Friday, July 14, 2017

Bài viết hay(5180)

TQ có cả tỷ dân nhưng chỉ có một Lưu Hiểu Ba đáng để cho cả thế giới nghiêng mình kính phục. Sở tui có trên 500 người gốc Hoa mà đa số từ TQ, Đài Loan, VN và Hongkong nhưng không có một ai nhắc đến Lưu Hiểu Ba. Vì sao? Hầu hết rất ích kỷ, không quan tâm đến chính trị mà chỉ biết có tiền. Họ rất sợ nhà cầm quyền TQ. Họ thu vén cho bản thân và gia đình chứ họ không muốn phiền phức. Tui hỏi họ về Lưu Hiểu Ba nhưng không ai biết Lưu Hiểu Ba là ai. Họ chỉ biết có Thành Long, Jet Li, Củng Lợi ... hay Mao, Xi, Deng. Không thể trách họ vì hầu hết người Việt trong sở tui cũng đâu ai biết Mẹ Nấm hay Duy Thức là ai. Vô tư nhất là khi nói đến chuyện Hồ Ngọc Hà, Trấn Thành đi ăn ở Brodard mặc gì kìa; hay Cường dollar cặp với ai?

Cho những người không quen

Tháng 12 năm 2012, tôi nhận được một email rất lạ. Người gửi cũng từ một người không quen, ở mãi tận Nam Phi. Lá thư điện tử đó từ Tổng giám mục Desmond Tutu. Ông là nhà lãnh đạo tôn giáo lừng danh chống lại chủ nghĩa kỳ thị và đấu tranh cho giá trị con người, đã từng nhận giải Nobel Hòa Bình vào năm 1984, giải Gandhi Hòa Bình năm 2007, và nhiều giải thưởng cao quý khác.
Lá thư của ngài Desmond Tutu kể với tôi rằng, ở đâu đó tại nước Trung Quốc cộng sản, có một người bạn của ông tên là Lưu Hiểu Ba đang bị cầm tù và chịu đựng bệnh tật như một cách trả thù của chính quyền. Đơn giản chỉ vì ông Lưu lên tiếng tranh đấu cho tự do và quyền làm người. Ngài Desmond Tutu muốn tôi cùng góp một chữ ký vào thư kêu gọi Nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc hãy trả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba, trong một chiến dịch của thế giới văn minh cùng gõ vào cánh cửa độc tài, mà đứng ở hàng đầu là hơn 130 khôi nguyên của các giải Nobel qua nhiều thời kỳ.
Vào thời điểm khi tôi nhận được lá thư này, giáo sư Lưu Hiểu Ba đã được vinh danh với giải Nobel Hòa Bình vào năm 2010, nhưng Bắc Kinh đã từ chối không cho ông sang Thụy Điển nhận giải, thậm chí đã phản ứng gay gắt, gọi việc xướng danh ông Lưu Hiểu Ba là một sỉ nhục của giải Nobel. Có đến 19 nước trong số 65 quốc gia được Viện Hàn Lâm Thụy Điển mời đến dự lễ trao giải, đã phải lên tiếng sẽ vắng mặt vì bị áp lực của Trung Quốc, trong đó có Cuba, Venezuela, Nga… và dĩ nhiên, có cả Việt Nam.
Ông Lưu Hiểu Ba bị kêu án 11 năm tù giam, với luận điệu “âm mưu lật đổ chính quyền”, loại tội danh mà một số quốc gia độc tài vẫn luôn sử dụng trong niềm hoang mang thầm kín về chuyện “lật” và “đổ” của chế độ mình, bất chấp sức cai trị luôn được ngày đêm củng cố bằng công an, quân đội và các loại luật lệ áp đặt thô bỉ.
Khi đó, ông Lưu vẫn là một người khỏe mạnh.
Trước khi bị giam cầm, ông Lưu Hiểu Ba, trong vai trò là một giáo sư vẫn dùng tiếng nói của mình để thúc giục sự đổi thay và cảnh tỉnh về sự dã man của chế độ trong cơn bấn loạn quyền lực. Những chi tiết ghi lại trong thời điểm 1989 ở Thiên An Môn cho biết, ông Lưu Hiểu Ba đã tìm mọi cách để thương thuyết, giải cứu hàng trăm sinh viên không bị thiệt mạng dưới lưỡi lê và xích xe tăng của quân đội. Giống như nhiều nhà bất đồng chính kiến khác ở Trung Quốc, thông tin và tên của ông Lưu bị kiểm duyệt trên báo chí, trên internet nhằm tẩy não người dân quên lãng ông. Chính vì vậy, giải Nobel Hòa Bình như sự tỉnh thức về lương tâm và nhân cách của một người Trung Quốc đã khiến cả thế giới dõi theo và xao động.
Đây không phải là lần đầu tiên trong đời mình, tôi để xuống một chữ ký vô danh của mình trong một thế giới quá rộng lớn và mỗi ngày hiện thực càng thêm tàn bạo. Đó là lần đầu tiên, tôi ký trong sự bồi hồi về một con người không quen biết, và cầu mong ông được tự do, như chính ông hy vọng trong câu nói quen thuộc “Hy vọng rằng tôi sẽ là nạn nhân cuối cùng trong cách đối xử có chiều dài kỷ lục của chính quyền Trung Quốc luôn xem việc lên tiếng như là tội phạm”.
Và rồi, hôm nay, tôi hay tin ông Lưu Hiểu Ba qua đời ở tuổi 61. Hàng triệu người ở đại lục hay Hồng Kông, Đài Loan chắc sẽ rất buồn. Hàng triệu người khác không cùng màu da tiếng nói với ông Lưu chắc cũng vậy, cũng sẽ thất vọng, trong đó, không thể thiếu những người đã từng góp một chữ ký vào bức thư mà ngài Desmond Tutu khởi xướng.
Tôi bỗng chợt nhớ đến những lá thư ngỏ, những cuộc vận động không ngừng nghỉ trong đất nước mình để đối phó với các sự kiện mỗi ngày. Thật không đếm hết những lần tôi và bạn bè mình đã ký vì Hoàng Sa, Trường Sa hay Formosa… Lúc thì cho một phụ nữ đơn thân bị cầm tù khắc nghiệt, khi thì môi trường bị tàn hại thương tâm, hoặc vì những nạn nhân chết quá bất thường trong đồn công an. Đã từng có lúc, tôi thấy một người bạn tức giận kêu lên, mệt mỏi rằng “liệu các thư này, chữ ký này có lay động được gì, có ích lợi gì không?” .
Cũng như vậy, Bắc Kinh có lay động gì qua những chữ ký của thế giới đòi tự do cho ông Lưu Hiểu Ba, hay chỉ là thoáng cau mày rồi kiên quyết giam cầm ông cho đến chết?
Trong diễn từ của mình được đọc tại lễ trao giải của Viện Hàn Lâm Thụy Điển, ông Lưu Hiểu Ba có viết rằng “Tôi không có kẻ thù, và cũng không có lòng căm thù”. Tuyên bố cuối cùng của ông trước thế giới, xác lập một tư thế chọn lựa minh tuệ, rằng cái ác hay chế độ độc tài không phải là thứ để đối đầu mà là một hiện trạng tăm tối cần được kiến giải, khai mở cho tiến trình đổi thay.
“Tôi không thấy mình có tội gì khi sử dụng quyền tự do phát biểu hiến định, để làm tròn trách vị công dân của mình. Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả”, diễn từ của ông kết thúc như vậy. Thật dễ hiểu. Phần của kẻ ác, của chế độ độc tài sẽ làm hết tất cả những gì thuộc về cực của chúng. Và phần của những con người yêu sự thật, yêu tự do và lẽ phải cũng cần làm hết sức những gì mà mình có thể. Đó là một tiến trình mà lịch sử văn minh nhân loại đã chứng minh rằng Chúa Jesus, Đức Phật, Gandhi hay Martin Luther King… đã đi qua và dựng nên chân lý.
Như tôi đã từng để xuống một chữ ký cho ông Lưu Hiểu Ba, và tôi cũng sẽ không ngần ngại ký một lần nữa, cho ai đó, vì lẽ phải và sự thật, dẫu có lúc tức giận hay thất vọng. Vì chữ ký nhỏ, như một cam kết rằng tôi hay chúng ta chọn đứng về phía loài người yêu sự công chính.
“Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả”, tôi đọc lại một lần nữa lời kết của ông Lưu Hiểu Ba. Tôi nhớ đến nụ cười hiền lành của ông, như nghĩ đến nụ cười của loài người nhẫn nại trong niềm hy vọng bất diệt.Theo RFA Blog

Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển

Trong khi trước đây người ta hô hào về việc xóa bỏ địa chủ phú nông, thì phương Tây xóa bỏ bần nông. Trong khi trước đây người ta tự hào về việc xóa bỏ quý tộc thì phương Tây xóa bỏ lưu manh. Đây chính là hai tư tưởng trị quốc hoàn toàn khác nhau, có thể dùng câu nói nổi tiếng để khái quát: một chế độ tốt có thể làm cho người xấu trở thành người tốt, một chế độ xấu có thể làm cho người tốt biến thành kẻ xấu. Phát động lưu manh để tiêu diệt quý tộc, cũng không thể làm cho lưu manh trở thành cao thượng, chỉ có thể làm cho lưu manh càng trở nên lưu manh hơn. Dụ dỗ, đe dọa nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến cả xã hội thành lưu manh.
Quý tộc, bình dân và lưu manh
Nhân loại là một quần thể to lớn và phức tạp nhất trên thế giới. Nói về tính chất vốn có của tinh thần và ý thức, có thể phân thành 3 thứ bậc khác nhau: quý tộc, bình dân và lưu manh. Ba thứ bậc này được phân theo dạng hình thoi đứng, ở giữa phình to là tầng lớp bình dân, đầu nhỏ ở trên cùng là tầng lớp quý tộc, còn đầu nhỏ dưới cùng là lưu manh. Từ bình dân tới quý tộc thì không có giới hạn rõ rệt, từ bình dân tới lưu manh cũng không có giới hạn rõ rệt, nhưng lưu manh và quý tộc thì có sự khác biệt một trời một vực.
Sở dĩ được gọi là quý tộc không phải vì có nhiều của cải, cũng không phải vì có nhiều quyền lực, mà là vì họ có một tinh thần cao quý, sử sách gọi đây là tinh thần quý tộc. Người thiếu tinh thần quý tộc, thì dù giàu có không ai sánh bằng cũng chỉ là mang bản tính lưu manh mà giàu có; dù có quyền lực to đến mấy, thì cũng chỉ là kẻ độc tài chuyên chế mang bản tính lưu manh.
Sở dĩ gọi là lưu manh không phải là vì không có gì trong tay, mà là ý thức lưu manh ở bên trong nội tâm. Giai cấp vô sản không đồng nghĩa với lưu manh, giai cấp vô sản đa số là người bình dân an phận thủ thường. Trong quần thể lưu manh, có người giàu, có kẻ nghèo; có bình dân, có quyền quý; có người ngốc nghếch, cũng có kẻ thiên tài.
Tinh thần quý tộc đại diện cho đỉnh cao của văn minh nhân loại, ý thức lưu manh đại diện cho sự thấp kém nhất của nhân loại. Dường như tất cả mọi người đều có suy nghĩ hướng tới sự cao thượng, và cũng có những ham muốn dục vọng thấp kém, đây chính là cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính. Nhân tính chiến thắng thú tính, thì con người hướng tới sự cao thượng; thú tính chiến thắng nhân tính, con người sẽ hướng tới sự hèn hạ bỉ ổi. Đối với đa số người bình dân, nhân tính và thú tính vẫn đang giằng co chưa có hồi kết, nên nó làm cho cả một đời vẫn cứ loay hoay quanh cao thượng và thấp kém. Đa số người dân đều là an phận thủ thường nên cả đời sẽ không có gì nổi bật. Bình dân nếu muốn siêu phàm thoát tục, thì phải hướng tới cao thượng để có hy vọng trở thành quý tộc. Còn nếu hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì sẽ trở thành lưu manh. Con người vươn tới sự cao thượng thì rất khó, và để trở thành quý tộc thì lại càng khó hơn; còn hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì rất dễ, trở thành lưu manh thì dễ như trở bàn tay. Cũng chính vì nguyên nhân này mà xã hội nhân loại hiện nay quý tộc thì ít mà lưu manh thì nhiều.
Cao thượng và cao quý không khác nhau về bản chất, nhưng cao thượng và cao quý lại có khoảng cách, đó là mức độ khác nhau, trạng thái khác nhau. Bình dân cũng biết cao thượng, nhưng thường chỉ có thể cao thượng trong thuận cảnh, chứ không thể “cố thủ” cao thượng trong nghịch cảnh. Nếu như trong nghịch cảnh mà có thể giữ được cao thượng, thì đó chính là trạng thái cao quý, cũng tức là đã thành quý tộc.
Nếu cao thượng đã đạt đến trạng thái cao quý, thì tức là “phú quý mà không dâm, dưới áp lực mà không chịu khuất phục”. Đây chính là trạng thái của tinh thần quý tộc. Câu trên có hai tầng ý nghĩa. Tầng thứ nhất là giải thích đối với phú hào quyền quý: Anh giàu có rồi thì không thể dâm đãng, anh có quyền rồi thì anh không thể lấy quyền đấy để bắt người khác khuất phục. Tầng thứ hai là giải thích với tầng lớp bình dân: Anh không giàu có, nhưng anh không thể bị phú quý dụ dỗ mê hoặc để rồi từ bỏ cao thượng; anh không có quyền lực nhưng anh không thể khuất phục trước quyền lực, anh chỉ có thể tâm phục khẩu phục trước sự công bằng và chân lý. Đạt đến trạng thái này rồi, thì dù có là bình dân nhưng anh vẫn có tinh thần quý tộc.
Tinh thần quý tộc là gì?
Tinh thần quý tộc có 3 nội hàm cao quý đó là: thành tín, đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm.
Thành tín là linh hồn của văn minh nhân loại, không có thành tín, thì không có đạo đức, cũng không có văn minh; thành tín cũng là linh hồn của phẩm cách cá nhân, không có thành tín, thì không thể có phẩm cách cao thượng. Người thiếu sự thành tín, thì hoặc là người vô lại hoặc là kẻ lưu manh. Dân tộc thiếu sự thành tín, thì chắc chắn là dân tộc ngu muội không có văn hóa. Thành tín cũng là gốc rễ của chế độ dân chủ, vì không có thành tín, thì không có dân chủ đúng nghĩa. Cụ thể, dân chủ dựa vào hiến pháp, và hiến pháp chính là khế ước của xã hội. Thành tín chính là gốc rễ của khế ước, không có thành tín thì khế ước cũng chỉ là tờ giấy vứt đi.
Quý tộc sở dĩ là quý tộc, là bởi vì quý tộc coi thành tín quan trọng hơn cả mạng sống, thành tín mang đến sự cao thượng, sự tôn nghiêm và giá trị cao quý của sinh mệnh. Ví dụ, quý tộc châu Âu thà dùng quyết đấu sòng phẳng thẳng thắn để phân thắng thua, chứ không muốn dùng âm mưu quỷ kế để tranh cao thấp. Đây thực chất chính là thà chết để giữ lấy giá trị của thành tín. Sử quan thời Trung Quốc cổ đại thà chết chứ không muốn vì đế vương thay đổi lịch sử, cũng chính là thà chết để giữ lấy giá trị của sự thành tín.
Đạo nghĩa bao hàm nhân đạo và công đạo. Nhân đạo là tiền đề của công đạo, chính là sự tôn trọng đối với sinh mệnh của con người. Người ngay cả ý thức nhân đạo cũng không có, thì về cơ bản không thể có công đạo. Tôn thờ bạo lực chính là coi thường nhân đạo. Nhân đạo và công đạo hòa quyện sinh ra chủ nghĩa nhân quyền của nền văn minh hiện đại, sở dĩ châu Âu có thể sinh ra Công ước Nhân quyền, thực chất chính là do sự thúc đẩy của tinh thần quý tộc.
Tinh thần đạo nghĩa mang tới nhân từ, mang tới khoan dung, mang tới sự quan tâm, mang tới sự công chính. Quý tộc quan tâm tới những người yếu, các sự nghiệp từ thiện trên thế giới dường như đều do quý tộc đầu tư xây dựng, và cái mà họ dựa vào chính là tinh thần đạo nghĩa.
Tinh thần trách nhiệm chính là tinh thần dám gánh vác. Chịu trách nhiệm với lương tri của xã hội nhân loại, chịu trách nhiệm với văn hóa truyền thống của nhân loại, bảo vệ đạo đức, duy trì công bằng xã hội, bảo vệ sự phát triển hòa bình của xã hội.
Chính tinh thần trách nhiệm mang tới lòng tin và sức mạnh không gì lay chuyển được của quý tộc, một khi dân tộc rơi vào khủng hoảng, quý tộc sẽ đứng phía trước dân tộc, bảo vệ an toàn cho dân tộc. Chính tinh thần trách nhiệm này mang đến cho họ tinh thần “Prometheus cướp lửa thần trao cho nhân loại”, và tinh thần “ta không vào địa ngục thì còn ai vào nữa”. Cũng chính tinh thần này đã bảo vệ và thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển hơn.
Ba loại tinh thần này đều đến từ tín ngưỡng tôn giáo, chỉ có tín ngưỡng tôn giáo mới có thể chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần kiên định và bền bỉ, đạt đến trạng thái cao quý.
Dù cá nhân quý tộc có tồn tại khuyết điểm này khuyết điểm nọ, nhưng quần thể quý tộc vẫn là lực lượng chủ đạo thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển.
Tinh thần quý tộc thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển
Trong mỗi cá nhân đều tồn tại cuộc chiến nhân tính và thú tính, và nó làm cho cả một đời cứ loay hoay giữa cao thượng và thấp kém: thượng đế kêu gọi con người hướng đến cao thượng, ma quỷ dụ dỗ con người hướng đến sự thấp kém; người cao quý cao thượng thì gần quý tộc hơn, người hướng tới thấp kém bỉ ổi thì gần với lưu manh hơn; hoặc có thể nói, người gần với quý tộc thì trở nên cao thượng, kẻ gần với lưu manh thì trở nên thấp kém. Tục ngữ gọi hiện tượng này là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Mở rộng ra, một dân tộc cũng tồn tại cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính, điều này thực chất là cuộc chiến giữa văn minh và vô văn hóa, cũng là cuộc chiến giữa quý tộc và lưu manh. Một dân tộc do quý tộc chủ đạo, thì sẽ mang đến sự tiến bộ cho nền văn minh; do lưu manh chủ đạo thì sẽ lùi lại về không có văn minh, đây không phải là sức sản xuất vật chất bị thụt lùi, mà là sự thụt lùi về văn minh tinh thần, về văn hóa, đạo đức. Điều này đã được chứng minh bởi lịch sử.
Lịch sử phát triển của nhân loại là do quý tộc chủ đạo, do đó nhân loại mới từ không văn minh mà hướng đến văn minh, nhưng trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài, có lúc cũng bị lưu manh kiểm soát, lưu manh chiếm cứ địa vị chủ đạo, kết quả làm cho văn minh bị thụt lùi, do đó, tiến trình phát triển của văn minh nhân loại mới xuất hiện nhiều khúc khuỷu, tiến lùi.
Ý thức tinh thần của con người là thể đa diện phức tạp, tức có ý thức giữ gìn cao thượng, thì cũng có ham muốn tình cảm thấp kém. Tuy nhiên, con người hướng tới cao thượng lại giống như leo núi, rất khó; còn hướng tới thấp kém lại rất dễ, giống như đang ngồi cầu trượt. Do đó mà xã hội nhân loại từ trước đến nay lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc.
Xã hội nhân loại trước giờ lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc, vậy sao quý tộc có thể chiếm địa vị chủ đạo trong sự phát triển của xã hội? Điều này quyết định bởi thái độ của tầng lớp bình dân: tầng lớp bình dân ủng hộ quý tộc, thì quý tộc chiếm thượng phong, tức chiếm vị trí chủ đạo, và dân tộc này sẽ duy trì nền văn minh cao thượng; tầng lớp bình dân mà ủng hộ lưu manh, lưu manh chiếm thượng phong, tức lưu manh chiếm vị trí chủ đạo, thì dân tộc này sẽ duy trì sự thấp kém không văn minh. Đây chính là nguyên nhân cơ bản các dân tộc khác nhau có tiến trình văn minh và mức độ văn minh khác nhau.
Dân tộc ủng hộ quý tộc, quý tộc dễ chiếm thượng phong; dân tộc ủng hộ lưu manh, lưu manh dễ chiếm thượng phong. Nếu lưu manh chiếm thế thượng phong, chiếm vị trí chủ đạo, thì tất nhiên sẽ mê hoặc và dụ dỗ nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, ép buộc nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến thành một đại quốc lưu manh, văn hóa đạo đức sẽ bị thoái lui toàn diện, xã hội sẽ đổ vỡ.
Sáng tạo văn minh và sáng tạo lịch sử
Thành tựu văn minh nhân loại dường như đều là quý tộc sáng tạo, từ tư tưởng triết học thời viễn cổ, tín ngưỡng tôn giáo, lòng tin đạo đức, đến văn hóa nghệ thuật thời trung cổ, đến khoa học tự nhiên thời cận đại, cho đến cơ chế dân chủ thời hiện đại, tư tưởng mở ra thời đại mới của lịch sử nhân loại, dường như đều là quý tộc sáng tạo ra. Có thể nói thế này, không có quý tộc, thì không có văn minh nhân loại. Không cần tìm đâu xa, chỉ cần tìm những nhà triết học, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, thần học, khoa học vĩ đại trên thế giới, có ai không phải là quý tộc?
Quý tộc không chỉ sáng tạo văn minh, mà còn sáng tạo ra lịch sử. Những nhà quý tộc thời cận đại của châu Âu, họ đã sáng tạo ra “Quân chủ lập hiến”, sáng tạo “Tuyên ngôn độc lập”, sáng tạo “Tuyên ngôn nhân quyền”, anh hùng dân tộc Ấn Độ Mahatma Gandhi đã sáng tạo ra “Cách mạng phi bạo lực”, Martin Luther King của Mỹ sáng tạo ra “Tôi có một ước mơ”, họ đem những tư tưởng văn minh này vào thực tế, sáng tạo ra lịch sử huy hoàng, trở thành những cột mốc cho nhân loại hướng tới văn minh.
Sáng tạo lịch sử khác sáng tạo văn minh
Từ trước tới nay, lưu manh không biết sáng tạo lịch sử, chỉ biết sáng tạo sự ngang tàn bạo ngược. Tuy vậy lưu manh cũng có thể sáng tạo lịch sử, nhưng lưu manh không thể sáng tạo lịch sử của văn minh, chỉ có thể sáng tạo lịch sử của sự phá hoại, sáng tạo lịch sử tàn sát. Lưu manh từ trước giờ chỉ biết sáng tạo bạo lực, sáng tạo chiến tranh, sáng tạo sự hoang đường, sáng tạo tai nạn.
Nếu một dân tộc mà nhóm người lưu manh giữ vai trò chính trong thời gian dài, thì sẽ trở thành dân tộc “ỷ mạnh hiếp yếu”, trở thành một dân tộc hung bạo, trở thành một dân tộc hủ bại biến chất.
Đạo lý như thế này, lẽ nào còn cần ai chứng minh sao?

Donald Trump và bài thuyết giảng giá trị bảo thủ phương Tây


Tờ Thời báo Phố Wall đánh giá phát biểu của Tổng thống Hoa Kỳ Donlad Trump tại Vác-sa-va, Ba Lan là một bài thuyết giáo về các giá trị và truyền thống phương Tây mà bà Hillary Clinton và bất kỳ chính trị gia Dân chủ nào cũng không bao giờ có thể làm được.

Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu tại Ba Lan vào ngày 6/7/2017
Nếu Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đọc lại lời bài quốc ca Mỹ “Lá cờ sao lấp lánh” trước một trận đấu bóng chày, ông có thể sẽ bị chỉ trích như một kẻ cánh hữu cực đoan. Vì thế mà điều tự nhiên là sau bài phát biểu tuyên dương và bảo vệ các giá trị phương Tây tại Thủ đô Vác-sa-va, Ba Lan, trước khi tham dự Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Đức vào tuần trước, những ý kiến chỉ trích Tổng thồng từ phía bên kia của sân khấu chính trị cũng tuôn xuống như mưa.
Chỉ có một vị tổng thống Mỹ đặc biệt như này mới có thể nói, “Tất cả chúng ta hãy chiến đấu như nhân dân Ba Lan vì gia đình, vì tự do, vì đất nước và vì Thiên Chúa”. Vậy mà, những người cánh tả vẫn tấn công ông Trump, họ cho rằng vị tổng thống của đảng Cộng hòa đang gửi những thông điệp quá cao siêu tới những người dân nông thôn đang ủng hộ ông. Còn những người cánh hữu chống Trump thì lại cho rằng bài phát biểu của vị tỷ phú bất động sản này là giả tạo, chỉ bời vì ông ta là người nói nó. Rõ ràng, chúng ta đang phải sống trong một kỷ nguyên của sự hoài nghi.
Angela Stent, giáo sư tại Đại học Georgetown, đã đưa ra một phân tích chính trị ngắn gọn rằng: “Ông [Trump] ít nhất muốn chứng minh cho hội những người ủng hộ ông thấy rằng ông đang làm đúng như tất cả các nguyên tắc mà mình đã phát biểu trong suốt chiến dịch tranh cử”.
“Hội những người ủng hộ Trump”, cái hội đó vẫn còn tồn tại, đúng không?
Trong suốt chiến dịch tranh cử vừa rồi, thông thường người ta nhìn nhận về bộ sậu ứng viên Donald Trump giống một đoàn xe buýt cũ kỹ của những công dân Mỹ ngoài lề xã hội – những người mà ai đó đã từng gọi là những kẻ hư hỏng (deplorables). Nhưng trong cuộc bầu cử đó, khoảng một nửa cử tri Mỹ đã bỏ phiếu cho người đàn ông ấy. Và tại Vác-sa-va, ông ta đã trình bày một bài phát biểu mà đối thủ của ông, bà Hillary Clinton hoặc bất kỳ một đảng viên Dân chủ nào hiện tại sẽ chẳng bao giờ làm như thế.
Nói một cách dễ hiểu: Một phía của cuộc tranh luận [phía Đảng Dân chủ] sẽ không bao giờ được bắt gặp trong các hoạt động xã giao trịnh trọng mà họ sẽ sử dụng cụm từ của sự đàn áp – “phương Tây”.Để nhận định rõ nét một cách thú vị về sự ghê tởm của cánh tả đối với bài phát biểu của ông Trump, tôi đề xuất các bạn nên đọc bài luận của Robert Merry đăng trên tờ American Conservative có tựa đề: “Bài phát biểu của Trump tại Vác-sa-va đã thách thức tranh luận về nền văn minh phương Tây”. Như tác giả Merry nhận định, đây là một cuộc tranh luận lớn đáng giá, và là một điều mà “hội fan Trump” hiểu được một cách bản năng vào năm 2016.

Trên thực tế, nội dung bài diễn văn ở Vác-sa-va về Văn minh phương Tây thực sự nói về phiên bản tư tưởng hiện tại của đảng Dân chủ và người lãnh đạo chính phủ Mỹ hai nhiệm kỳ qua, ông Barack Obama. Ông Trump có vẻ đã kịp thời ức chế được sự thôi thúc gọi tên người đối lập, do đó hãy cho phép tôi làm điều này.
Những người ủng hộ ông Trump đã biết rằng cuộc bầu cử tổng thống 2016, một cuộc chiến giữa người kế nhiệm của ông Obama và bất cứ ai chống lại bà ta. Đó không chỉ đơn thuần là một cuộc bầu cử nữa. Đó là một  sự kiện quan trọng, quyết định liệu nước Mỹ sẽ đi theo truyền thống phương Tây như nó đã phát triển xuyên suốt lịch sử hay tiếp tục trôi dạt xa khỏi những tư tưởng truyền thống đó.
Những người cấp tiến giành thời gian chế giễu bài phát biểu của ông Trump, coi ông như là một con ngựa hoang với đường lối cánh hữu cực đoan mơ hồ và nhược tiểu. Bởi vì nội dung của bài phát biểu đó đi trệch hoàn toàn khỏi các giá trị chính trị của họ trong suốt 8 năm Obama cầm quyền.
Nếu có một ý thức chỉ huy phương Tây được hình thành qua nhiều thế kỷ ở Châu Âu, bao gồm phương án chiến tranh, đó là cá nhân xứng đáng nhận được sự bảo vệ chính thức trước sức nặng của quyền lực chính trị độc đoán, cho dù quyền lực đó là của vua, giáo sĩ hay nhà độc tài.
Bernard Bailyn, nhà sử học vĩ đại về chính trị Hoa Kỳ thời trước cách mạng thuộc địa, chỉ ra rằng thông qua việc đọc kỹ càng về những bản lưu lại lời tuyên truyền của quân thuộc địa mới thấy được những người Mỹ thời kỳ đầu đó đã rất ghét quyền lực tập trung và xa cách người dân.Những Nhà lập quốc đã bị ám ảnh với suy nghĩ này và như chúng ta đã thấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, ông Jefferson đã chỉ rõ những hành vi sai trái của Vua George, người lãnh đạo của vương Quốc Anh. Jefferson và những Nhà lập quốc đã tạo lập một chính phủ rõ ràng để bảo vệ các thực thể nhỏ hơn như cá nhân và chính quyền địa phương, tránh bị nuốt chửng và áp đảo bởi quyền lực quá mạnh của chính phủ liên bang.
Những người Mỹ cánh tả chưa bao giờ hoàn toàn thoải mái với hệ thống chính trị phân tán và “khó khăn” của Hoa Kỳ. Một khi phe cánh tả xác định được một lợi ích chính trị phổ quát, họ thiếu kiên nhẫn để áp dụng điều đó vào thực tế. Một trong những tư tưởng Mỹ đầu tiên bị phía tả phản đối là chủ nghĩa liên bang: Họ tin rằng các tiểu bang không thể được tin cậy để làm điều đúng đắn.
Điều đó đã xảy ra vào những năm 1950 và 60, khi chính quyền tìm các biện pháp khắc phục nạn phân biệt chủng tộc. Với 8 năm cầm quyền của Obama, xu hướng người dân ghẻ lạnh chủ nghĩa liên bang càng tăng lên. Quyền lực gần như tập trung hoàn toàn vào chính quyền liên bang (Nhà Trắng), trong khi các tiểu bang không có tiếng nói đáng kể ở các vấn đề quan trọng. Cơ quan Bảo vệ Môi trường của Obama đã áp đặt các quy tắc kiểm soát nhân danh các tuyên bố về khí hậu phổ quát. Bộ Tư pháp do  Eric Holder đứng đầu đưa ra các vụ kiện cáo buộc sự phân biệt về chủng tộc chống lại cảnh sát, các thị trấn và hệ thống trường học địa phương. Bộ lao động Obama cũng đã làm như vậy để ép buộc người sử dụng lao động tư nhân; Bộ trưởng Lao động thời đó là Tom Perez, hiện đang lãnh đạo Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ.
Truyền thống phương Tây về bảo vệ quyền cá nhân đã được thể hiện rõ ràng hơn bao giờ hết ở quy định về tiến trình tố tụng và giả định vô tội (cho đến khi bị chứng minh ngược lại), trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền. Việc tin vào giá trị truyền thống phương Tây này đã ngăn trở các cáo buộc lạm dụng tình dục ở trường học, vậy nên Bộ giáo dục Obama đã ban hành bản “hướng dẫn”, theo đó đảo ngược lại tiến trình tố tụng và hợp pháp hóa giả định có tội.
Rốt cuộc, hội “fan” Trump bằng trực giác biết được rằng một sự tái cấu trúc lâu dài các truyền thống chính trị của của họ đã xảy ra ở xã hội Mỹ.Sự thay thế tư tưởng cấp tiến cho kinh nghiệm truyền thống phương Tây mở rộng đến khía cạnh văn hóa, đặc biệt là tôn giáo. Khi Donald Trump, trước tất cả mọi người, kể lại rằng những người Ba Lan ở quảng trường Chiến thắng đã hô vang “Chúng tôi muốn Thiên Chúa” vào năm 1979, những lời lẽ ấy đinh tai nhức óc như tiếng móng tay cào lên bảng đen đối với những người cấp tiến hậu hiện đại.
Một cách để hiểu chính trị Mỹ ngày nay là hãy so sánh sự chia rẽ của xã hội Mỹ với nước Mỹ thời kỳ trước cuộc Cách mạng thuộc địa, khi đó phe kích động cho cuộc nổi dậy của 13 bang thuộc địa là Vua George và Quốc hội của ông ta ở London.
Trong thời đại của chúng ta ngày nay, cuộc đấu tranh là sự phản kháng chống lại sự tăng cường sức mạnh quyền lực trung ương đối với quyền tự do của các thực thể nhỏ hơn trong xã hội Mỹ như các tiểu bang, gia đình và mỗi cá nhân. Những người Dân chủ cấp tiến đang đóng vai Vua George mới, họ muốn mở rộng quyền cai trị 50 tiểu bang hậu thuộc địa từ Washington xa xôi. Và hội “fan” của Trump là những người nổi dậy phản đối điều đó.
Tác giả: Daniel Henninger
Đăng lần đầu trên tạp chí Thời báo Phố Wall
Xuân Thành (dịch)

No comments:

Post a Comment