Saturday, July 15, 2017

Bài viết hay(5181)

Ai cũng cần tiền. Có tiền là có tất cả. TQ hiểu rõ điều đó nên từ khi có tiền, TQ đã học từ Do Thái cách xài tiền như thế nào ở Mỹ cho hiệu quả. Đừng quên TQ đã có một quá khứ không thua kém Do Thái và dân TQ có mặt ở Mỹ rất sớm. Bởi vậy khi tui bước vô UCI, tui sửng sốt khi thấy đại học này bây giờ đúng là university of chinese immigrants; y hệt như USC vậy thôi. TQ giàu mạnh hơn khi họ đã nắm quy luật chơi của tài phiệt quốc tế, đã có một tầng lớp trung và thượng lưu đủ sức khuynh loát nước Mỹ. Cỡ Trump, TQ dư sức xỏ mũi dẫn đi. Cứ chờ coi "họa da vàng" khi TQ tràn ngập Hoa Kỳ với vũ khí là dollar Mỹ và đội quân đáng sợ là người Mỹ gốc Hoa. Chính những người đẹp gốc Hoa sẽ đi tiên phong trên mặt trận này.

Quyền lực của kẻ bị trị

Thật ngạc nhiên, bản PDF từ một cuốn sách cũ của học giả Trần Trọng Kim đột nhiên trở thành thứ được săn tìm trong suốt nhiều ngày ở Việt Nam, kể từ khi có lệnh “ở trên” là phải thu hồi bản in lại của nhà sách Phương Nam từ ngày 26/6/2017. Dù đó là một phiên bản bị kiểm duyệt và cắt xén một cách tồi tệ.
Những câu chuyện bị xoá đi, những chi tiết quan trọng liên quan đến những nhân vật lịch sử như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp được giấu lại sau lưỡi kéo kiểm duyệt của chính quyền. Nhưng chính điều đó, lại khiến vô số người săn tìm và đọc lại những bản in gốc để ngẫm nghĩ về chuyện tình của ông Hồ Chí Minh với cô Đỗ Thị Lạc, rồi chuyện những người kháng Pháp đầu tiên từ chối không muốn theo cộng sản đã bị Việt Minh thủ tiêu… Thậm chí đây là cơ hội-đánh động để nhiều người nhìn thấy lại một chính phủ dân chủ đầu tiên của người Việt với chủ nghĩa quốc gia, chỉ trong 4 tháng tồn tại đã tạo ra những tiền đề cho một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và văn minh như thế nào.
Bản văn Một cơn gió bụi của ông Trần Trọng Kim cũng nhắc về nguồn gốc của lá cờ vàng ba sọc đỏ - vốn là nguồn cơn của các cuộc tranh cãi giữa phe cộng sản cực đoan với phe chống cộng – đó là lá cờ có từ thời khởi nghĩa đòi độc lập của bà Triệu Thị Trinh. “Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc sử diễn ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng: "Đầu voi phất ngọn cờ vàng". Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc...Chữ ly còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương”. (Sách Một cơn gió bụi).
Quả là thú vị, khi sự ngăn cấm lại tạo cơ hội cho lớp người bị trị có được thứ quyền lực to lớn nhất, quan trọng nhất: tri thức và sự thật.
Cũng tương tự như vậy, khi quyển sách về học giả Petrus Trương Vĩnh Ký bị cấm, người ta cũng tìm đọc những bản hiếm hoi, photo chuyền ra ngoài. Thậm chí những dữ liệu khác về Petrus Ký cũng được dò tìm nhiều hơn trên Google. Thế hệ mới lại có dịp học-biết về một trí thức bậc nhất của người Việt bị nhấn chìm vào quên lãng trong một xã hội mà mọi góc nhìn đều phải soi qua lỗ kim tư tưởng cách mạng-cộng sản. Loại lỗ kim mà những bản văn đầy máu và nước mắt ghi chép về Gạc Ma và cuộc xâm lược của Quốc dứt khoát không được phép ấn hành, nhưng sách ca ngợi hết lời Đặng Tiểu Bình, kẻ chủ trương xua quân đánh và dạy “một bài học” cho Việt Nam vào 1979, thì được phát hành bản đẹp và trưng bày trang trọng ở nhiều nhà sách.
Thời đại đang thay đổi. Hôm nay nếu bạo chúa Tần Thủy Hoàng có sống lại và đốt, chôn mọi thứ văn hóa tự do và sự thật của người Việt Nam thì cũng vô ích. Internet đang cứu rỗi mọi thứ. Trong khi kẻ thống trị tìm mọi cách để xây dựng một hệ thống công an hùng hậu, dùi cui, súng đạn, án tù… thì nhân loại đã trao cho nhau món quà vĩ đại, đó là khả năng lưu giữ vô tận quyền được biết về sự thật. Khi mọi rào cản được dựng nên, con người lại càng khao khát hơn nữa sự thật và tri thức về tự do của mình, của thế hệ mình.
Ngăn cấm giờ đây thật dễ bộc lộ gương mặt trơ trẽn của kẻ thống trị, và nhanh chóng tạo quyền lực nhận thức cho kẻ bị trị.
Nếu không có những cấm đoán, những cuộc săn lùng và hủy diệt, chưa chắc nhạc vàng đã có được một giai đoạn được hàng triệu người dân miền Nam gìn giữ một cách lặng lẽ trong trí nhớ và tiếng hát, dẫu phải thì thầm, để rồi có hôm nay, khi nhạc vàng trở thành đặc trưng và một phần sức sống không thể chối bỏ trên mọi nẻo đường miền Nam.
Nếu không có sự kiện thu hồi giải thưởng và bức tranh Biển Chết của họa sĩ Nguyễn Nhân vào ngày 1/6/2017 (ngày  Ban thường vụ Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Trà Vinh ra văn bản), chắc không phải ai cũng có dịp hiểu về sự thối nát và thô bỉ của các hiệp hội nô tài được nhà nước cho bú mớm. Sự thối nát nhắc lại nhiều thứ, thậm chí có thể vẽ lại từ đầu bức tranh tăm tối về nhiều thế hệ trí thức Việt Nam bị bóp nghẹt tự do và nhân cách từ thời Nhân văn Giai phẩm cho đến tận hôm nay.
Và nếu không có sự kiện bức tranh Biển Chết bị “tịch thu làm tang vật”, chắc nhiều người đã quên hơn 200 cây số biển miền Trung hôm nay giờ đã ra sao. Nhiều người chắc cũng không nhớ được bao nhiêu thanh niên miền Trung phải tha hương đi lao động nước ngoài khi biển quê mình đã chết, Formosa được bảo vệ trùng trùng cho tội ác của nó, và những mưu mô đồi bại của chính quyền Nghệ An đang bủa vây các linh mục dám lên tiếng vì quyền con người.
Nhiều năm trước, có lẽ chúng ta đã thở dài trước những hàng rào kiểm duyệt ngăn cản, những mệnh lệnh với âm mưu chặt đứt sinh lộ tinh thần của con người.
Nhưng giờ đây, có lẽ chúng ta cũng nên cám ơn những sự kiểm duyệt tầm thường và tội nghiệp đó. Vì bởi hôm nay, không có gì có thể ngăn cản chúng ta đến với tri thức và sự thật nữa, ngoài sự hèn yếu từ chính bản thân mình.— tuankhanh

Chúng ta bị công lý của chính mình đè bẹp

Tiểu luận sau đây của Lưu Hiểu Ba được in trên tờ Central Daily News ở Đài Loan ngày 5-6-1993, nhân 4 năm Sự kiện Thiên An Môn. Lời phê bình các khuyết điểm của giới trí thức phản kháng Trung Quốc và phong trào sinh viên năm 1989 xuất phát từ trải nghiệm trực tiếp của ông. Khi phong trào nổ ra, ông đã bỏ dở chương trình nghiên cứu và giảng dạy của mình tại một số trường đại học Hoa Kỳ, mua một tấm vé không khứ hồi bay về Bắc Kinh ngày 27-4-1989 để hỗ trợ các sinh viên của mình trên Quảng trường. Tại đây, ông hướng dẫn và tranh luận với các sinh viên về phương pháp và mục đích đấu tranh, tham gia những cuộc đàm phán giữa sinh viên và chính quyền, và tham gia tuyệt thực ở giai đoạn cuối từ ngày 2-6. Ông bị coi là một trong những kẻ “giật dây” của phong trào và bị kết án tù lần thứ nhất, đến đầu năm 1991. Song ngay cả với tiểu sử ấy, các ý kiến phê phán của ông vẫn gây sóng gió trong phong trào dân chủ Trung Quốc, nhất là với những gia đình nạn nhân của vụ thảm sát 4-6.
Giới thiệu tiểu luận này trong bản dịch tiếng Việt, tôi tin rằng nó sẽ là một tham khảo bổ ích cho phong trào dân chủ Việt Nam.

Người dịch

_______________
Giới trí thức phản kháng và các lãnh tụ sinh viên Trung Quốc, những người tự thấy mình là anh hùng và chiến sĩ dân chủ, đều chỉ biết đến dân chủ từ sách vở. Họ không có khái niệm gì về việc thực hành nền dân chủ đó. Họ không hề biết phải xây dựng nền dân chủ như một hệ thống chính trị và một tòa nhà pháp lý như thế nào và phải đưa những nội dung gì vào đó. Trước khi phong trào dân chủ năm 1989 nổ ra, nhà vật lý thiên văn, giáo sư Phương Lệ Chi, được coi là một Sakharov của Trung Quốc, đã bỏ qua cơ hội bảo vệ quyền con người theo đúng luật pháp. Ông được Tổng thống Bush mời gặp nhưng bị chính quyền cản trở. Và ông đã lặng lẽ chấp nhận, không một lời phản đối. Cả đến khi phong trào dân chủ bùng nổ, ông Lưu Tân Nhạn, nhà bất đồng chính kiến được coi là “lương tâm xã hội của Trung Hoa”, vẫn đề cao chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa xã hội. Vẫn giữ nguyên lòng trung thành từng mất rồi lại được khôi phục của mình. Còn phong trào hiện tại thì được lãnh đạo bởi những người thậm chí không hiểu cả những nguyên lý cơ bản của dân chủ. Như thế, làm sao mà thành công được? Tình trạng đó chỉ có thể sinh ra những than vãn hời hợt về hệ tư tưởng.
Khi cảm giác về nghĩa vụ gánh vác một sứ mệnh lịch sử bị đẩy lên thái quá, các sinh viên đã đánh mất khả năng tỉnh táo để tự nhận định và khả năng tự kiềm chế để đạt hiệu quả cao. Họ không biết rằng những đôi vai mảnh khảnh của họ không gánh nổi một định mệnh nặng trĩu như vậy. Họ không cưỡng được sự cám dỗ rằng mình có thể đem lại công lý và tưởng rằng cứ lấy sinh mạng ra trả giá thì chính quyền sẽ buộc phải nhượng bộ hơn – mà không hề nhận ra rằng điều đó rốt cuộc là vô nghĩa. Mạng người có gây nổi một ấn tượng nào với chính quyền không? Có đánh thức nổi đám đông đang ngủ vùi không? Cái chết có đem đổi lấy công lý được không? Chẳng lẽ chỉ những ai sẵn sàng hy sinh tính mạng mới có quyền bàn về công lý chăng? Người ta trách các sinh viên là chỉ đầy lòng dũng cảm và nhiệt huyết mà không đủ lý trí. Không có gì đáng ngạc nhiên, khi cô Sài Linh, lãnh tụ đứng đầu phong trào sinh viên, sau này thoát được ra nước ngoài tị nạn, phát biểu: “Trên Quảng trường Thiên An Môn khi đó, quan trọng nhất là đức hy sinh và lòng dũng cảm chứ không phải đầu óc và lý trí. Chúng tôi là những anh hùng của phong trào dân chủ 1989”.
Từ trên bốn thập kỷ nay Trung Quốc không hề có kinh nghiệm gì với dân chủ. Hàng ngày chúng ta chỉ trải qua và chứng kiến những tranh giành và thủ đoạn tàn bạo của hệ thống chuyên chế. Khi tham gia một cuộc cách mạng, chẳng hạn như Cách mạng Văn hóa, chúng ta lập tức thấy mình là những nhà cách mạng vĩ đại nhất. Khi gia nhập phong trào dân chủ, chúng ta thấy mình dân chủ hơn người. Chúng ta tuyệt thực cho dân chủ. Chúng ta hy sinh cho dân chủ. Vì thế chúng ta đinh ninh rằng mọi hành động của mình đều bắt nguồn từ công lý cao nhất, rằng tiếng nói của mình là chân lý duy nhất, rằng mình sở hữu quyền lực tuyệt đối. Như thế, chân lý trở nên tuyệt đối, công lý trở nên tùy tiện và dẫn đến cưỡng bức, còn dân chủ thì trở thành một đặc quyền. Quảng trường Thiên An Môn đã biến thành một phòng thí nghiệm thử chân lý, thử độ cứng của bản lĩnh và độ sâu của ý thức về phẩm giá. Nó cũng đã biến thành nơi mà người ta vừa dấn thân cho công lý, vừa thực thi quyền lực. Không có mặt ở đó, không đến đó để bày tỏ con người mình, là chống lại dân chủ và chống lại công lý, là hèn nhát. Quảng trường Thiên An Môn đã biến thành hòn đá thử lửa. “Tôi đã có mặt ở đó”, “Tôi cũng từng đến đó”, những câu nói ấy đã được coi là chứng chỉ của ý thức dân chủ và lương tri xã hội.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta không cần hợp tác, chúng ta tùy ý kết bè kéo cánh, chúng ta lập ra các tổ chức, chúng ta cử người lãnh đạo, chúng ta lập các hội công nhân và sinh viên tự quản, chúng ta tuyệt thực, chúng ta tổ chức các nhóm tranh luận, các nhóm trí thức, phóng viên, cảm tử quân, chí nguyện quân và hướng đạo sinh. Không ai chịu nghe ai, chẳng người nào chịu dưới trướng người nào.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta căm thù Đảng Cộng sản tột độ và lên án Đảng bằng những bộ quần áo đẫm máu trên thân thể chúng ta. Chúng ta nghiến răng chửi kẻ khác, chúng ta thỏa sức bôi nhọ, chúng ta cho phép mình nói những điều như: chúng tao sẽ bắn vỡ sọ mày, chúng tao sẽ bỏ mày vào vạc chiên, chúng tao sẽ chôn sống mày. Chúng ta cho phép mình chửi rủa và thậm chí hành hung những kẻ không đi cùng chúng ta. Chúng ta cho phép mình thanh toán ân oán giang hồ cá nhân, nhân danh công lý.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta ngang nhiên truyền bá những điều bịa đặt, chúng ta phao tin vịt giữa thanh thiên bạch nhật. Ai phản bác thì chúng ta khăng khăng rằng mình có quyền làm như thế hoặc tìm cách đánh lận rẻ tiền. Chúng ta cho phép mình phao lên rằng Đặng Tiểu Bình đã chết, Lý Bằng đã bỏ trốn, Dương Thượng Côn đã bị đánh đổ, Triệu Tử Dương đã được khôi phục danh dự, Vạn Lý đã thành lập một nội các mới ở Canada. Quảng trường Thiên An Môn, biểu tượng của phong trào dân chủ, biến thành một lò chế tin đồn, càng ngày càng tung ra nhiều điều dối trá. Một số người tham gia sự kiện ngày 4 tháng Sáu sau này thoát được ra nước ngoài thì đảo lộn tình tiết, thêu dệt tin đồn và dùng miệng mà phun ngập máu ra Quảng trường. Để có lợi cho bản thân, họ cố ý phóng đại tội ác và sự tàn bạo của Đảng Cộng sản. Báo chí quốc tế vì thế mà bị xỏ mũi.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta chỉ cho riêng mình quyền tự do ngôn luận và cấm người khác được hưởng quyền ấy. Chúng ta cũng hành xử hệt như Mao Trạch Đông và không dung thứ một chính kiến nào khác. Hệt như đám tay sai của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chúng ta cũng kiểm duyệt những hình ảnh không hợp ý ta do phóng viên chụp được, chúng ta cũng tịch thu phim và đập nát máy ảnh. Để chính quyền hết cớ đàn áp, chúng ta đã nộp cho công an ba thanh niên Hồ Nam, là những người đã phun màu lên chân dung Mao, để rồi họ bị kết án 15, 18 và 20 năm đọa đày trong ngục tối.
“Công lý của phong trào dân chủ” đã trở thành một hăm dọa, hễ ai có chính kiến khác là bị gây áp lực và đành câm miệng. Cuộc tuyệt thực đã phong các sinh viên lên hàng những vị thánh bất khả xâm phạm của cách mạng. Vì họ sẵn sàng hy sinh mạng sống, nên chẳng ai dám hé răng phê bình họ nữa. Vậy là các “anh hùng” thì tắt công tắc lý trí, những người còn lại thì lặng im.
Những điều vừa trình bày có thể giải thích, vì sao một công lý trên giấy thì được săn lùng cuồng nhiệt, còn công lý tỉnh táo của hiện thực thì bị gạt ra ngoài.Lưu Hiểu Ba
Nguồn: Dịch theo bản tiếng Đức trong Bei Ling, Der Freiheit geopfert, Riva, München 2011
Bản tiếng Việt © 2013 pro&contra
Nguồn bản dịch: http://www.procontra.asia/?p=1512
Phạm Thị Hoài dịch

Điêu toa, dối trá hay gì nữa?

Ngày 2-7-2017, dưới đề mục "Kết hợp kinh tế với quốc phòng - nhiệm vụ chiến lược lâu dài", báo Quân đội nhân dân có bài "Khẳng định vai trò của quân đội ta trên mặt trận sản xuất, xây dựng kinh tế". Nội dung bài viết gồm 4 phần, mỗi phần thể hiện ý kiến của một nhân vật, trong đó phần đầu tiên đề tên người ghi là Hồ Quang Phương, có tiêu đề: "Tiến sĩ Trần Văn, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội: Quân đội luôn "thượng tôn pháp luật" trong sản xuất, xây dựng kinh tế".
Dưới đây liệt kê một số thông tin lấy từ các tờ báo "lề phải" để "minh họa" cho phần ghi của Hồ Quang Phương:
- Ngày 9-9-2015, báo Công lý - cơ quan của Tòa án Nhân dân tối cao - có bài "Người thẩm phán phải trung thực, khách quan, kiên quyết bảo vệ công lý" của PGS - TS, Trung tướng Trần Văn Độ, nguyên Phó chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Chánh án Toà án quân sự trung ương, trong đó nêu "vụ án Thiếu tướng Nguyễn Trường Xuân, chỉ huy trưởng cùng nhiều bị cáo cũng là cán bộ chỉ huy các cấp thuộc Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng lợi dụng chính sách đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã phạm tội đầu cơ, buôn lậu, tham ô, cố ý làm trái… bị Toà án Quân sự cấp cao xét xử ngày 7-9-1987 và xử phạt nghiêm minh; vụ án Đỗ Thanh Xuân, Đại tá, Sư trưởng và các bị cáo khác cũng là chỉ huy Sư đoàn 8 - Quân khu 9 cùng các bị cáo khác ngoài quân đội lợi dụng danh nghĩa quân đội phạm tội buôn lậu, bị Toà án Quân sự - Quân khu 9 xét xử ngày 28-11-1990" là "những vụ án ghi dấu ấn trong lịch sử".

Văn bản sau cho thấy khá rõ "dấu ấn lịch sử" của vụ án thứ nhất:

Phúc đáp giấy chuyển thư số 1324 ngày 20-11-1987 của báo Hà Nội mới yêu cầu trả lời thư của một số cán bộ hưu muốn biết việc xử lý những trường hợp liên quan tới vụ án Nguyễn Trường Xuân. Tòa án Nhân dân tối cao xin trả lời như sau:
Theo bản án hình sự sơ chung thẩm số 01 ngày 7-9-1987 của Tòa án Quân sự cấp cao xét xử Nguyễn Trường Xuân và đồng bọn thì vụ án có 21 bị cáo bị truy tố và xét xử. Ngoài ra có 22 cơ quan, đơn vị và 55 người khác có liên quan tới vụ án. Viện Kiểm sát quân sự không truy tố những trường hợp nêu trên, nhưng giao sang Tòa án để xử lý và bản án đã quyết định như sau:
I- Tịch thu 25 bộ đầu máy vi-đê-ô cát-sét và những vật kèm theo mà Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng đã dùng biếu, tặng, trang bị trong nội bộ, cho mượn, bán chưa thu tiền hoặc mua bằng tiền không chính đáng của các cơ quan, đơn vị sau đây:
1- Nhà văn hóa BCHQS Hải Phòng
2- Trạm dịch vụ xuất khẩu
3- Trường quân sự Hải Phòng
4- Đoàn 174
5- Ban chỉ huy quân sự huyện Đồ Sơn
6- Ban chỉ huy quân sự huyện Kiến An
7- Ban chỉ huy quân sự huyện Vĩnh Bảo
8- Ban chỉ huy quân sự Ngô Quyền
9- Phòng công binh quân khu 3
10- Công ty vật tư thiết bị toàn bộ, Bộ Cơ khí luyện kim
11- UBND huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng
12- Nhà máy pin Văn Điển Hà Nội
13- Bộ tư lệnh Quân khu 1
14- Bộ tư lệnh Quân khu 2
15- Ban chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn
16- Sư đoàn 323 đặc khu Quảng Ninh
17- Cục chính trị Quân khu 3
18- Ban chỉ huy quân sự huyện Hải Ninh, tỉnh Quảng Ninh
19- Bộ đội biên phòng thành phố Hải Phòng
20- Nhà văn hóa Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng
21- Xí nghiệp 71 Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng
22- Viện Lịch sử quân đội
II- Về cá nhân, có 37 người liên quan phải tiếp tục bồi thường dân sự như sau:
1- Lê Đình Hồi: Đại úy, Trưởng ban tăng gia Phòng hậu cần BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 1733 kg thóc
2- Phạm Hữu Khoát: Đại úy, Trưởng ban kiến thiết Phòng kinh tế BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 3120 kg thóc
3- Nguyễn Văn Chu: Đại úy, trợ lý khai thác Trạm dịch vụ xuất khẩu BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 4100 kg thóc
4- Lê Đức Ly: Đại úy, trợ lý Trạm dịch vụ BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 4060 kg thóc
5- Vũ Quang Toàn: Thượng úy, trợ lý tài vụ Trạm dịch vụ BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 4044 kg thóc
6- Trần Lê Liên: Thượng úy, trợ lý tài vụ Trạm dịch vụ xuất khẩu BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 4035 kg thóc
7- Lê Duy Hải, Trung úy, trợ lý tài vụ Phòng kinh tế BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 9577 kg thóc
8- Nguyễn Văn Phong, Trung úy, trợ lý Ban tài vụ BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 1950 kg thóc
9- Trần Thị Kim Oanh, Thiếu úy, nhân viên căng-tin Phòng kinh tế BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 1378 kg thóc
10- Vũ Thị Bích Hiền, Thiếu úy, thủ quỹ Trạm dịch vụ xuất khẩu BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 2470 kg thóc
11- Nguyễn Tri Tuệ, Thượng úy, trợ lý vật tư Đoàn xây dựng cơ bản BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường 113000 đ, đã nộp đủ
12- Đỗ Thị Tẹo, công nhân Ban quản lý nội bộ Phòng tham mưu BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 19760 kg thóc
13- Nguyễn Duy Nam, giáo viên Trường tài chính Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 205 kg thóc
14- Ngô Quang Hậu, Giám đốc Nhà máy xi-măng Hoàng Thạch, phải bồi thường tiền bằng 3120 kg thóc
15- Nguyễn Văn Hạnh, Phó giám đốc Nhà máy xi-măng Hoàng Thạch, phải bồi thường tiền bằng 6293 kg thóc
16- Ngô Thế Minh, Phó giám đốc Nhà máy xi-măng Hoàng Thạch, phải bồi thường tiền bằng 2600 kg thóc
17- Nguyễn Văn Vạn, Phó giám đốc Nhà máy xi-măng Hoàng Thạch, phải bồi thường tiền bằng kg thóc
18- Nguyễn Đình Chiên, Phó giám đốc Nhà máy xi-măng Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 1500 kg thóc
19- Nguyễn Thị Minh, Thiếu úy chuyên nghiệp, kế toán Ban tài vụ BCHQS Hải Phòng, còn phải bồi thường tiền bằng 3688 kg thóc
20- Nguyễn Thị Ngọc, Chuẩn úy chuyên nghiệp, trợ lý tài vụ BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường 13200 đ, bằng 1320 kg thóc
Nguyễn Thị Ngọc nay là trợ lý tài vụ quận Lê Chân, Hải Phòng
21- Phạm Thị Oanh, Thiếu úy, trợ lý Ban tài vụ BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 3774 kg thóc
22- Nguyễn Công Hòa, cán bộ Phòng kế hoạch Công ty xuất nhập khẩu Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 173 kg thóc
23- Trần Văn Giao, chiến sĩ Trạm dịch vụ xuất khẩu Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 1100 kg thóc
24- Phạm Văn Cương, 93 Nguyễn Đức Cảnh, Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 8420 kg thóc
25- Tạ Duy Khanh, Chủ nhiệm HTX 19-5 Lê Lợi, Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 17333 kg thóc
26- Nguyễn Trí Dũng, 45/280 Lê Lợi, Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 17333 kg thóc
27- Lê Văn Ngọc, Trưởng phòng kế hoạch Nhà máy xi-măng Hải Phòng phải bồi thường tiền bằng 173 kg thóc
28- Nguyễn Thị Thìn, cán bộ Phòng kế hoạch Nhà máy xi-măng Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 3650 kg thóc
29- Hà Văn Viên, cán bộ Ban thanh lý cảng thuộc UBND thành phố Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 350 kg thóc
30- Nguyễn Đình Tảo, Giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp lương thực Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 1733 kg thóc
31- Ngô Vũ Vấn, nhà số 8 Hồ Xuân Hương, Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 22533 kg thóc
32- Nguyễn Hữu Thắng, cán bộ Cty vệ sinh đô thị Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 17333 kg thóc
33- Trần Nghiệp, Đại úy trợ lý Đoàn 174 BCHQS Hải Phòng phải bồi thường tiền bằng 2393 kg thóc
34- Nguyễn Văn Hằng, Thiếu tá Phó giám đốc Xí nghiệp 71 BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 567 kg thóc
35- Lê Xuân Năng, Thượng úy trợ lý vật tư Đoàn 174 BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường 110488đ, đã nộp đủ
36- Lê Thị Thu, số 37 ngõ 120 Lê Lợi, Hải Phòng phải bồi thường tiền bằng 860 kg thóc
37- Đỗ Văn Sơn Trung úy trợ lý Ban xuất khẩu BCHQS Hải Phòng, phải bồi thường tiền bằng 3300 kg thóc
Chúng tôi xin thông báo để Ban biên tập có tài liệu trả lời thư bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí.
NGUYỄN TÂM KHIẾT
Tòa án Nhân dân tối cao
- Thượng tuần tháng 4-2005, Tòa án Quân sự - Quân khu 7 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án buôn lậu xăng dầu qua biên giới do Nguyễn Hữu Dũng, nguyên Thiếu tá, Giám đốc Công ty sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu Tây Nam thuộc Phòng Quân báo - Bộ Tham mưu - Quân khu 7 và 14 đồng phạm (đều là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng dưới quyền Dũng) gây ra. Hội đồng xét xử khẳng định đây là vụ án buôn lậu lớn, có tổ chức với nhiều đối tượng tham gia; vì lợi ích cục bộ và lợi ích cá nhân, các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật về việc vận chuyển hàng hóa qua biên giới, thực hiện khống 24 chuyến tàu vận chuyển xăng dầu tạm nhập - tái xuất, gian lận để lại tiêu thụ trong nước 20 triệu 102 nghìn lít xăng có tổng trị giá 46 tỉ 841 triệu 447 nghìn đồng, thu lợi bất chính hàng chục tỉ đồng và đã tuyên phạt 18 năm tù đối với bị cáo Dũng, 12 năm 6 tháng tù đối với 2 bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Huyên, Nguyễn Xuân Khương, 12 năm tù đối với bị cáo Lê Minh Hải, từ 7 năm đến 8 năm 3 tháng tù đối với 11 bị cáo còn lại. Hội đồng xét xử buộc các bị cáo nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, trong đó Dũng, ngoài việc bị phạt 20 triệu đồng còn phải nộp 7 tỉ 304 triệu 704 nghìn đồng. Hội đồng xét xử còn buộc Phòng Quân báo - Bộ Tham mưu - Quân khu 7 nộp lại 10,8 tỉ đồng là số tiền thu lợi bất chính mà Dũng đã nộp về cơ quan này, để sung vào công quỹ Nhà nước, đồng thời kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra làm rõ để xử lí những sai phạm của Đại tá Nguyễn Văn Chiểu, nguyên Phó trưởng phòng Quân báo - Quân khu 7 trong quá trình quản lí Công ty Tây Nam;
- Hạ tuần tháng 9-2004, Tòa án Quân sự - Quân khu 9 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án buôn lậu xăng dầu qua biên giới. Trong số bị cáo, có 3 quân nhân là Nguyễn Văn Dũi, nguyên Thượng tá, đồn trưởng Đồn biên phòng Sông Tiền và 2 thuộc cấp Nguyễn Thanh Thiệp, Dương Quốc Triều. Hội đồng xét xử khẳng định từ năm 1998 đến năm 2002, Dũi đã làm khống 45 bộ hồ sơ xuất nhập cảnh các chuyến tàu chở dầu đi Cambodia để Trần Thế Hùng (Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Thành Phát tại Tiền Giang) giữ lại hơn 27.300 tấn xăng dầu các loại, trị giá 4,67 triệu USD, tương đương 67 tỉ đồng theo tỉ giá tại thời điểm phạm tội; Dũi đã được Hùng chia cho 4,1 tỉ đồng, đã chia lại cho Hiệp 480 triệu đồng, Triều 40 triệu đồng và nhiều quân nhân khác tại Cửa khẩu Sông Tiền từ 10 đến 25 triệu đồng. Hội đồng xét xử tuyên phạt Dũi 12 năm tù, Hiệp 8 năm tù, Triều 4 năm tù, buộc 3 bị cáo này nộp lại 4,1 tỉ đồng thu lợi bất chính;
- Hạ tuần tháng 12-2016, Tòa án Quân sự - Quân khu 5 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với các bị cáo Trần Văn Khanh, nguyên Đại tá, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Bình Dương thuộc Binh đoàn 15 và Dương Công Tư, nguyên Thượng úy, trợ lí Phòng kế hoạch - kinh doanh của Công ty này về tội hủy hoại rừng. Hội đồng xét xử kết luận từ năm 2010 đến năm 2012, Khanh và Tư đã chỉ đạo các chủ thầu tiến hành san ủi, khai hoang ra ngoài diện tích rừng được UBND tỉnh Gia Lai cấp phép tổng cộng 589,799 ha, gồm 579,829 ha rừng sản xuất và 9,97 ha rừng phòng hộ, gây thiệt hại hơn 18,6 tỉ đồng và đã tuyên phạt Khanh 6 năm tù, Tư 3 năm tù…
Ngoài các vụ án đã được Tòa án quân sự đưa ra xét xử, báo chí "lề phải" còn phanh phui nhiều dấu hiệu vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp quân đội. Ví dụ:
- Cuối tháng 10-2010, báo Cựu chiến binh có loạt bài tố cáo 2 dự án chung cư Nhân Chính và tòa nhà hỗn hợp Thành An Tower ở 21 - phố Lê Văn Lương - Hà Nội của Tổng công ty Thành An có dấu hiệu khuất tất trong đầu tư, kèm theo đó là nhiều sai phạm về quản lí tài chính, quản lí đầu tư, công tác cán bộ... khiến hợp đồng có thể coi là vô hiệu, cần phải huỷ bỏ để bảo vệ tài sản Nhà nước. Ngoài việc lấy ý kiến của Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, người từng kí văn bản liên quan thời kì "tiền dự án" và của GS-TS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường, báo Cựu chiến binh còn đăng nguyên văn đơn của Đại tá Hà Huy Lộc, nguyên Chủ nhiệm chính trị Công ty 665 thuộc Tổng công ty Thành An, phản ánh cụ thể về những sai phạm tại đơn vị này, tập trung vào Thiếu tướng, Tổng giám đốc Bùi Quang Vinh và hàng loạt cán bộ chủ trì, chủ chốt khác như Bí thư Đảng ủy Trần Văn Chương, Phó tổng giám đốc Lê Văn Xuyền, Trưởng phòng Kế hoạch Nguyễn Văn Giang, Trưởng phòng Kinh doanh bất động sản Trần Đăng Lâm, Kế toán trưởng Trần Xuân Cư…
- Giữa tháng 4-2015, nhiều tờ báo đưa tin phát hiện "tổng kho hàng lậu" tiếp giáp sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy không nói rõ "tổng kho hàng lậu" đó là của ai song các báo cho biết Công an TP Hồ Chí Minh đã phối hợp Thanh tra - Bộ Quốc phòng cùng Thanh tra y tế, lực lượng quản lí thị trường, kiểm lâm TP Hồ Chí Minh kiểm tra niêm phong, kiểm kê 132 kho hàng thuê trái phép tại phường 4 - quận Tân Bình, tiếp giáp sân bay Tân Sơn Nhất và phát hiện 1 kho sữa, 5 kho vải nhập lậu liên quan 2 hiềm nghi đang đấu tranh. Các báo còn dẫn lời Thiếu tướng Phan Anh Minh, Phó giám đốc Công an TP Hồ Chí Minh tại Hội nghị tổng kết đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm 3 tháng đầu năm 2015, với sự tham dự của lãnh đạo công an một số tỉnh, thành giáp ranh TP Hồ Chí Minh: "Có thể đánh giá đây là kết quả bước đầu có tính đột phá vào một phần địa bàn quy tụ hoạt động kinh doanh không đăng kí và vi phạm pháp luật, phức tạp nhưng không được quản lí, kéo dài nhiều năm";
- Đầu tháng 4-2016, Đội Quản lí thị trường số 9 thuộc Chi cục Quản lí thị trường tỉnh Hưng Yên khi kiểm tra xe ô-tô mang biển số 29C 391.61 dừng đỗ tại Trạm soát vé số 1 - Quốc lộ 5A, phát hiện nó vận chuyển 8.815 lít chất lỏng nghi là xăng, không có hóa đơn, chứng từ kèm theo. Kết quả điều tra cho thấy đó là xăng máy bay do Cục Xăng dầu - Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng nhập từ nước ngoài, giao Công ty TNHH MTV 165 thuộc Tổng công ty Xăng dầu quân đội quản lí để cấp phát cho các đơn vị phòng không, không quân. Nguyễn Văn Thành, Phó trưởng phòng Kế hoạch vật tư của Công ty TNHH MTV 165 đã lấy ra, đem bán cho Trần Việt Quang, Giám đốc Công ty CP thiết bị xăng dầu Đức Minh có trụ sở ở Hà Nội với giá 80 triệu đồng;
- Cuối tháng 4-2017, một số tờ báo cùng có bài về việc cặp nhà thầu - tư vấn là Tổng công ty Thành An và Công ty TNHH tư vấn Đại học Xây dựng từng bị tố không đủ năng lực tài chính, không đáp ứng được tiêu chuẩn kĩ thuật, ngụy tạo hồ sơ… khi đấu thầu tại dự án Bệnh viện Sản nhi Kiên Giang, nay lại có nhiều dấu hiệu tiêu cực tại dự án Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Các báo không chỉ nêu một cách rõ ràng, cụ thể về các sai phạm của Tổng công ty Thành An ở 2 dự án kể trên, mà còn khẳng định đơn vị này đã mắc không ít sai phạm ở 2 dự án khác là dự án Bệnh viện Nhiệt đới trung ương cơ sở 2 tại xã Kim Chung - huyện Đông Anh - Hà Nội và dự án Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 tại xã Liêm Tuyền - TP Phủ Lý - tỉnh Hà Nam…
Có một điều rất lạ là hầu như không thấy báo Quân đội nhân dân đăng tải các thông tin kiểu như trên.
Mới "tham gia nhiều đoàn công tác của Quốc hội đến kiểm tra, giám sát việc thi công một số dự án lớn do quân đội đảm nhiệm" trên cương vị Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội mà đã khẳng định "chỉ có các đơn vị quân đội đảm nhận thi công mới bảo đảm tiến độ và chất lượng công trình""các dự án này đã thực hiện tốt quy định của pháp luật"… thì e rằng Tiến sĩ Trần Văn đã chủ quan, cảm tính.
Thực tế là thế, Tiến sĩ Trần Văn cũng không hề nói "quân đội luôn thượng tôn pháp luật trong sản xuất, xây dựng kinh tế" hay na ná thế, ấy vậy mà Hồ Quang Phương và báo Quân đội nhân dân giật tít như thế, nên gọi là điêu toa, dối trá hay gọi là gì?Vũ Minh Trí

No comments:

Post a Comment