Sau khi được thả khỏi nhà tù Tần Thành năm 1991, ông bị cấm xuất bản ở Trung Quốc và bị đuổi việc ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh—dù sinh viên ở đó vẫn luôn yêu mến các bài giảng của ông. Ông bắt đầu kiếm sống bằng cách viết bài cho các tạp chí ở Hồng Kông, Đài Loan, và nước ngoài. Sự trỗi dậy của mạng Internet ở Trung Quốc đầu những năm 2000 đã làm gia tăng đáng kể lượt người đọc các tiểu luận của ông, không chỉ ở ngoài Trung Quốc mà còn ở trong nước, khi các người bạn nước ngoài tìm cách vượt qua Phòng hỏa Trường thành của chính phủ và đưa các bài viết trở về Trung Quốc. Trước năm 1989, tiểu luận của ông chủ yếu viết về văn chương Trung Quốc đương đại, nhưng giờ đây ông nói về các chủ đề trong lĩnh vực lịch sử, chính trị, và xã hội, cho thấy một nền tảng kiến thức phong phú. Ông còn bắt đầu làm thơ. Sự rộng lớn của các chủ đề trong thơ và tiểu luận của ông có thể gây sửng sốt: Khổng tử, Kant, Thánh Augustine, nông dân ở Giang Tô, vận động viên Olympic, sự hài hước ở Trung Quốc và Tiệp Khắc, khiêu dâm và chính trị, cuộc cách mạng Internet, việc Obama đắc cử, một con chó con bị giết, quan hệ quốc tế, Đức Dalai Lama, “phép lạ kinh tế” của Trung Quốc, và nhiều chủ đề khác nữa.
Nhất quán với triết lý “không có kẻ thù” mà ông theo đuổi sau năm 1989, giọng điệu mạnh mẽ trong các bài viết trước đây giờ đã dịu xuống. Nhưng sự thẳng thắn tuyệt đối—khả năng không thẳng thắn không được của ông—vẫn không thay đổi. Đến giữa những năm 2000, Lưu Hiểu Ba thường được xem là nhà bất đồng chính kiến hàng đầu của Trung Quốc. Mùa xuân năm 2008, một số người bạn của ông bắt đầu ấp ủ ý tưởng soạn thảo một bản tuyên ngôn công dân, kêu gọi bầu cử tự do và chính phủ hợp hiến ở Trung Quốc. Họ gọi nó là “Hiến chương 08,” nhằm ca ngợi “Hiến chương 77” của Václav Havel và Tiệp Khắc. Ban đầu Lưu Hiểu Ba không tham gia, nhưng đến mùa thu, khi bản dự thảo đang được tiến hành và động lực đang lên, ông đã góp sức mình vào dự án. Ông biên tập bản thảo và cố gắng loại bỏ những từ ngữ khiêu khích không cần thiết mà có thể khiến người ta từ chối ký. Sau đó ông đã nỗ lực xin chữ ký—không chỉ từ các nhà bất đồng có tiếng mà từ cả giới công nhân, nông dân, quan chức nhà nước, và những người khác sẵn sàng tập hợp dưới một mái nhà chung để đòi hỏi một xã hội cởi mở và tự do hơn. Bản Hiến chương dùng ngôn ngữ ôn hòa. Phần lớn nó đã xuất hiện trong các văn kiện của Trung Quốc và Liên Hợp Quốc. Nhưng một số dòng, như “chúng ta phải bãi bỏ đặc quyền độc quyền hóa quyền lực của một đảng,” rõ ràng đã vượt quá những gì mà các nhà cai trị Trung Quốc có thể tiêu hóa.
Rõ ràng công sức của ông Lưu trong bản Hiến chương 08 đã dẫn đến bản án 11 năm tù của ông vào năm sau, và giải Nobel Hòa bình vào năm sau nữa. Trong buổi tiệc Nobel tháng 12 năm 2010, một thành viên của ủy ban Nobel nói với tôi rằng ủy ban của bà nhiều năm nay đã muốn tìm một người Trung Quốc nhận giải và những sự kiện trong năm ngoái “cuối cùng đã khiến đây trở thành thời điểm thích hợp.” Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Bộ Chính trị của ông rất có thể sẽ phải khó chịu khi nhận ra giam ông Lưu là giúp mở đường cho giải thưởng này.
Có vẻ khó hiểu khi một người chủ trương “không có kẻ thù” đã thực sự bỏ công làm mềm ngôn ngữ trong bản Hiến chương lại bị chọn ra để chịu hình phạt trong cuộc đàn áp của chính phủ. Một số đồng nghiệp của ông Lưu đã bị câu lưu và thẩm vấn, và bị tịch thu máy tính, nhưng chỉ có ông Lưu bị đưa vào tù. Dù “giết gà dọa khỉ” là phương thức thường thấy trong kỹ thuật chính trị của Trung Quốc cộng sản, vẫn còn câu hỏi là vì sao họ lại chọn một con gà yêu hòa bình.
Câu trả lời có lẽ là phong trào Hiến chương bị xem là một “tổ chức” trái phép mà ông Lưu là người lãnh đạo. Những người cai trị Trung Quốc trong thời gian gần đây đã cho thấy họ có thể dung thứ những chỉ trích bằng lời nói từ quần chúng miễn là nó đến từ những cá nhân bị cô lập. Một tổ chức trái phép, dù ôn hòa đi chăng nữa, thì phải bị nghiền nát. Năm 2005 Hồ Cẩm Đào ban hành một báo cáo mật tên là “Chiến đấu một cuộc chiến không khói: Giữ các cuộc ‘cách mạng màu’ nằm ngoài Trung Quốc.” Bản báo cáo nói những người như Nelson Mandela, Lech Wałęsa, và Aung San Suu Kyi là những người nguy hiểm. Nếu các phong trào tương tự xuất hiện ở Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào chỉ đạo, thì bắt “cá lớn” mà tha “cá bé.” Năm 2008, khi cảnh sát Trung Quốc biết người ta đang ký bản Hiến chương 08, nó chính thức bị xem là một nỗ lực nhằm kích động một cuộc “cách mạng màu.” Điều đó biến Lưu Hiểu Ba thành con “cá lớn” cần phải loại trừ. Có những dấu hiệu cho thấy ông Lưu hiểu rõ cơ chế này. Khi tham gia vào nỗ lực Hiến chương ông đã nói với các bạn mình rằng, ngoài biên tập và thu thập chữ ký, ông sẽ “chịu trách nhiệm” cho bản Hiến chương—về cơ bản là chấp nhận nguy cơ là con “cá lớn.”
Vì sao Hồ Cẩm Đào và người của ông lại quyết định đưa ra một bản án 11 năm—mà không phải là 10, 12, hay một con số khác—là một bí ẩn lúc đó và đến nay vẫn vậy. Trong nhiều phỏng đoán được đưa ra thì có một phỏng đoán là 11 năm tương đương với 4.018 ngày và có 4.024 chữ Hán trong bản Hiến chương 08. Do đó: mỗi chữ ông viết là một ngày tù, ông Lưu, và chúng tôi sẽ bỏ qua sáu chữ cuối cùng. (Đây chỉ là phỏng đoán, nhưng không phải trò đùa. Kiểu suy nghĩ nhỏ nhen và rất cá nhân này vẫn luôn phổ biến trong nền chính trị chóp bu của Trung Quốc.)
Hiến chương 08 và giải Nobel sau đó kết hợp lại dường như trong một thời gian đã mở ra một hướng đi mới cho Trung Quốc. Người Trung Quốc từ lâu đã quen với những thay đổi định kỳ giữa các khuynh hướng “tự do hơn” và “bảo thủ hơn” trong chế độ cộng sản, và thường đặt niềm tin vào quan chức cao cấp này hay quan chức cao cấp khác, nhưng bản Hiến chương 08 dường như đã nói có thể có một con đường khác để làm người Trung Quốc hiện đại.
Một khi người ta đã đọc thì khó mà tìm được người nào không đồng ý với bản Hiến chương, và chính tiềm năng lây lan này là cái làm các nhà lãnh đạo của chế độ lo lắng nhất. Đó là lý do (không phải lý do họ đưa ra nhưng là lý do thực sự) khiến họ bác bỏ bản Hiến chương, cầm tù Lưu Hiểu Ba, và lên án giải Nobel Hòa bình được trao cho ông. Nỗ lực của họ đã có hiệu quả: hầu hết người trẻ Trung Quốc ngày nay đều không biết Lưu Hiểu Ba là ai, còn những người lớn tuổi hơn biết đến ông thì lại hiểu rất rõ cái giá của việc nhắc đến ông trước công chúng.
Các biện pháp kiểm soát xã hội Trung Quốc đã được thắt chặt trong những năm gần đây, dưới sự cai trị của Tập Cận Bình—hướng đi ngược lại với những gì mà Hiến chương 08 kêu gọi. Điều này làm dấy lên câu hỏi, “Có phải bản Hiến chương đã chết? Nỗ lực ấy hóa ra công cốc sao?” Rất khó, nhưng câu trả lời của tôi là không. Tổ chức đã bị nghiền nát nhưng những tư tưởng của nó thì vẫn còn. Những nỗ lực liên tục của chính phủ—tốn công tốn sức, ăn sâu, rộng khắp đất nước, và rất tốn kém—nhằm đàn áp bất cứ thứ gì giống như những tư tưởng của Hiến chương 08 là đủ để thấy những người cai trị nhận thức khá rõ về sức mạnh liên tục của bản Hiến chương.
Nếu được nghe đích thân Lưu Hiểu Ba trả lời câu hỏi này thì thật tuyệt vời. Thế giới đã không được nghe một lời nào từ ông sau “Lời sau cùng” của ông trong phiên tòa năm 2009. Tháng 6 năm nay, ông được đưa đến một khu giam giữ ở bệnh viện Thẩm Dương với căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối trong mình. Ông đã đề nghị cho ông, vợ, và em cậu được sang Đức hoặc Hoa Kỳ để điều trị. Chính phủ Trung Quốc từ chối, nói ông Lưu đã nhận được sự chăm sóc y tế tốt nhất có thể và ông quá yếu để di chuyển. Ông qua đời hôm 13 tháng 7.
Không rõ vì sao, trong những tuần cuối đời, ông Lưu đã đồng ý từ bỏ mong muốn ở lại Trung Quốc mặc dù ông vẫn luôn không ngừng từ chối cuộc đời bên lề mà việc lưu vong tất yếu sẽ mang lại; có lẽ ông muốn dùng sức lực cuối cùng để giúp người vợ phải chịu khổ từ lâu là bà Lưu Hà và em trai bà, ông Lưu Huy, ra khỏi Trung Quốc. Nhưng suy nghĩ của những kẻ bắt giam ông thì không thể rõ ràng hơn: nó chẳng hề liên quan đến việc chăm sóc y tế mà là ngăn Lưu Hiểu Ba nói lên suy nghĩ của mình một lần cuối. Ông suy nghĩ gì trong tám năm tù? Ông đã thấy trước điều gì cho một thế giới mà nền độc tài cộng sản của Trung Quốc vẫn tiếp tục lớn mạnh?
Lưu Hiểu Ba đã được so sánh với Nelson Mandela, Václav Havel, và Aung San Suu Kyi, mỗi người trong số họ đều chấp nhận nhà tù như cái giá để theo đuổi một nền quản trị nhân đạo hơn cho tổ quốc mình. Nhưng Mandela, Havel, và Suu Kyi đều được sống để chứng kiến mình thoát khỏi các chế độ dã man đã đàn áp họ, còn Lưu Hiểu Ba thì không. Có phải điều này có nghĩa là vị thế của ông trong lịch sử sẽ không bằng của họ? Thành công của một phong trào có phải là điều cần thiết để nhà lãnh đạo của nó được xem là anh hùng?
Có lẽ. Nhưng so sánh Lưu Hiểu Ba với Tập Cận Bình có lẽ cũng sẽ hữu ích. Hai người chỉ chênh nhau hai tuổi. Trong Cách mạng Văn hóa của Mao cả hai đều không được đi học và bị đưa đến những vùng xa xôi. Ông Tập dùng thời gian để bắt đầu xây dựng một bản lý lịch sẽ cho phép ông, dựa hơi người cha cộng sản ưu tú của mình, một ngày giành lấy đỉnh cao quyền lực; ông Lưu dùng thời gian để tự đọc sách và học cách tự mình suy nghĩ. Một người thành thạo những mánh khóe và xu nịnh cần thiết để leo cao trong một bộ máy quan liêu khép kín; người còn lại học cách thách thức mọi kiểu nhận thức thông thường, chỉ giữ lại bên mình những tư tưởng có thể vượt qua phép thử của việc suy xét độc lập nghiêm ngặt. Với một người, giá trị được đo bằng quyền lực và vị thế; với người còn lại, bằng giá trị đạo đức. Trong cuộc đối đầu cuối cùng của họ, một người “thắng,” một người “thua.” Nhưng hai trăm năm nữa, ai còn nhớ tên của những kẻ bạo chúa đã giam Mandela, Havel, và Suu Kyi vào tù? Ánh sáng trong trí tuệ sắc bén của Lưu Hiểu Ba sẽ được nhớ đến, hay là sự tầm thường nông cạn trong đầu óc của Tập?.Nguyễn Huy Hoàng & Tram Nguyen biên dịch
Perry Link là giáo sư ngành văn học so sánh tại Đại học California, Riverside, và giáo sư hưu trí ngành nghiên cứu Đông Nam Á tại Đại học Princeton. Cuốn sách gần đây nhất của ông là An Anatomy of Chinese: Rhythm, Metaphor, Politics (Harvard University Press, 2013).
Nguồn: Perry Link, “The Passion of Liu Xiaobo,” The New York Review of Books, July 13, 2017

Hai chữ “bí mật” trên xứ Việt

Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tại một tòa án ở thành phố Nha Trang vào ngày 29 tháng 6 năm 2017.
Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tại một tòa án ở thành phố Nha Trang vào ngày 29 tháng 6 năm 2017.
AFP
















Hiếm có nơi nào mà hai chữ “bí mật” được sử dụng tùy tiện như Việt Nam hiện nay. Đụng thứ gì cũng nghe bí mật!
Tàu ngư dân Việt bị tàu hải giám Trung Quốc đâm chìm, bắt bớ, cướp bóc, thậm chí nổ súng giết người, bí mật!
Người Việt Nam lang thang, chui nhủi ở xứ người làm thuê, bữa no bữa đói, chị giới chủ ép đủ điều vì không được bảo vệ quyền lợi theo hợp tác quốc tế, bí mật!
Rừng Việt Nam bị chặt sạch cây cổ thụ, trở thành đất trống đồi trọc, bí mật!
Biển Việt Nam từng là vùng biển đẹp, hoang sơ và giàu tài nguyên một thuở, nay thành biển độc, bí mật!
Người lao động Việt Nam bị giới chủ nước ngoài đánh đập, ức hiếp ngay trên quê hương, bí mật!
Họp ủy ban thường vụ quốc hội, cho báo chí có mặt vài phút lấy lệ rồi đóng cửa bí mật!
Chuyện tham nhũng, điều tra, bóc mẽ chiếu lệ cho vui rồi lại bí mật!
Thủy thủ đoàn Việt Nam bị phiến quân Abu Sayyaf bắt cóc làm con tin đòi tiền chuộc, bí mật!
Đến khi có hai người bị phiến quân giết dã man, gia đình vật vã, đau khổ, kêu gọi nhà nước và công ty chủ quản mang xác con họ về, vẫn phải bí mật!
Dường như không có thứ gì là không bí mật trên đất nước này, từ cây kim, sợi chỉ cho đến con gà, con cá, con lợn, con bò, tất cả sẽ đi vào vòng bí mật nếu như một ngày đẹp trời nào đó, ông thôn, ông xã, ông huyện, ông tỉnh hay ông trung ương nổi hứng, xếp nó vào diện bí mật.
Càng buồn cười hơn là những thứ mà người dân dù có mắt nhắm mắt mở vẫn thấy nó sờ sờ ra đó, nhưng họ lại phải giữ bí mật về cái điều hết sức công khai, lộ liễu kia, họ bí mật mà không hiểu vì sao mình phải bí mật. Bởi bí mật đôi khi là chiếc bùa hộ mệnh, giúp người ta sống sót và ít bị quấy nhiễu.
Và đặc biệt hơn là hiếm có quốc gia nào có những qui định bí mật vớ vẩn như Việt Nam, ví dụ như chuyện liên quan đến nghĩa tử nghĩa tận, chuyện sinh mạng, chuyện cái chết tromng trại tạm giam, lẽ ra phải được bạch hóa, phải trả công bằng cho nạn nhân thì đảng, nhà nước lại cho vào bí mật, cấm đoán, ngăn cản bằng mọi cách để câu chuyện không được công khai.
Ngay cả cái nhà của Phạm Sĩ Quí, nó cũng được xếp vào vòng bí mật mặc dù nó chẳng có gì là bí mật, thậm chí nó cần phải được công khai, bạch hóa cho người dân biết được tài năng làm kinh tế, nuôi lợn, nuôi gà, đánh bạc của ông giỏi đến mức có thể xây được biệt phủ nghìn tỉ. Nhưng không, đó là bí mật, không tin thì đến nhà của ông Quí, đưa máy lên chụp ảnh thì biết ngay, một bà cắt cỏ cũng có thể cầm kéo đe dọa người chụp hình bởi bà không cho phép người ta chụp hình bãi cỏ, tượng đá hay cây cối. Bởi nó là bí mật.
Vậy những thứ gì không xếp vào vùng bí mật trong truyền thông?
Đó là chuyện cô hoa hậu đi ăn vặt, bị cắn lưỡi chảy máu, câu chuyện được giật tít lớn ở một tờ báo lớn và thu hút một lượng lớn bạn đọc.
Đó là chuyện anh chàng ca sĩ hát nhép, hát chữa cháy đùng một cái thành ngôi sao ca nhạc và tuôn ra những lời phát biểu bổ bả chẳng ra làm sao cả nhưng được giật tít ngay điểm nhấn của trang đầu một tờ báo lớn như một sự kiện lớn, một triết gia lớn, một nghệ sĩ lớn đang nhả lời vàng ngọc.
Đó là một cô người mẫu chân dài rủa sả người đối diện vì người đó chê cô ta vú mướp và cô dạy cho người đó một bài học bằng lời rủa sả không thương tiếc. Câu chuyện được khai thác hết cỡ trên các mặt báo.
Đó là mấy câu thơ đọc vừa sai nội dung, vừa sai tác giả của ông Thủ tướng đương nhiệm được lăng xê thành“câu thơ phản ánh ba giai đoạn lịch sử”, mà dù có cố vắt óc nghĩ cũng không ra ba giai đoạn này nằm ở đâu trong câu thơ. Hỏi nhà thơ Đỗ Trung Quân, tác giả chính thức bị tráo tên và đạo thơ về bà giai đoạn đó, không chừng ông tưởng mình đang nói chuyện với đứa khùng. Thử hỏi, những câu “Quê hương mỗi người chỉ một/ Duy chỉ một mẹ thôi” của ông Nguyễn Xuân Phúc đọc từ hai câu gốc là “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi” của nhà thơ Đỗ Trung Quân phản ánh ba giai đoạn lịch sử nào? Vậy mà các nhà báo Việt Nam thường trú tại Đức cố vặn vẹo, nhét vào mồm nó ba giai đoạn lịch sử.
Chung qui, những thứ được công khai tại Việt Nam là những thứ mà người nghèo ngửi không vô, kẻ có tiền, có quyền thì khạc nhổ xong rồi sờ mó lên nó.
Và mọi thứ thuộc về bài học lương tri, bài học làm người đều phải xếp vào góc tối, trong căn phòng bí mật, những thứ trơ trẽn, hớ hên được cổ xúy tối đa để thành đề tài nóng trong xã hội.
Một phiên tòa có ảnh hưởng đến tương lai dân tộc, ảnh hưởng đến chính trường Việt Nam như phiên tòa xử Mẹ Nấm bị bịt kín, bị xếp vào bí mật nhưng một phiên tòa xử về một bản hợp đồng tình dục giữa một tay trọc phú với một cô chân dài lại được báo chí trong nước quan tâm hết mức, số lượng bài đi trên các trang báo lên đến hàng trăm, thậm chí có thể hàng ngàn nếu xét thêm các status của các dư luận viên và những người rỗi hơi, hóng chuyện.
Tại sao lại có chuyện kỳ cục và thối nát như vậy?
Thực sự, điều này cho thấy rằng đảng Cộng sản mặc dù độc tài, mặc dù nắm hết toàn bộ mọi thứ từ quyền lực đến tài nguyên. Nhưng có một thứ họ không thể nắm được, và cho đến bây giờ thì họ không thể có được, nếu không muốn nói là họ sẽ vĩnh viễn không chạm tới được, đó là Lòng Dân.
Và trong một xã hội mà mọi chuyện dấy động lòng dân, gây bi thương và phẫn uất trong nhân dân lại có nguyên nhân, gốc gác từ sự lãnh đạo chểnh mãn, từ sự kém cỏi và thiếu lương tâm của nhà cầm quyền thì chắc chắn nó khó có cơ hội được công khai.
Ngược lại, một xã hội độc tài bao giờ cũng muốn dân chúng trở thành một bầy cừu biết vâng lời, răm rắp nghe theo sự chỉ dẫn của chủ và luôn sợ những con chó săn trong bụi rậm, chúng phải luôn câm mồm để gặm cỏ và chẳng bao giờ dám mở miệng vì sợ chó săn nghe tiếng. Có cách gì làm cho xã hội nhanh chóng bị ngu đần nhanh hơn là hằng ngày, hằng giờ cho người ta tiếp thu và hấp thụ những thứ vô bổ nhưng lại có khả năng kích động bản năng?
Như lời của một ông trưởng xóm ở miền Bắc từng nói với ông chủ tịch xã để xin kinh phí cúng xóm: “Xin cấp trên hãy cho tôi kinh phí để thuê giàn loa, giàn nhạc thật oách. Tiền mua rượu bia thì xóm đã chung mua đủ. Muốn xóm làng bình yên, đừng thằng nào quan tâm đến chính trị hay nêu nó ra thì tốt nhất là sau khi cúng, chó chúng ăn uống thật nhiều và ăn uống no say rồi thì cho chúng tranh nhau hát, chỉ có vậy mới yên!”.
Cái câu nghe tưởng chừng là ngu ngốc của ông trưởng xóm kia lại rất minh triết trong chiến lược ngu dân của nhà độc tài. Và có lẽ do vậy mà xứ Việt cứ đụng thứ gì cũng bí mật, trừ những thứ rác rưởi, hôi hám ngửi không vào thì được công khai!Viết từ Sài Gòn/đài Á Châu Tự Do

"Diệt chuột đừng để vỡ bình", nên hiểu thế nào?


PHÁP QUYỀN VÀ CHỐNG THAM NHŨNG
Câu hỏi có thể được đặt ra là tại sao (chúng ta) KHÔNG THỂ áp dụng được các cách thức kiểm soát, các nguyên tắc pháp quyền (Rule of Law) song song với việc áp dụng các cách thức của thị trường để vừa phát triển kinh tế, vừa có thể chống lại tham nhũng?
Vấn đề ở chỗ, hai nước Trung Quốc, Việt Nam áp dụng kinh tế thị trường nhưng vẫn kiên định theo chủ nghĩa Mác Lê nên về thể chế không đa nguyên, do một đảng lãnh đạo, phù hợp với cách thức chuyên chính. Việc việc áp dụng các nguyên tắc pháp quyền thì lại đi cùng với các thể chế dân chủ. Vì vậy khi chỉ một đảng lãnh đạo tuyệt đối theo hướng chuyên chính thì không thể áp dụng các nguyên tắc này được. Theo căn bản pháp quyền thì luật pháp phải đặt trên hết, hệ thống nhà nước phải thiết chế theo cách kiểm soát và hạn chế quyền lực của nhau. Chính phủ phải do Quốc hội/ dân bầu và chịu sự phán quyết độc lập của Tòa án. Các nguyên tắc Minh bạch (Transparency), Giải Trình (Accountablity) và Chịu trách nhiệm (Responsibility) được thực thi nghiêm minh để đảm bảo công bằng xã hội. Hệ thống báo chí phải minh bạch tự do và độc lập. Đảm bảo những yếu tố như vậy thì mới ngăn chặn và giảm thiểu được sự hoành hành của tham nhũng và tư lợi…
Có thể nói, Đảng CS TQ và VN muốn chống tham nhũng, nhằm bảo đảm tính chính danh của mình. Nhưng tham nhũng là bất trị vì pháp quyền (mọi người đều phải tuân thủ và bình đẳng trước pháp luật) và các nguyên tắc minh bạch, giải trình và chịu trách nhiệm là không thể áp dụng được. Cụ thể hơn, chính quyền cộng sản Trung Quốc và Việt Nam biết rằng không thể duy trì tính chính danh (legitimacy) của mình chỉ bằng nền kinh tế nghèo đói tập trung bao cấp và một hệ thống công an nhiều tầng mà bản thân hệ thống an ninh này cũng nguồn lực để tồn tại, phát triển, nên họ phải mở cửa đổi mới để kinh tế khá lên như trên đã đề cập. Hệ thống công an, an ninh cũng to lớn lên và được trang bị mạnh mẽ hơn để đề phòng chống đối. Như vậy để đảm bảo tính chính danh, duy trì quyền lực thì đổi mới kinh tế là giải pháp hai trong một: làm sao cho dân khá lên về kinh tế và đồng thời phải có môt hệ thống công an để sẵn sàng trấn áp (vì khá lên về kinh tế người dân sẽ đòi hỏi nhiều quyền hơn cái ăn cái mặc). Các nghiên cứu cho thấy khi các đảng CS cảm thấy hệ thống trấn áp của mình yếu thì họ sẽ mở cửa mạnh mẽ và tư nhân hóa rất nhanh (trường hợp nhiều nước Đông Âu, gọi là biển thủ của công rồi biến nhanh, các nhà kinh tế chính trị gọi hiện tượng này là “biển thủ trong một ngày mưa”, Embezzlement in a rainy day), còn nếu còn tự tin vào sức mạnh của hệ thống này thì họ sẽ mở cửa từ từ, dần dần (trường hợp Việt Nam, Trung Quốc).
Tuy nhiên, với Việt Nam và Trung Quốc như đã nói, tham nhũng phát sinh từ chính sách phát triển kinh tế nhưng không chấp nhận các nguyên tắc kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực (tam quyền) trong hê thống thể chế, không minh bạch và thiếu vắng giải trình, từ đó làm suy yếu nền kinh tế, quyền lực nhà nước lung lay. Nhà nước buộc phải chống tham nhũng. Tiếp tục câu chuyện chống tham nhũng bằng minh họa sau đây:
Có một vụ tham nhũng lớn, giả sử ban đầu nhà nước - một-đảng muốn cho dân chúng thấy rằng mình cũng tôn trọng các nguyên tắc minh bạch, giải trình và cũng muốn để cho tòa án xét xử, và đảng cũng không xen vào. Khi tiến hành điều tra, nhà nước phát hiện ra sự yếu kém của hệ thống, sự tham nhũng nằm ngay trong các quan chức cao cấp và người thân của họ. Lúc này, sự tự do báo chí nếu có (được mệnh danh là quyền lực thứ tư), cũng như các nguyên tắc giải trình và minh bạch nêu trên được thực thi, sẽ làm cho dân chúng oán hận, tính chính danh trở nên mong manh. Nhà nước sẽ ở thế tiến thoái lưỡng nan, chấp nhận phơi bày thì càng gây thêm oán giận của dân và không chắc hậu quả sẽ như thế nào. Vì vậy, không thể tiếp tục phanh phui được nữa nên đành phải giới hạn thậm chí ngăn chặn báo chí (nghĩa là không thể minh bạch), và sẽ không có giải trình của các quan chức liên quan (Nếu đóng cửa giải trình với nhau thì cũng như không vì không ai biết được là có giải trình hay không). Tòa án bị ngăn lại vì lệnh dừng từ trên. Khi dân cảm thấy bức xúc và phản ứng, biểu tình vì không được biết, không được nghe (đòi giải trình) thì hệ thống công an sẵn sàng vào cuộc - không phải để thực thi luật pháp bắt những kẻ tham nhũng, mà để trấn áp việc chống đối nhà nước thậm chí là trấn áp việc chống đối những quan chức tham nhũng vì họ vẫn đang tại chức, để đảm bảo tính chính danh, uy tín.
Song song đó, việc gắn kết ngày càng nhiều những bên liên quan với nhà nước (nhân thân, sân sau của quan chức, anh em, vợ con bà con…) sẽ càng làm khó cho chính đảng. Sự điều động hay dàn xếp hạ cánh nội bộ sau đó hoàn toàn không có tác dụng răn đe chính quan chức tham nhũng và cả các quan chức chuẩn bị tham nhũng, vì “hình phạt” như vậy thực ra không khác lộc vua/đảng ban cho.
Như vậy có thể thấy rằng chống tham nhũng mà không chấp nhận những nguyên tắc của pháp quyền cũng như không có sự độc lập của tòa án và của hệ thống báo chí, thì dù có quyết tâm cũng thất bại. Thất bại ở chỗ muốn đảm bảo tính chính danh bằng công khai- minh bạch, chấp nhận giải trình nhưng nếu công khai minh-bạch và chấp nhận giải trình thì lại làm lung lay chính tính chính danh đó.Lê Vinh Triển

No comments:

Post a Comment