Monday, July 17, 2017

Bài viết hay(5188)

Bấy lâu nay tui cứ tưởng gái Mỹ, gái Tây, gái Spanish, gái Brazil là dâm nhất nhưng thực tế ở Mỹ cho thấy gái châu Á nhất định không thua ai. Thử ra Bolsa mà xem gái châu Á mặc quần short 5cm, áo see-thru khoe áo lót hay thả rông có thua gì ai? gái châu Á lấy chồng Mỹ trăng, Mỹ đen, Mễ, Ấn tá lả như ai? gái châu Á cũng ngoại tình, ly dị, cặp phi công trẻ đâu có thua gì thiên hạ? gái châu Á cũng coi báo cởi truồng, xem phim sex, xài sex toy lia chia và gái châu Á cũng bắt cá 2, 3 tay, cũng lấy tiền đại gia nuôi kép nhí y như Từ Hy thái hậu vậy.

Bài phát biểu về tự do gây sốt cộng đồng mạng tiếng Trung

Ngày 1/7, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc Trương Duy Nghênh đã tham dự lễ tốt nghiệp của Viện nghiên cứu Phát triển Quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh. Trong buổi lễ, ông có bài phát biểu đại diện cho giáo viên với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”, ông nói đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm đến vận mệnh của đất nước.
clip_image002
Nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc Trương Duy Nghênh
Bài phát biểu này được đăng trên Wechat của Viện, tuy nhiên nó đã bị xóa trong chưa đầy 12 giờ sau khi đăng tải. Toàn văn bài phát biểu sau khi được đăng trên trang sohu.com, cũng đã bị gỡ xuống trong 24 giờ.
Những lời nói xúc động của ông Trương Duy Nghênh đã trở thành bài viết được sinh viên trường Đại học Bắc Kinh cũng như cư dân mạng muốn đọc nhất, bên cạnh đó cũng có nhiều tranh luận của cư dân mạng xoay quanh bài phát biểu này.
Viện nghiên cứu Phát triển Trung Quốc thuộc Đại học Bắc Kinh là một một viện học thuật có tính chỉ định, ngoài cựu Phó tổng giám đốc Ngân hàng thế giới Lâm Nghị Phu được nhậm chức Viện trưởng danh dự ra, thành viên hội đồng của viện bao gồm Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Vương Kỳ Sơn, Giám đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên, và giáo sư, Nhà kinh tế học nổi tiếng Chu Kỳ Nhân, Trương Duy Nghênh, v.v.
Dưới đây là nội dung bài phát biểu của ông Trương Duy Nghênh được lưu truyền trên internet.
---------------
Chào các em sinh viên! Đầu tiên xin chúc mừng các em đã tốt nghiệp!
“Người Bắc Đại” là một vầng sáng, kèm theo đó là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ nạn chịu bao chà đạp của chúng ta.
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ xưa trên thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được duy trì cho đến ngày nay. Trung Quốc thời cổ đại có sự phát minh sáng tạo đầy huy hoàng, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng 500 năm qua, về phương diện phát minh sáng tạo thì Trung Quốc không có gì nổi trội để khen. Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ hơn. Theo thống kê của học giả Jack Challoner thuộc Bảo tàng Khoa học Anh, trong khoảng thời gian từ thời kỳ đồ đá (2,5 triệu năm trước) đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi cả thế giới, trong đó, Trung Quốc có 30 phát minh, chiếm 3%.
30 phát minh này đều là xuất hiện từ trước năm 1500, chiếm 18,4% trong 163 phát minh lớn trên toàn thế giới trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng được phát minh năm 1498, đây cũng là phát minh to lớn duy nhất trong triều đại nhà Minh. Từ sau năm 1500, hơn 500 năm toàn thế giới có 838 phát minh, trong số đó không có phát minh nào đến từ Trung Quốc.
Kinh tế tăng trưởng nhờ những sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới không ngừng xuất hiện. Trong xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, làm đồ gốm, thủ công mỹ nghệ. Trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo. Hiện giờ chúng ta có bao nhiêu ngành nghề? Theo sự tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng sản phẩm xuất khẩu, số ngành có mã 2 chữ có 97 ngành, 4 chữ là 1222 ngành, 6 chữ là 5053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Những ngành mới này đều những ngành ra đời từ cách đây 300 năm, mỗi một sản phẩm mới đều có thể tra được nguồn gốc phát triển của nó.
Từ sau năm 1500 tất cả những phát minh lớn đều không đến từ Trung Quốc
Trong số các ngành mới, lấy ngành sản xuất ô tô làm ví dụ. Ngành ô tô được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa những năm 1880, sau đó trải qua hàng loạt cải tiến về công nghệ, chỉ từ năm 1900 đến 1981, đã có hơn 600 mẫu đổi mới quan trọng (theo Albernathy,Clark and kantrow, 1984).
Trung Quốc hiện nay là nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới, nếu như bạn viết một bộ lịch sử về sự tiến bộ của ngành ô tô, trên danh sách sẽ có hàng vạn nhà phát minh có tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Italy, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung Quốc.
Dù là những ngành nghề truyền thống mà Trung Quốc từng dẫn đầu từ trước thế kỷ 17 như luyện kim, làm gốm, dệt may, những phát minh lớn cách đây 300 năm, không có phát minh nào là của người Trung Quốc.
Tôi muốn nhấn mạnh sự khác nhau trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới phân chia thành những khu vực khác nhau, mỗi khu vực về cơ bản đều trong trạng thái đóng cửa, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi, thì sức ảnh hưởng của nó tới nơi khác là rất nhỏ, và cống hiến của nó đối với nhân loại cũng rất hạn chế.
Ví dụ như, năm 105, ông Thái Luân thời Đông Hán đã phát minh ra kỹ thuật sản xuất giấy, nhưng đến năm sau 751, kỹ thuật sản xuất giấy mới được truyền tới nước Hồi giáo, trải qua 300 – 400 năm mới truyền tới Tây Âu.
Nhưng sau năm 1500, toàn cầu đã bắt đầu nhất thể hóa, không những tốc độ phát minh kỹ thuật mới được tăng nhanh, mà sự phổ biến của kỹ thuật cũng gia tăng, một công nghệ mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng được mang tới nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhân loại.
Ví dụ, năm 1886, người Đức phát minh ra ô tô, 15 năm sau, nước Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất ô tô, qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay thế Pháp trở thành cường quốc về sản xuất ô tô. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ biến của ô tô Mỹ lên đến 60%.
Do đó, sau năm 1500, sáng tạo mới đã thực sự có tính so sánh giữa các nước, chất lượng ai tốt ai không tốt chỉ nhìn là biết! Trong 500 năm trở lại đây, Trung Quốc không có một phát minh mới nào đáng ghi trong sử sách, điều đó có nghĩa là chúng ta chưa làm được gì để cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại! So với tổ tiên thì chúng ta kém xa!
Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề về dân số, dân số có nước nhiều nước ít, so sánh đơn giản giữa các nước về phát minh sáng tạo của ai nhiều sẽ không chính xác.
Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung Quốc không thế?
Về lý luận mà nói, trong một điều kiện khác, một nước có dân số đông, thì sự sáng tạo sẽ nhiều, tiến bộ về kỹ thuật sẽ nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo và tỷ lệ dân số là mối quan hệ chỉ số, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ tương ứng. Có 2 nguyên nhân: thứ nhất, tri thức ở phương diện sản xuất có tính kinh tế và hiệu ứng lan tỏa quan trọng; thứ 2, tri thức ở phương diện sử dụng sản phẩm không có tính ngăn cản người khác sử dụng nó.
Những phát minh cống hiến cho nhân loại của người Trung Quốc không tương xứng với tỷ lệ dân số của Trung Quốc. Dân số Trung Quốc gấp 4 lần dân số Mỹ, gấp 10 lần Nhật, gấp 20 lần Anh, gấp 165 lần Thụy Sĩ.
Nhưng thực tế, trong 500 năm, về phương diện phát minh sáng tạo, sự cống hiến của Trung Quốc gần như con số 0, chưa cần so sánh với nước Mỹ, nước Anh, ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ cũng chưa đạt đến. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình LCD, v.v.
Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dùng để in tiền là công nghệ của Thụy Sĩ, bột mỳ Trung Quốc sản xuất có 60%-70% máy móc gia công của công ty Bühler của Thụy Sĩ.
Nguyên nhân do đâu? Lẽ nào là do gen của người Trung Quốc? Hiển nhiên là không phải! Nếu không, chúng ta không có cách nào giải thích được sự huy hoàng của Trung Quốc cổ đại.
Hiển nhiên là do thể chế và chế độ của chúng ta. Sức sáng tạo là dựa vào sự tự do! Sự tự do về tư tưởng và tự do về hành vi. Đặc điểm cơ bản của thể chế của Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, nó đã bóp nghẹt tính sáng tạo, giết chết tinh thần của các nhà khởi nghiệp. Người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất đó là vào thời Xuân Thu và thời Tống, đây không phải là ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là thời đại người Trung Quốc tự do nhất.
Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông thì mờ mịt, sau năm 1500, một số nước phương Tây trải qua cải cách tôn giáo và vận động phổ cập kiến thức mới, họ đã dần dần hướng tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại đi ngược đường với họ.
Thể chế Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, cũng hạn chế luôn cả sức sáng tạo
Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể tách rời, khi tâm hồn không tự do, thì hành động cũng không được tự do; khi không có tự do ngôn luận, thì tư tưởng không thể tự do được. Chỉ có tự do, thì mới có sự sáng tạo.

Lấy một ví dụ để nói rõ về điểm này. Ngày nay, rửa tay trước khi ăn cơm và sau khi đi vệ sinh đã trở thành thói quen. Nhưng năm 1847, khi bác sĩ nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất bác sĩ và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm đến đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc, và chết trong một bệnh viện tâm thần lúc 47 tuổi.
Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự theo dõi về sốt hậu sản, khi đó tại bệnh viện của ông có 2 phòng sinh, một phòng để phục vụ người giàu, do các bác sĩ và y tá giỏi chăm sóc, những bác sĩ này luôn đổi công việc giữa đỡ đẻ và giải phẫu; một phòng khác là để phục vụ người nghèo, do bà mụ đỡ đẻ. Ông phát hiện, tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản nhiều gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do bác sĩ không rửa tay. Nhưng cách nhìn nhận vấn đề của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học thời đó, ông cũng không thể đưa ra những luận chứng khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình.
Thói quen vệ sinh của nhân loại thay đổi thế nào? Việc này có liên quan tới phát minh máy in
Những năm 1440, Johannes Gutenberg đã phát minh ra phương pháp in dấu. Loại máy in sử dụng phương pháp in này đã khiến cho sách vở bắt đầu phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện, thì ra họ bị “viễn thị”, thế là nhu cầu về kính lại tăng cao. 100 năm sau khi máy in được phát minh, châu Âu xuất hiện hàng ngàn nhà sản xuất kính mắt, đồng thời cũng làm dấy lên cuộc cách mạng về công nghệ quang học.
Năm 1590, công ty sản xuất kính mắt Janssen Hà Lan đã lắp vài chiếc kính trong một cái ống tròn, và họ phát hiện những sinh vật quan sát qua những chiếc kính này được phóng to lên, từ đó họ phát minh ra kính hiển vi. Nhà khoa học người Anh Robert Hook đã sử dụng kính hiển vi để phát hiện ra tế bào, từ đó tạo nên cuộc cách mạng khoa học và y học.
Nhưng kính hiển vi thời đầu không cho hiệu suất cao, cho đến những năm 1870, công ty Carl Zeiss của Đức đã sản xuất ra loại kính hiển vi mới, nó được chế tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch đã phát hiện ra vi khuẩn mà mắt người không nhìn thấy, và cũng chứng minh cho quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis, từ đó lý luận về vi sinh vật và vi khuẩn học ra đời. Nhờ sự ra đời về vi khuẩn học này mà con người đã dần dần thay đổi thói quen, và tuổi thọ của con người cũng được kéo dài.
Chúng ta thử nghĩ: nếu lúc đầu máy in bị cấm sử dụng, hoặc là chỉ cho phép in ấn những gì đã được kiểm duyệt, vậy sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh nữa, ngành vi sinh vật học cũng không được ra đời, tuổi thọ dự tính của con người cũng sẽ không tăng từ 30 lên 70, càng không thể nào mơ tới thám hiểm không gian vũ trụ.
Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu “người Bắc Đại”
Newton mất 30 năm để phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn này, nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường của Newton, mọi người có thể cảm thấy buồn cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang cười Newton, vậy thì chỉ có thể nói tôi quá vô tri!
Chúng ta thường nói, Trung Quốc dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% người dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại: Trung Quốc liệu có thể làm được việc đó không? Nói đơn giản, chính là sử dụng lượng lớn phân hóa học. Nếu không sử dụng phân hóa học, e là một nửa người Trung Quốc sẽ chết đói.
Công nghệ sản xuất phân đạm đến từ đâu? Hơn 100 năm trước, nhà khoa học người Đức Fritz Habe và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF đã phát minh ra, chứ không phải Trung Quốc phát minh ra. Năm 1972, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung Quốc và Mỹ đã có thương vụ làm hợp tác đầu tiên, chính là mua 13 giàn thiết bị sản xuất Ure quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó có 8 giàn máy là của công ty Kellogg.
Trải qua 50 năm, 100 năm nữa khi viết lại lịch sử phát minh trên thế giới, liệu Trung Quốc có thể có tên trong đó. Chỉ có tự do, thì mới làm tinh thần và sức sáng tạo của doanh nghiệp của người Trung Quốc mới phát huy hết khả năng, biến Trung Quốc trở thành điển hình về sáng tạo cái mới.
Do đó, đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm tới vận mệnh của đất nước, và là sứ mệnh của người của trường Đại học Bắc Kinh! Không bảo vệ tự do, thì không xứng với xưng hiệu “người Bắc Đại”!
Trí Đạt (biên dịch)
Nguồn: http://trithucvn.net/trung-quoc/bai-phat-bieu-ve-tu-gay-sot-cong-dong-mang-tieng-trung.html?utm_content=buffer96400&utm_medium=social&utm_source=facebook.com&utm_campaign=buffer

Cuộc sống miền Trung có trở lại bình thường như lời Thủ tướng?


clip_image002
Một vùng biển thuộc giáo xứ Thu Chỉ, thuộc giáo phận Vinh. RFA

Sau nhiều phát biểu đưa ra từ những người đứng đầu các cơ quan ban ngành chính phủ về vấn đề an toàn môi trường biển các tỉnh miền Trung, ngày 8 tháng 7 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có văn bản cho biết nước thải và khí thải phát sinh của Formosa đảm bảo đạt quy chuẩn kỹ thuật và cuộc sống người dân các vùng đó đã ổn định.
Thực tế, cuộc sống mưu sinh của hơn 200 ngàn lao động biển ở các vùng bị tác động bởi xả thải của Nhà máy thép Formosa Hà tĩnh gây ra như thế nào?
Vẫn nghi ngờ
Khi trả lời phóng viên trong nước vào thời gian diễn ra phiên chất vấn kỳ họp 3 quốc hội khoá 14, đại biểu Trương Trọng Nghĩa, TP HCM cho biết ông sẽ tập trung vào việc công ty này đã sửa chữa, khắc phục các lỗi vi phạm xong chưa. Bên cạnh đó, vấn đề căn bản nhất và quan trọng hơn, theo ông là môi trường biển đã khôi phục được chưa hay khôi phục được bao nhiêu, sau đó là vấn đề bồi thường cho ngư dân bị ảnh hưởng.
Tin được truyền thông trong nước loan đi ngày 8 tháng 7 cho biết, người đứng đầu chính phủ, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có văn bản hồi đáp dẫn theo báo cáo của Bộ Tài nguyên- Môi trường.
Theo đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết kết quả quan trắc online và giám sát hàng ngày hệ thống xử lý nước thải và khí thải phát sinh của Formosa đảm bảo đạt quy chuẩn kỹ thuật. Đây là kết quả do Hội đồng kỹ thuật và Tổ giám sát của Bộ Tài nguyên-Môi trường đưa ra.
Tuy nhiên, theo Giáo sư Lê Huy Bá, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học - Công nghệ và Quản lý Môi trường, Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho chúng tôi biết cho đến nay, ông chưa nhìn thấy được kết quả báo cáo cụ thể, cũng như kết quả phân tích mới nhất của Bộ Tài nguyên-Môi trường.
“Khi nào mà họ chuyển lên mạng hoặc Bộ Tài nguyên-Môi trường thông báo rõ ràng mẫu lấy ở đâu, số lượng bao nhiêu… thì khi ấy mới nói được là nó thật sự đạt”.
Trước đó, ngày 22 tháng 6, ông Hoàng Văn Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường công bố tại Diễn đàn Nhà báo và Môi trường Biển đảo, rằng nước biển tại bốn tỉnh miền Trung gánh chịu thảm họa Formosa đã an toàn tuyệt đối, có thể tắm biển và nuôi trồng hải sản.
“Khi nào mà họ chuyển lên mạng hoặc Bộ Tài nguyên-Môi trường thông báo rõ ràng mẫu lấy ở đâu, số lượng bao nhiêu…thì khi ấy mới nói được là nó thật sự đạt.”- Giáo sư Lê Huy Bá
Dư luận và cả những nhà khoa học khi ấy bày tỏ nghi ngờ về công bố này. Chính giáo sư Lê Huy Bá, thời điểm đó đã đặt câu hỏi về mẫu kiểm nghiệm, số liệu khoa học chứng minh nước biển an toàn.
Lần này, phản ứng với văn bản của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, một lần nữa ông cho biết không thể không nghi ngờ.
“Thực tế mình cũng không nói được, vì không có nhân chứng nào cả, không có số liệu nào cả. Không thể nói được”.
‘Chúng tôi khổ dữ lắm’
Cũng theo lời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc do báo trong nước trích dẫn, tình hình an ninh trật tự tại 4 tỉnh miền Trung đã ổn định. Hoạt động khai thác, nuôi trồng, kinh doanh thủy sản, sản xuất muối, các hoạt động du lịch đã hoạt động trở lại bình thường. Tại một số thời điểm số lượng khách du lịch đến với 4 tỉnh tăng cao hơn cùng kỳ các năm trước.
clip_image004
Một ngư dân ở giáo xứ Thu Chỉ, thuộc giáo phận Vinh. RFA
Cụ thể báo chí trích dẫn trong văn bản của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết: "Người tiêu dùng đã yên tâm tiêu thụ các sản phẩm hải sản. Hệ sinh thái biển, nguồn lợi thủy sản bị tổn thương đã bước đầu phục hồi".
Tuy nhiên, theo lời một ngư dân ở giáo xứ Cồn Sẻ cho phóng viên đài chúng tôi biết thực tế cuộc sống khó khăn của họ từ khi xảy ra thảm hoạ Formosa cho đến nay, vẫn chưa được cải thiện.
“Trước đây một ngày được 5, 3 trăm, 1 triệu. Rồi hôm nay từ ngày cá nhiễm đến chừ, người dân chúng tôi không biết làm gì mà ăn cả. Nhờ chính quyền xử lý cho người dân chúng tôi. Tôi không biết làm gì mà sống”.
Người dân này cho biết số hải sản đánh bắt không tiêu thụ được, không có người mua. Cho nên họ chỉ bán cho nhà máy, xay làm thức ăn cho các động vật khác.
Một người dân khác ở giáo xứ Đông Yên cho biết đời sống hiện tại của các ngư dân trong vùng là phải khai thác đất cát, thay vì đi biển đánh bắt như lúc trước.
“Đi biển là khai thác bắt cá nhưng khổ nỗi là đi biển về không ăn được cá. Đi về với giá mua bán rất rẻ. Trước đây một ký là 100 ngàn đồng. Giờ đây một ký còn 3, 4 chục ngàn. Chẳng lẽ ngồi nhà không đi biển? Đi biển để kiếm đồng tiền gạo cơm nuôi sống con cái học hành. Chứ lúc này đi biển quá phức tạp. Đi với một cái giá rẻ rúng, mà cá thì lại mỏng manh”.
Cũng từ người dân này, ông cho biết chính sách đền bù của nhà nước đối với những tổn thất của ngư dân phải chịu từ khi xảy ra thảm hoạ Formosa đến nay là không “đáng vào đâu cả”.
“Chẳng hạn như gia đình tôi là cha con đi biển, có khi buổi sáng đi buổi chiều về là được 1 triệu rồi. Nói về đền bù, 6 tháng trời mà có nhà được ba mươi mấy triệu. Như tôi đây là được ba mươi mấy triệu. Cả thuyền của tôi là được 64 triệu. Thế nhưng, trong hai tháng tôi được sáu, bảy chục triệu. Nghề biển của tôi là như thế. Cái nghề của chúng tôi là đi biển là quá lớn chứ không phải đơn giản”.
Ông khẳng định nếu nói đến sự thoả đáng trong đền bù thì “không bao giờ có thoả đáng được, trừ khi làm cho cái nước sạch”.
“Trước đây một ngày được 5, 3 trăm, 1 triệu. Rồi hôm nay từ ngày cá nhiễm đến chừ, người dân chúng tôi không biết làm gì mà ăn cả".
Một ngư dân
Một ngư dân khác ở giáo xứ Thu Chỉ, thuộc giáo phận Vinh cho biết:
“Từ khi xảy ra thảm hoạ môi trường chúng tôi khổ dữ lắm. Không biết chính phủ có nghe thấy lời tôi nói hay không, chứ đến nay vẫn chưa ổn định được đời sống người dân. Nào là thảm hoạ, nào là gây ra tội ác loài người nè, từ khi xảy ra chuyện đến chừ là gần một năm rồi, nhưng thực tế là các ông ấy có can thiệp được cho người dân chúng tôi hay không? Thật rõ ràng là đau đớn lắm. Ngư dân mất việc làm. Chúng tôi thuộc vùng 4 tỉnh miền Trung, người thì được, người thì chưa có, thậm chí phát chưa đủ. Họ nói tìm kiếm công lý cho 4 tỉnh miền Trung, nhưng họ nói công lý mà nói một đằng làm một nẻo làm sao ngư dân chúng tôi kiếm sống được?”.
Nếu đúng với văn bản mới nhất của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa ở Vũng Áng, Hà Tĩnh sẽ tiếp tục hoạt động. Như thế, cuộc sống của người dân bốn tỉnh miền Trung hiện nay và sắp đến như thế nào? Câu trả lời đã được chính họ gửi đến từ những làng chài đang phải neo thuyền, phơi lưới hơn một năm qua.RFA

Tư hữu hóa ở Nga và sự ra đời của một giai cấp đầu sỏ tư bản

Lời nói đầu của người dịch

Đầu năm, một bà thứ trưởng Bộ Công thương bị khiển trách vì đã bổ nhiệm một cán bộ trái với quy định. Trong khi điều tra được tiến hành thì lòi ra chuyện tài sản của gia đình bà khoảng 700 tỷ đồng, một phần ba giá trị của một công ty mà khi xưa bà đã có trách nhiệm trong việc thực hiện cổ phần hoá. Cơ quan kiểm tra chưa đưa ra kết luận, nhưng theo báo chí trong nước kể lại thì chuyện này tương tự như những gì đã xảy ra cách đây một phần tư thế kỷ khi chính phủ Nga hậu Xô viết tư hữu hoá ồ ạt: trong một môi trường tham nhũng thối nát, Nhà nước Nga nợ nần đã phải bán tháo các xí nghiệp của mình cho tư bản mại bản để trả lương cho công chức và cho người nghỉ hưu.

Để học kinh nghiệm của một quốc gia trước kia chúng ta đã lấy làm kiểu mẫu, chúng tôi đã dịch và xin giới thiệu quý bạn đọc bài

Les privatisations en Russie et la naissance d’un capitalisme oligarchique

(Tư hữu hoá ở Nga và sự ra đời của một giai cấp đầu sỏ tư bản)


của tiến sĩ Cédric Durand đăng trên trạm của tổ chức nghiên cứu (think tank) Gabriel Peri thuộc Đảng Cộng sản Pháp.

TS Cédric Durand là nhà kinh tế, phó giáo sư Đại học Paris XIII. Các công trình nghiên cứu của ông xoay quanh việc tổ chức kinh tế thế giới (công ty đa quốc gia, gia công phần mềm, toàn cầu hoá, chuỗi hàng hoá toàn cầu) và sự năng động của chủ nghĩa tư bản. Năm 2010, ông cho in ở nhà xuất bản Textuelin cuốn "Le capitalisme est-il indépassable?" (Chủ nghĩa tư bản có phải là không thể vượt?) đi ngược với trào lưu xét lại chủ nghĩa xã hội hiện nay ở nước ta.

Dưới một góc nhìn khác, nhưng với những nhận xét và kết luận tương tự, bạn đọc có thể tham khảo bài của Hội France Oural

La grande privatisation des entreprises publiques en Russie en 1991

(Chuyện tư hữu hóa lớn các doanh nghiệp Nhà Nước ở Nga vào năm 1991)


Tổng thống Vladimir Putin chưa khắc phục được di sản do người tiền nhiệm Boris Eltsin để lại thì đã lại tung ra một đợt tư hữu hoá mới mà giới tài phiệt Âu Châu nghi ngờ về tính khả thi của nó. Về đợt tư hữu hoá này bạn đọc có thể tham khảo bài của Maria Koutouzova

Les banques européennes s’interrogent sur la privatisation du russe Rosneft

(Các ngân hàng Âu Châu đặt câu hỏi về tư hữu hóa công ty Rosneft của Nga)


Nhân vụ Đồng Tâm và các vụ đuổi dân lấy đất khác, trong nước có nhiều vị suy nghĩ đến việc tư hữu hoá ruộng đất và bất động sản. Để đóng góp vào thảo luận, chúng tôi xin giới thiệu báo cáo của Ngân hàng Quốc tế:

Russie 1992: Privatisations hors marché

(Nga 1992: Tư nhân hóa ra thị trường)


*****
Trong thập niên 1990, nước Nga đã trải qua một suy thoái kinh tế lớn, sâu sắc như cuộc suy thoái ở Hoa Kỳ vào đầu thập niên 1930. Bên cạnh sự bùng nổ của những bất bình đẳng thì các chỉ số như tuổi thọ, giáo dục người trẻ và tăng trưởng dân số đã suy giảm rất nhiều. Những cuộc tư hữu hoá các xí nghiệp ở giai đoạn cuối của thời kỳ Liên Xô là nền tảng của sự chuyển đổi sang nền kinh tế tự do dẫn đến thảm hoạ này. Chúng biểu tượng cho công cuộc cải cách về sở hữu lớn nhất chưa từng thấy cho tới nay.
Bây giờ nếu xét lại thiên hùng ca vĩ đại này của chủ nghĩa tân tự do thắng thế vào thời đó thì chúng ta có thể viết thêm vào sự ký vốn đã dài của những ảo ảnh được bán cho dân chúng và những mộng vỡ sâu xa chúng gây nên. Nguyên nhân nào đã dẫn đến những cuộc tư hữu hoá mau chóng ở Nga và sự nhiệt tình ban đầu của người dân? Cải cách cơ cấu triệt để này đã được tiến hành ra sao? Bây giờ chúng ta có thể rút ra kết luận gì? Ngoài lịch sử của những biến đổi thời hậu Xô viết, trả lời cho những câu hỏi này sẽ giúp ta hiểu được tại sao cơ chế chính trị xã hội của chủ nghĩa tân tự do bây giờ lại suy yếu.

Tạo ra một tình huống không thể đảo ngược được...

Ngay năm 1987, dưới sự thôi thúc của Tổng bí thư Mikhail Gorbachev, một loạt quyết định tự do hoá kinh tế Liên Xô đã được thực hiện. Nhưng chỉ sau khi Liên Xô sụp đổ vào tháng chạp 1991 và với sự thành lập một nhóm nghiên cứu mới gồm các nhà kinh tế tự do xung quanh tổng thống Yeltsin thì mới có những quyết định quyết liệt thay đổi quan hệ về sở hữu. Trong khi tình hình kinh tế tiếp tục xấu đi và các thế lực chống lại quá trình tư hữu hoá vẫn được coi là tương đối mạnh, nhóm này nghĩ rằng họ đang nắm một thời cơ lịch sử. Theo ông Yegor Timurovich Gaidar, thủ tướng thời đó, thì phải hành động nhanh chóng để "tạo ra một cấu trúc xã hội mà làm cho sự trở lại quyền hành của những người cộng sản không thể thực hiện được hay ít nhất là rất khó khăn". Để làm được điều này, các nhà lãnh đạo mới có thể dựa vào sự ủng hộ tương đối của người dân. Tỷ dụ như năm 1989-1991, các thợ mỏ được huy động chống lại độc quyền chính trị và kinh tế của «Nhóm ưu đãi trong Đảng» (Nomenklatura) đã đồng hành với công cuộc đối kháng do ông Boris Yeltsin dẫn đầu. Nói chung hơn thì người dân tán thành "kinh tế thị trường" với hy vọng mức sống của họ sẽ được cải thiện và công bằng xã hội sẽ trở thành hiện thực.

... với sự trợ giúp của phương Tây

Trên phương diện quốc tế thì tư duy chiến tranh lạnh vẫn còn đó và tương lai của Liên Xô cũ vẫn là rất được quan tâm. Vì thế mà các nước phương Tây, dẫn đầu là Hoa Kỳ, tham gia hỗ trợ tích cực các lãnh đạo muốn cải tổ theo chủ nghĩa tân tự do. Mặc dù dân biểu Boris Yeltsin đảo chính chống lại Quốc hội vào mùa Thu năm 1993 và một quan điểm về dân chủ chí ít nhất có thể coi là hạn chế, sự hỗ trợ này không bao giờ bị đặt lại. Năm 1992, Trung tâm Tư hữu hoá Nga đã nhận được hàng trăm triệu đô la tài trợ cho không hoặc cho vay từ Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Âu Châu và nhiều chính phủ khác nhau. Năm 1992, Anatoly Chubais thành lập Uỷ ban Nhà nước Phụ trách Tư hữu hóa và cho phép phương Tây làm thay đổi cán cân chính trị về phía ủng hộ sở hữu tư nhân và thị trường tự do. Richard Morningstar, một quan chức của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, nói thẳng thừng: "Nếu chúng ta đã không có ở đó để hỗ trợ Chubais, thì liệu chúng ta đã thắng cuộc chiến tư hữu hoá hay không? Chắc là không". Anatoly Chubais và các đồng chí chính trị của ông đã nắm được lợi quyền nhờ sự hào phóng tài chính của những người hỗ trợ Tây phương trước khi hưởng lợi từ vị trí của họ trong quá trình tư hữu hoá. Họ không phải là những người duy nhất. Các "Harvard Boys" khác của chính phủ Mỹ, trong đó có một số người song tịch, pha trộn các thể loại để hưởng lợi riêng tư, đôi khi là tư vấn, đôi khi là đại diện các chính phủ, đôi khi họ cũng là doanh nhân làm ăn cho riêng mình.
Với sự hỗ trợ của phương Tây, năm 1992 nhóm Chubais chọn thực hiện cái gọi là tư hữu hoá hàng loạt. Họ phát cho dân tem phiếu dùng để mua cổ phần các xí nghiệp được tư hữu hoá hay để bán lại cho người khác. Song song, họ cũng dành ưu đãi cho nhân viên và lãnh đạo các xí nghiệp đó. Kết quả thật là ấn tượng: vào giữa tháng năm năm 1994, 60% GDP được sinh ra từ khu vực tư nhân. Ngược lại, các nhà cải cách hầu như không còn được dân chúng ủng hộ. Lý do rất dễ hiểu! Phần đông không được hưởng lợi gì từ những vụ tư hữu hoá đó. Cổ phần của họ (người dân) đã bị các nhà quản lý ngăn chặn, mua lại với giá rẻ mạt trong khi tiền lương không được trả cho nhân viên hay là không còn giá trị nữa vì tài sản của hãng đã bị rút sạch.
Tháng Bảy 1994, Boris Eltsin và Anatoly Chubais chuyển sang giai đoạn mới của công cuộc tư hữu hoá với việc bán đấu giá cổ phần tại các công ty trong các ngành năng lượng, kim loại và viễn thông. Mục tiêu của giai đoạn thứ hai này là để bù đắp thâm hụt ngân sách liên bang. Trước các cuộc bầu cử, chính phủ thực sự có nhu cầu bức xức về tài chính để trả nợ lương cho công chức, quân nhân và những người hưu trí. Tuy nhiên, phương án này đã không đáp ứng được mong đợi của chính phủ bởi vì vốn chạy khỏi Nga quá lớn và đầu cơ quá mạnh. Trong bối cảnh này chính phủ đưa ra giải pháp "dùng cổ phiếu để trả nợ". Các ngân hàng sẽ cho Nhà Nước vay và nợ được bảo lãnh bằng lượng cổ phần lớn hay quá bán của những xí nghiệp có giá trị cao của ngành công nghiệp Xô Viết, mà họ sẽ trở thành sở hữu chủ. Thâm hụt ngân sách Nhà Nước rất lớn. Toàn bộ công ty Norilsk, nhà sản xuất nickel lớn nhất thế giới, đã được bán với giá vài tỷ đô la. Thông đồng và thiên vị trong các thương vụ hiển nhiên đến nỗi chính sách bị chỉ trích kịch liệt kể cả từ Ngân hàng Thế giới. Vô ích. Một công hai chuyện, phương án này đã được thực hiện tới cùng và đã cung cấp tài chính đủ cho Boris Eltsin tái cử khi chẳng mấy ai tin vào kết quả đó.
Từ năm 1996, các chính phủ kế tiếp đã tiếp tục tuần tự bán tài sản công cộng. Những bất thường về định giá các xí nghiệp tư hữu hoá vẫn còn nhiều dù ít trắng trợn hơn.

Sự tập trung tài sản và quyền lực

Sau gần mười lăm năm tư hữu hoá, nhận xét đầu tiên là xã hội Nga đã gắn chặt với chủ nghĩa tư bản. Đây là thành tích chính trị của phe cải cách tự do cũng như của các tổ chức quốc tế và các nước phương Tây đồng hành với họ. Ngược lại, về phía người dân thì thất vọng là lớn. Sự tập trung tài sản và quyền lực kinh tế đi ngược với khẩu hiệu mà tổng thống Boris Eltsin liên tục phát biểu: "Chúng ta cần đến hàng triệu chủ nhân, chứ không phải là một nhóm triệu phú nhỏ".
Vì bất lực bởi tầm quan trọng của cuộc khủng hoảng và bởi các quy định mới không thông thoáng, nhân viên các xí nghiệp đã không thể huy động mạnh để chống lại sự chiếm đoạt đồ sộ này. Ngược lại Nhà nước đã bị giật dây vì lợi ích của một nhóm nhỏ. Tháng Mười một năm 2004, Tòa án Tài chính Liên bang Nga do cựu thủ tướng M. Stepashin chủ trì công bố một báo cáo lên án những bê bối lớn về quản trị chính sách công. Báo cáo phán quyết rõ ràng : "Nguyên tắc bình đẳng của công dân trong việc tư hữu hoá ồ ạt và lợi ích và quyền lợi của tất cả các tầng lớp xã hội đã không được tôn trọng".
Cơ bản hơn, công cuộc tư hữu hoá lớn này của Nga dựa trên sự tịch thu quyền tranh luận cần thiết của người dân. Trước đòi hỏi dân chủ hoá, quyền kiểm soát một nền kinh tế đã bị thể chế quan liêu Xô Viết chiếm đoạt chỉ có đề xuất duy nhất là giải pháp tư hữu hoá. Trong khi lý thuyết kinh tế chưa cho phép kết luận về tính hữu hiệu của các hình thức sở hữu khác nhau, những khả năng kết hợp sở hữu công, tự quản và sở hữu tư nhân các doanh nghiệp nhỏ chưa bao giờ được thảo luận.
Mặc dù quá trình tư hữu hoá đã không gây ra đối đầu xã hội toàn bộ, bất mãn này sẽ có dấu ấn xã hội lâu dài cho nước Nga. Trong những thăm dò ý kiến thì đại đa số người Nga cho rằng tư hữu hoá đã có tác động tiêu cực đối với đất nước họ và những người đã có hành động bất hợp pháp trong bối cảnh này phải được đưa ra trước công lý. Dù Vladimir Putin đã nhiều lần loại bỏ việc xét lại chính sách tư hữu hoá, vấn đề này vẫn hiện diện thường xuyên trong các cuộc tranh luận công cộng.Cédric Durand
(Bản dịch của ĐẶNG Đình Cung, Kỹ sư tư vấn)

Thực dụng hay thực tiễn có tên Donal Trump

Những gì tổng thống Donald Trump đang làm trong thế giới ngoại giao hiện đại giữa các siêu cường, chính là đặc trưng tính thực tiễn của chủ nghĩa thực dụng Mỹ. Tính thực tiễn của chủ nghĩa thực dụng đó đã giúp Trump chiếm thế thượng phong áp đảo đối với mọi đối thủ có mặt trong G20 - 7/2017 tại Humbeurg.
Nhưng điều đáng nói là việc Trump có thể đã làm thất bại mọi thủ đoạn theo kiểu khôn lỏi, ma mãnh vốn vẫn giúp Trung Quốc vượt mọi thứ rào cản, vượt lên mọi đối thủ. Đó là thủ đoạn tạo ra sự đã rồi nhỏ giọt, dừng lại trước khi gây ra khủng hoảng, và mỗi sự đã rồi là một bước nhảy lên phía trước và để đối thủ lại phía sau.
clip_image002

Có vẻ như tổng thống Trump đã bắt được cái tẩy đó của Trung Quốc. Trên hồ sơ Triều Tiên, Trung Quốc biến thủ đoạn đó thành trò chơi “bước nửa bước”. Trước mỗi đe doạ áp lực của Mỹ, Trung Quốc lại xăm xắn hành động, làm như hăng hái hưởng ứng, nhưng chỉ bắt đầu rồi dừng trước khi hành động gây tác dụng thực, đợi môt áp lực mới để lại hăng hái bước nửa bước mới. Mục đích là không để Mỹ phát khùng, nhưng không để cái gì Mỹ muốn thành thật.
Trung Quốc tuyên bố cắt nhập khẩu than của Triều Tiên, và một vài chuyến tàu chở than phải quay đầu, nhưng quý I/2017, lượng than nhập khẩu từ Triều Tiên đã tăng 40% so với cùng kỳ. Trung Quốc tuyên bố ngừng toàn bộ hoạt động thương mại, nhưng, theo Reuters, xe ô tô loại sang, xe chở khách, hàng tiêu dùng, lương thực, thực phẩm quá cảnh biên giới Trung - Triều vẫn không giảm tốc độ. Trung Quốc tuyên bố ngưng mọi liên hệ quân sự với Triều Tiên, nhưng không có gì xảy ra trên thực tế. Mật độ và cường độ các lần thử tên lửa chỉ mỗi ngày một tăng. Người ta không giải thích được bằng cách nào, Triều Tiên đạt được tốc độ phát triển kỹ thuật tên lửa nhanh như vậy. Nhà máy của Triều Tiên có trang bị như thế nào để có thể sản xuất các mẫu mới với những tổ hợp kỹ thuật mới phức tạp trong một thời gian ngắn kỷ lục…?
Trung Quốc đang chơi trò ú tim với Mỹ? Triều Tiên sẽ phải có vũ khí bắn tới mọi nơi trên đất Mỹ và sẽ buộc Mỹ phải nhượng bộ hoặc chịu thiệt hại khi cuộc chiến xảy ra? Đó chính là mục tiêu của chính Trung Quốc, không phải của Triều Tiên. Chế độ Triều Tiên không thể bị tiêu diệt và có sứ mệnh phải làm vật thiêu thân cho cuộc chiến Trung - Mỹ. Trump thừa biết như vậy. Triều Tiên là một phần của Trung Quốc. Những gì trông thấy và nghe thấy chỉ là trò diễn. Nhưng cái thời Trung Quốc thôi miên thiên hạ đã qua rồi.
Đấy là chưa kể cả Nga lẫn Trung Quốc đều chơi con bài Triều Tiên với vai một anh Chí Phèo.
Ông Rex Tillerson nói: “...Trung Quốc đã có hành động đáng kể và sau đó tôi nghĩ, vì nhiều lý do khác nhau họ tạm dừng hành động thêm, sau đó họ làm tiếp một số bước rồi lại tạm dừng”.
Ngôn ngữ ngoại giao là loại ngôn ngữ có thể phải đăng được trên thông tin đại chúng. Còn hiểu được thì phải nhìn được phía sau ngôn ngữ đó.
Trump đã bỏ ngoài tai những gì Trung quốc tuyên bố miệng và mặc nhiên coi như Trung Quốc luôn ủng hộ các sáng kiến của Mỹ nhằm chấm dứt nguy cơ hạt nhân của Triều Tiên. Trump đang thực thi nghị quyết của Liên Hiệp Quốc và Trung Quốc có bổn phận ủng hộ.
Trump đưa hạm đội và máy bay ném bom tập trận chung với Hàn Quốc và Nhật bản, Trump ném bom cảnh cáo vào một vị trí giả định trên đất Triều Tiên, Trump trừng phạt các công ty, ngân hàng và các cá nhân làm ăn với Bắc Triều Tiên, Trump cho tàu đi xuyên khu vực Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại đảo Hoàng Sa, Trump bán cho Đài Loan lượng vũ khí trị giá 1,4 tỷ đô la. Trump sẽ không dừng việc lắp đặt THADD tại Nam Hàn...
Trung Quốc đau hơn hoạn, nhưng Tập vẫn phải nhũn nhặn và “hoà nhã” khi gặp mặt Trump tại G20. Có lẽ trong lịch sử ngoại giao, Trung Quốc chưa bao giờ rơi vào tình huống khó xử như hiện nay. Với lối chơi siêu thủ đoạn, với các nước khác, nhất là các nước nhược tiểu quanh vùng Đông Nam Á, Trung Quốc đã quen với sự quy phục và đã quen xử sự theo lối trịch thượng.
Trump đã hành động theo cách thức mà Tôn Tử gọi là “tương kế tựu kế”, dùng chính thủ đoạn “nửa bước” của Trung Quốc để buộc Trung Quốc chấp nhận việc đã rồi do Mỹ hành động. Dù là nửa bước, cũng là đi cùng một chiều, không có lý gì phản đối, và không thể phản đối.
Cùng một lúc, Trump buộc Trung Quốc phải đối phó với cả ba hồ sơ: Đường lưỡi bò, Đài Loan và Triều Tiên. Trên cả ba hồ sơ, Trung Quốc đều bị trói vào mà đánh, đau mà không kêu được.
Có căn cứ để có thể tin được rằng “đường lưỡi bò” đang vuột khỏi tay Trung Quốc, nếu không bằng chiến tranh. Trung Quốc chỉ thích ăn cướp, nhưng sợ chiến tranh, và Trung Quốc chưa bao giờ thắng bất cứ cuộc chiến tranh nào.
Hà Nội hoàn toàn có thể hưởng lợi từ hành động của Mỹ, miễn là đừng có giở trò khôn vặt. Cái khôn vặt theo kiểu ma-cô đã không còn đất sống nữa rồi.
Bởi vì, nếu cái tẩy của Trung Quốc không qua được mắt của Trump, thì cái tẩy của cộng sản Việt Nam không thể có may mắn. Sự lèo lá lươn lẹo nào cũng chỉ thắng ván mà không thể thắng trận.
Cái thời làm bạn với tất cả, luồn lách cóp nhặt những rơi vãi do sơ ý giữa những sự hỗn độn của thế giới qua rồi. Đó là lối tư duy của một thằng ăn mày, khố rách áo ôm, không giúp một người đàng hoàng ngẩng mặt lên được.
Cần phải xác định bạn và thù. Cái khốn nạn sẽ gắn liền thành một khối giữa cái “Hợp tác với kẻ thù” và “Cảnh giác với bạn bè”. Đã chơi với bạn thì “còn cái xà lỏn” cũng chơi. Với kẻ thù thì chỉ có rào giậu cho kín. Vấn đề là tìm được bạn.
Chế độ đến rồi đi, chỉ có đất nước và dân tộc còn lại. Hợp tác với kẻ thù, tưởng giữ được chế độ, nhưng khi đất nước không còn, dân tộc không còn, thì chế độ bám vào đâu để tồn tại?
11/07/2017Bùi Quang Vơm

No comments:

Post a Comment