Tuesday, July 18, 2017

Bài viết hay(5191)

Hình như sau khi qua Mỹ thì người Việt thích bắt chước Mỹ hơn nhưng khổ nỗi đa số ưa bắt chước những thói hư, tật xấu; nhất là thói cao bồi "đá cá lăn dưa", tật chảnh choẹ, bệnh đua đòi, tánh láu cá và nhất là tự do phóng túng theo kiểu thực dụng. Tui ghét nhất là những cô cậu mới từ VN qua Mỹ du học đã đổi tên Mỹ như Bob Vu, Mary Sen... rồi bắt chước Mỹ con trọ trẹ với nhau thứ broken English rất ư là ...bồi! Thứ hai là sắm được chiếc xe hơi rồi muốn lái sao thì lái; y như trong rừng mới ra. Thứ ba là ôm nhau hun hít giữa public mà cứ tưởng đó là phim Mỹ! Thứ tư là vô lễ, mất dạy không thể tưởng khi ngông nghênh bố láo theo kiểu ông Trời con. Con nít sinh ra và lớn lên ở Mỹ cũng đâu đến nỗi cà chớn quá đáng như vậy? Thứ 5 là nhà quê học làm sang mà chảnh choẹ, phách lối theo kiểu con nhà giàu nhìn Trời bằng vung. Hỏi ra mới biết tụi nó là con ông cháu cha qua Mỹ rửa tiền cho cha mẹ và chuẩn bị bãi đáp sau khi các quan hốt một mớ đủ để dưỡng già. Bởi vậy Bolsa ngày càng bát nháo hơn khi các "chuyên viên địa ốc" dạo này lo o bế cho tư bản đỏ hơn là "tị nạn" hay HO. Ngày xưa Bolsa khổ vì nạn băng đảng gốc Việt. Ngày nay Bolsa tràn ngập một lớp trẻ lai căng nhuộm tóc đủ màu, áo quần hở hang khoe áo lót hay 2 cẳng khẳng khiu, nói năng xấc xược, lái xe ngang ngược. Xem ra ghetto của chúng ta càng hô hào bảo tồn văn hoá Việt thì thực tế cho thấy chúng ta đang mất gốc, lai căng, bát nháo hơn. Lớp già thì sao? Ghé qua mấy quán cà phê, vũ trường thì sẽ rõ. Xem ra chống Cộng chẳng đi tới đâu mà địch đã tràn ngập Bolsa.

QUAN CỘNG SẢN

Cung cách ứng xử trong cuộc sống của đám quan cộng sản, từ quan trẻ, cấp nhỏ như bà Phó Chủ tịch quận Lê Mai Trang, tới quan già, cấp cao như trung tướng Võ Văn Liêm cho người dân nhận ra rằng đám quan chức cộng sản chỉ có hình hài của con người thể xác, con người sinh vật, tuyệt nhiên không có hình hài của con người văn hóa, con người xã hội.
Con người thể xác là sản phẩm của tự nhiên, của di truyền nòi giống. Con bò đẻ ra con bò. Con người thể xác chỉ là sinh vật trong tự nhiên, chỉ có phần “con” do cha mẹ sinh ra. Phần “con” đó dù cao 1,9 mét, nặng 90 kilogram hay chỉ cao 1,5 mét, nặng 40 kilogram cũng chỉ tính theo đơn vị con.
Con người văn hóa xã hội do chính mỗi người tự hình thành, tự tạo ra cho mình, tự sinh ra mình bằng cách tiếp nhận nền văn hóa xã hội của loài người để hình thành con người văn hóa của riêng mình, tạo nên hình hài “người” của mỗi người.

Con người thể xác chỉ có nhu cầu vật chất và chỉ biết đến giá trị vật chất. Dân gian có câu thành ngữ rất hay để chỉ hạng người chỉ có con người thể xác: phường giá áo túi cơm. Con người văn hóa ngoài nhu cầu vật chất có giới hạn để nuôi sống con người cơ thể còn có nhu cầu vô cùng, vô tận về giá trị văn hóa, giá trị nhân văn. Con người văn hóa bình dị, tư nhiên thể hiện mình, khẳng định mình trong cuộc đời bằng giá trị văn hóa, giá trị nhân văn của mình
Con người thể xác chỉ biết có bản thân, chỉ lo cho bản thân. Làm quan là để lo cho người dân. Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Một xã hội tử tế thì kẻ chỉ có phần con, chỉ có con người thể xác không thể làm quan. Nhưng người dân Việt Nam trong nhà nước cộng sản hôm nay phải cay đắng, đau buồn nhận ra quan cộng sản có quá nhiều người chỉ có con người thể xác, không có con người văn hóa.
Chỉ có con người thể xác mà vẫn sỗ sàng tót lên ghế quan thì những quan chỉ có con người thể xác đó phải bảo vệ đến cùng cái thể chế đã cho những con người chỉ là thể xác, chỉ có phần “con” được vênh váo cưỡi lên đầu lên cổ những con người văn hóa.Phạm Đình Trọng

Bế tắc giải quyết doanh nghiệp nhà nước


clip_image002
Cho tới nay Chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc dường như vẫn nguyên trạng thế bế tắc trong mục tiêu giải quyết hàng loạt doanh nghiệp nhà nước làm ăn lỗ lã, cận kề phá sản. Nhưng nguy hiểm nhất là đang bắt ngân sách phải còng lưng trả nợ thay cho núi vay trong quá khứ.
Con nợ Đạm Ninh Bình là một ví dụ…

Nợ doanh nghiệp nhà nước

Hãy đối chiếu giữa khối doanh nghiệp nhà nước và khối doanh nghiệp tư nhân. Khối doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 2/3 tổng tài sản, 60% nguồn vốn tín dụng, 70% nguồn vốn ODA và được ưu đãi rất lớn về khả năng tiếp cận tín dụng và những điều kiện về chính sách, nhưng lại hoạt động quá tệ. Ít nhất 30% doanh nghiệp nhà nước bị lỗ và khối này chỉ đóng góp được khoảng 1/3 tổng sản phẩm xã hội.
Gần như ngược lại, khối doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 1/3 tài sản, chẳng mấy được ưu đãi về tín dụng và chỉ có thể “hớt cặn” vốn ODA, lại còn bị phân biệt đối xử đủ đường, nhưng lại tạo ra đến 2/3 tổng sản phẩm xã hội.
Nội dung đáng chú ý nhất của Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) (vừa được “thống nhất cao” hồi tháng Năm) là không chấp nhận đưa các khoản vay nợ nước ngoài của tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vào khái niệm nợ công quốc gia. Trong khi đó, loại nợ này lại là một trong năm định nghĩa về nợ công của cơ quan thống kê của Liên Hiệp Quốc.
Nhưng tại sao luật về nợ công của Việt Nam lại như cố tình không gộp cả phần nợ vay nước ngoài của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước?
Theo một phân tích của Tiến sĩ Vũ Quang Việt vào đầu năm 2017 ngay trên một tờ báo nhà nước là Thời báo Kinh tế Sài Gòn, nợ của 3,200 doanh nghiệp nhà nước theo điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2014 là 4.9 triệu tỷ đồng ($231 tỷ), gấp nhiều lần con số 1.5 triệu tỷ đồng mà Bộ Tài chính đưa ra chỉ cho một số tập đoàn và công ty lớn. Ước tính thêm cho thấy năm 2016, nợ của doanh nghiệp nhà nước là $324 tỷ, bằng 158% GDP.
Như vậy, cộng cả nợ Chính phủ và nợ doanh nghiệp nhà nước sau khi trừ đi phần Chính phủ bảo lãnh trùng lặp, tổng số nợ năm 2016 là $431 tỷ, bằng 210% GDP.
Trước đây và đặc biệt dưới thời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, việc Chính phủ bảo lãnh cho tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vay vốn của nước ngoài diễn ra tràn lan và vô tội vạ. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, có ít nhất 30% số doanh nghiệp nhà nước luôn phải đối mặt với nguy cơ phá sản.
Còn sang thời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, vấn đề bảo lãnh vay nợ nước ngoài cho doanh nghiệp nhà nước gần như đã bị Chính phủ đóng lại bởi vì số nợ công tăng vượt mặt. Theo tinh thần mới nhất mà Thủ tướng Phúc họp với ngành tài chính và các ngành khác, nếu doanh nghiệp nhà nước không trả được nợ vay nước ngoài thì sẽ phải tự phá sản chứ không thể trông đợi vào sự cứu giúp của Chính phủ.
“Phán quyết” mới nhất của Chính phủ là cơ quan này sẽ bảo lãnh cho doanh nghiệp nhà nước vay nợ nước ngoài chỉ đúng $1 tỷ trong năm 2017, giảm mạnh so với mức bảo lãnh $2.5 tỷ trong năm 2015 và $1.5 tỷ trong năm 2016.

Giải pháp SCIC?

Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) được thành lập vào năm 2005, tức cách đây đến 11 năm. Vào lúc thành lập, SCIC đã được giới chức quản trị và báo chí nhà nước tung hô như một cơ quan sẽ giúp cho bộ máy quản trị tinh gọn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.
Tuy nhiên, khoảng thời gian tồn tại hàng chục năm qua của SCIC cũng trùng với thời gian diễn ra phong trào tham nhũng ghê gớm nhất ở Việt Nam, tồn tại dưới “triều đại Nguyễn Tấn Dũng”. Cho đến những năm gần đây, rất nhiều dư luận xã hội đã cho rằng SCIC đã không làm gì khác ngoài việc lấy vốn nhà nước đi gửi ngân hàng để lấy lãi hoặc chỉ bỏ tiền vào những vụ việc mang màu sắc “trục lợi chính sách”. Trong khi đó, vốn nhà nước ở nhiều tập đoàn, tổng công ty vẫn đều đặn thất thoát (Vinashin, Vinalines…).
Vào tháng Chín, 2016, Bộ Tài chính cho biết là từ năm 2014 đến năm 2015, SCIC đã triển khai bán vốn thành công tại 12 doanh nghiệp niêm yết theo phương thức bán thỏa thuận ngoài hệ thống Sở Giao dịch Chứng khoán, sàn Upcom với giá bán nằm ngoài biên độ giá giao dịch của mã chứng khoán tại ngày chuyển nhượng. Kết quả, giá trị vốn đầu tư SCIC hạch toán trên sổ sách kế toán là 211,499 tỷ đồng, giá trị bán vốn thu về là 757,904 tỷ đồng, chêch lệch bán vốn là hơn 565,215 tỷ đồng, chênh lệch giữa giá trị thu về so với giá trị tính theo mức giá trần của mã chứng khoán tại ngày chuyển nhượng là 371,236 tỷ đồng.
Như vậy, SCIC đã bán vốn nhà nước được khoảng $25 tỷ trong hai năm qua. Năm 2014 lại là năm mà tình hình thu ngân sách bắt đầu khó trầm trọng, giá dầu thô quốc tế giảm mạnh, đồng thời nguồn vay ODA quốc tế cũng giảm mạnh, trong lúc Chính phủ phải “căng mình” để trả nợ (nợ quốc tế phải trả trong năm 2015 lên đến $20 tỷ).
Câu hỏi đặt ra là con số $25 tỷ mà SCIC đã bán được chi dùng cho cái gì?
Nhiều khả năng con số trên được chi trả cho đội ngũ công chức viên chức lên đến gần ba triệu người, còn lại để chi “đầu tư phát triển” (trong đó không ít công trình trụ sở hành chính và tượng đài ngàn tỷ), và trả nợ nước ngoài.
Với kết quả quá sức hạn chế như vậy của SCIC, liệu một “siêu ủy ban quản lý vốn nhà nước” – đang được Chính phủ và các bộ ngành dự tính cho thay thế SCIC – sẽ làm được gì, hay lại chỉ mang đến một tầng nấc trung gian mới?

Phá sản

Từ vài năm qua, đã xuất hiện một ít doanh nghiệp nhà nước bị phá sản, tuy chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với doanh nghiệp tư nhân.
Nhưng năm 2017 và những năm tiếp theo sẽ khác hẳn. Doanh nghiệp nhà nước sẽ “đồng hành” với tình trạng khốn khó của doanh nghiệp tư nhân.
Không khó để dự đoán rằng một khi Chính phủ gần như phủi tay trước nhiều món nợ vay nước ngoài của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước, ngay trong hai năm 2017 và 2018 sẽ xuất hiện những cái tên doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải phá sản, thậm chí còn phải đối mặt với vòng lao lý.
Và sẽ ập đến cả một phong trào “bắt doanh nghiệp nhà nước,” đi đôi với chiến dịch “bắt ngân hàng” đã, đang và sẽ gây náo loạn…

Bán và bán

Trong bối cảnh ngân sách năm 2016 vẫn tiếp tục bội chi đến 5.4% GDP và các nguồn thu từ trong nước lẫn từ quốc tế vẫn tiếp tục eo hẹp nhanh chóng, đời Thủ tướng Phúc đã chẳng thể làm gì khác hơn thời gian cuối đời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là bán đi những gì sẵn có.
Một trong những nguồn sẵn có vẫn còn có thể bán được là phần vốn nhà nước nằm trong các doanh nghiệp.
Vào đầu tháng Năm, Bộ Tài Chính – cơ quan mà vào giai đoạn cuối đời Thủ tướng Dũng đã mang chức trách chuyên đi vay nợ để cứu vãn ngân sách, sau này chính thức có thêm chức năng mới là “bán vốn nhà nước” – đã kiến nghị Thủ tướng Phúc quyết định phương án bán tiếp cổ phần Vinamilk.
Đồng thời, Chính phủ cũng đã lên kế hoạch bán vốn tại Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power). Thậm chí, Chính phủ còn để ngỏ phương án có thể bán tới 49% vốn tại PV Power.
PV Power là một trong ba nhà cung cấp điện lớn nhất cùng với Tập đoàn Điện lực (EVN) và Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản (TKV). Dự trù, việc bán cổ phần có thể giúp nhà nước thu về $700 triệu, và số tiền thu được sẽ “sử dụng làm nguồn vốn đầu tư cho các dự án năng lượng khác” – theo thông tin từ phía Chính phủ. Tuy nhiên nhiều người thừa hiểu rằng một nền ngân sách “thủng túi” chỉ có thể sống sót nếu được “tiếp máu” bằng tiền bán vốn nhà nước tại các doanh nghiệp.
Cần nhắc lại, thời điểm cuối năm 2015 đã chứng kiến Thủ tướng Dũng quyết định bán cổ phần tại hàng chục doanh nghiệp nhà nước, kể cả “con bò sữa” như Vinamilk để “bù đắp khó khăn ngân sách,” trong bối cảnh “ngân sách trung ương chỉ còn 45,000 tỷ đồng mà không biết chi cho cái gì”.
Cuộc “cách mạng bán tháo vốn nhà nước” lại diễn ra ngay vào đầu năm 2016, để đến giữa năm phía Chính phủ “xông xênh” bước ra trước Quốc hội với món tiền bán vốn được 10,000 tỷ đồng. Tuy nhiên, chừng đó vẫn là quá ít so với túi thủng ngân sách.
Đến tháng Tám, 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phải chỉ đạo tiếp tục bán vốn tại hàng loạt doanh nghiệp khủng như Tổng Công ty Cổ phần Bia Rượu Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco), Tổng Công ty Cổ phần Bia Rượu Nước giải khát Hà Nội (Habeco) và bán cổ phần của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) tại 10 doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh, Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam, Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền phong, Công ty Cổ phần FPT, Công ty Cổ phần Viễn thông FPT…
Trong khi kế hoạch bán đường, bán cảng, bán sân bay… mà Thủ tướng Dũng chỉ đạo các bộ ngành “nghiên cứu thực hiện” từ năm 2015 vẫn chưa đâu vào đâu, đơn giản là vì chưa có ai mua, thì việc Thủ tướng Phúc rút tiền từ cổ phần nhà nước trong các doanh nghiệp lớn là chóng vánh và thuận lợi nhất.
Một chuyên gia ngành tài chính ước tính, nếu bán hết vốn nhà nước tại 10 công ty thuộc SCIC cùng Habeco, Sabeco, Nhà nước có thể thu được tới $7 tỷ (khoảng 150,000 tỷ đồng).
Con số 150,000 tỷ đồng trên, bằng khoảng 13% chi ngân sách năm 2016, là một số tiền lớn và đáng kể trong bối cảnh Đảng không biết lấy tiền đâu để chi xài sau những vụ suýt nữa vỡ nợ của các Thành ủy Cà Mau và Tỉnh Ủy Bạc Liêu vào cuối năm 2015, để sang năm 2016 còn nghe nói Đảng đã phải dùng đến “quỹ đen” (một loại quỹ dự phòng trong Đảng) và đang phải tìm cách “nhất thể hóa” giữa một số cơ quan Đảng với cơ quan chính quyền để tiết giảm nguồn chi ngân sách.
Song 150,000 tỷ đồng cũng chỉ đủ để chi ngân sách khoảng 1.5 tháng. Hoặc chỉ có thể bù đắp được gần 2/3 của khoản bội chi ngân sách năm 2016 có thể lên đến 254,000 tỷ đồng.
Nhưng sau khi bán sạch những cổ phần ngon ăn và màu mỡ nhất tại các doanh nghiệp, Chính phủ Việt Nam còn gì để bán vào những năm tới?Phạm Chí Dũng

Giám sát phong bì

Phong bì trong bệnh viện Việt Nam là một đề tài nghiên cứu tầm quốc tế.
Tôi phát hiện ra điều đó thời còn đi học thạc sĩ ở Australia. Có lần, tôi đăng ký làm luận khoa học về việc thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân ở Việt Nam. Tôi đọc khá nhiều tài liệu về chủ đề này và phát hiện ra một ý nổi bật, là việc thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân ở Việt Nam gặp khó khăn do các khoản tự chi trả của người bệnh quá lớn.
Khoản tự chi trả này chịu sự tác động của nhiều yếu tố, có thể là do chính sách. Nhưng nó còn có một nguyên nhân tương đối đặc thù, bị đội lên bởi các khoản chi phí phi chính thức. Trong số đó có cái gọi là “phong bì”.
Bạn có thể tìm thấy ý này trong thư viện của Viện Y học Mỹ, trong kho lưu trữ của một đại học Tây Ban Nha, trong nghiên cứu của một học giả ở tận bên Bỉ... Văn hóa đưa và nhận phong bì khi cận kề sinh tử ấy không phải là điều phổ biến trên thế giới. Nó đáng nghiên cứu với nhiều học giả ở các nước phát triển.
Trong chuyên mục này, tôi từng kể câu chuyện của mẹ mình. Khi phải nhập viện, bà đã liên tục trách móc tôi vì không chịu đưa phong bì cho bác sĩ. Nó trở thành một thói quen ám ảnh và người bệnh cảm thấy sợ khi những bệnh nhân giường bên đều “bồi dưỡng” cho bác sĩ còn mình thì không.
Tôi luôn giữ quan điểm rằng chẳng thầy thuốc nào bán rẻ danh dự và lương tâm vì vài cái phong bì. Nhưng cũng trong lần mẹ nhập viện, tôi phát hiện ra một điều kỳ lạ trên tấm biển nội quy treo ngay gần cửa ra vào khoa. Ở phần dành cho bệnh nhân, có điều khoản cấm đưa phong bì cho cán bộ y tế. Thế nhưng, tréo ngoe là ở chiều ngược lại, nội quy dành cho cán bộ y tế thì lại không thấy có phần cấm nhận tiền.
Có thể là việc cấm nhận tiền đã được quy định bởi một quy chế nội bộ khác. Tôi không quy kết rằng bệnh viện miễn trừ trách nhiệm cho các bác sĩ nhận phong bì. Nhưng bản nội quy ấy lại khiến tôi nghĩ đến một khái niệm khác: trách nhiệm của các bệnh nhân.
Với những quy định “cấm bệnh nhân đưa phong bì” được treo khắp nơi, ngành y tế đã mặc định rằng lỗi, trách nhiệm có thể từ bệnh nhân và người nhà. Trong khi đó, trong một mối quan hệ bất cân xứng mà bệnh nhân và người nhà ở thế yếu, đó không phải cách đặt vấn đề hợp lý, nếu muốn giải quyết vấn nạn phong bì đã nổi tiếng quốc tế kia.
Vậy điều cần đặt ra là gì?
5 năm trước, Bộ trưởng Y tế từng nói về nạn phong bì trong bệnh viện bằng một đề nghị với bệnh nhân: “Nếu thấy bác sĩ, điều dưỡng nào nhận phong bì thì chụp ảnh gửi cho chúng tôi”.
Đó là một đề nghị rất tốt. Nếu xác định rằng phong bì trong bệnh viện là biểu hiện của tiêu cực trong hệ thống dịch vụ công, thì việc toàn dân tham gia giám sát và ngăn chặn, là một tinh thần cần được khuyến khích. Nhưng sau một nhiệm kỳ của Bộ trưởng, người ta sẽ tự hỏi rằng sự giám sát này đã được khuyến khích như thế nào? Nếu phát hiện bác sĩ, điều dưỡng nào nhận phong bì thì gửi cho... ai?
Thay vì một số điện thoại đường dây nóng, hay hiểu theo nghĩa đen, là số điện thoại của chính Bộ trưởng, thì trên khắp các bệnh viện bây giờ lại là dòng “cấm đưa phong bì”.
Thay vì khuyến khích sự giám sát, thì thông điệp bây giờ lại là một dạng “cưa đôi” trách nhiệm với người dân; cho rằng họ có thể đóng vai trò “đồng đạo diễn” trong tiêu cực.
Việc cho rằng người dân mang 50% trách nhiệm trong tiêu cực, hay là tham nhũng, là một “bẫy tư duy” khá phổ biến khi đề cập tới vấn đề đưa và nhận phong bì. Có thể bắt gặp dạng lập luận này không chỉ trong ngành y, mà trong lĩnh vực giao thông đường bộ, hay hành chính công. Nôm na, anh không đưa thì chẳng có ai nhận. Trong khi đó, ở thế yếu, mang tâm trạng phụ thuộc, thì ngay cả nếu người dân có lỗi, họ cũng không phải là điểm mấu chốt để giải quyết vấn đề.
Đó không phải là chuyện của riêng ngành y. Tinh thần “Chụp ảnh gửi cho chúng tôi” lẽ ra đã có thể được khuyến khích trong ngành y suốt nửa thập kỷ qua. Và nó đáng ra đã phải là một phương thức san sẻ trách nhiệm được nhân rộng ở quy mô xã hội, áp dụng với bất kỳ lĩnh vực nào. Ở bất kỳ đâu trên thế giới, từ Hong Kong cho đến Kenya, bạn có thể bắt gặp một tấm áp phích chống tham nhũng treo ở nơi công cộng, và nội dung của nó thế này: “Nếu tình nghi có tham nhũng, bạn hãy gọi ngay cho chúng tôi, theo số...”.
Người dân sẽ tự mang ý thức về trách nhiệm của mình, sẽ tự suy nghĩ sâu về việc có nên đưa phong bì và làm nhiều hơn thế để chung tay chống phong bì, nếu nhìn thấy ở đó một số điện thoại đầy minh bạch và cầu thị - không phải một câu “cấm”.
Nhưng việc đơn giản đó, đến nay chưa phổ biến. Việc “san sẻ trách nhiệm” trong chống tiêu cực đang được thực hiện theo một tư duy sai. Nó trở thành “cưa đôi việc chịu trách nhiệm”.Tất ĐứcNgư dân trên bãi biển Bình Thuận.

Bình Thuận, địa chỉ mới của bất ổn xã hội vì môi trường

Vào ngày 15 tháng bảy, năm 2017, một nhóm công dân thành phố Sài Gòn kêu gọi thực hiện một cuộc đi bộ đến Bình Thuận để phản đối dự án dìm bùn nạo vét tại vùng biển của tỉnh này.
Nhóm này bị công an huyện Thủ Đức ngăn chận, ngay khi chưa rời địa phận Sài Gòn, bị thẩm vấn trong đồn công an quận Tân Phú, Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, rồi được trả tự do.
Ô nhiễm và nguy cơ ô nhiễm tại Bình Thuận đang ngày càng được dân chúng quan tâm. Tỉnh này đang trở thành một điểm nóng của những bất ổn xã hội vì vấn đề môi trường trong hai năm qua.
Biểu tình và tuần hành vì môi trường tại tỉnh Bình Thuận trong hai năm qua
Ngay sau khi được trả tự do từ đồn công an huyện Tân Phú, Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, một trong những người phát động cuộc đi bộ vì biển Bình Thuận là cô giáo Ngô Thị Thứ, hiện sống tại Quận Thủ Đức, nói với chúng tôi:
Tôi đọc trên Facebook, trên báo chí, có quá nhiều bài nói về môi trường, mà mình thấy rõ là những gì chính phủ làm là chưa thỏa đáng, người dân than thở rất nhiều. Mình thấy rất đau xót mà người ta cứ bất chấp người ta làm. Tôi muốn mình cũng lên tiếng phụ với họ, nhưng tôi không biết làm sao để lên tiếng, tôi chỉ có một cách đó mà thôi.”
Ngay sau khi được trả tự do, các thành viên của nhóm đi bộ này tiếp tục dùng mạng xã hội kêu gọi mọi người đấu tranh chống việc xả bùn nạo vét tại vùng biển Bình Thuận.
Nhóm đi bộ vì môi trường biển Bình Thuận là sự kiện mới nhất đánh dấu sự phản ứng của người dân trước nạn ô nhiễm môi trường tại tỉnh Bình Thuận.
Trước đó hai năm, vào hai ngày 14 và 15 tháng tư năm 2015, hàng ngàn người dân huyện Tuy Phong đã chận quốc lộ số một đi ngang qua tỉnh Bình Thuận, trong khu vực nhà máy điện Vĩnh Tân 2 để chống việc xỉ than của nhà máy này gây ô nhiễm không khí trầm trọng.
Kết quả là lực lượng chức năng phải huy động hàng trăm công an đến để giải tán đám đông, gây ra xung đột bạo lực làm một số công an bị thương. Có sáu người dân bị bắt, một khách sạn cùng nhiều xe cộ bị đập phá, quốc lộ số một bị kẹt xe trong nhiều giờ.
Trả lời phóng viên của chúng tôi vài ngày sau vụ biểu tình lớn đó, một người dân cho biết:
Người ta chặn xe do hệ thống lọc bụi lọc khí của nhà máy Vĩnh Tân thải bụi than ra mỗi ngày, nó đổ ra từng đống tro bụi xỉ rồi gặp gió lớn thuận chiều bay tới người dân làm cho người dân bức xúc.
Nạn ô nhiễm nặng quá nên dân làm sao sống nỗi, phải di tản thôi.
-Một người dân.
Dân chúng ở đây cũng cho biết là cuộc sống của họ đã bị ảnh hưởng ngay khi nhà máy điện Vĩnh Tân số 2 đang được xây dựng, có người còn dự định là bỏ xứ đi làm ăn nơi khác. Một cư dân khác ở Tuy Phong nói rằng:
Nạn ô nhiễm nặng quá nên dân làm sao sống nổi, phải di tản thôi. Thực sự thì mấy cái vụ bị ô nhiễm thì nhiều khi dân mình chết mới biết. Chính quyền cũng làm mạnh bắt người dân đóng cửa. Dân mình sống thì cũng như chạy đua với lũ vậy thôi! Thì dân Việt Nam ở đâu mà chẳng bị đè đầu cưỡi cổ
Nguồn gốc ô nhiễm
Nguồn gốc của những cuộc biểu tình, phản đối, ngoài đời hay trên mạng xã hội đều xuất phát từ dự án rất lớn xây dựng một chuỗi các nhà máy điện Vĩnh Tân, chạy bằng nhiên liệu than đá, tại huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận.
Ô nhiễm thấy rõ nhất là ô nhiễm không khí do xỉ than của các nhà máy này thải ra.
Bên cạnh đó việc xây dựng cơ sở hạ tầng cảng vận chuyển than cho các nhà máy này cũng bắt đầu tác động tiêu cực đến ngành nuôi tôm giống nổi tiếng cả nước của huyện Tuy Phong.
Chủ một trại nuôi tôm giống tại Tuy Phong cho chúng tôi biết rằng cầu cảng xây dựng cho việc vận chuyển than đã làm nước biển bị tù đọng, năng suất tôm giống giảm đi, giá thành tăng cao. Ông nói hài hước rằng nếu trại tôm của ông giống như một chiếc xe tải thì ông cũng đã bỏ Tuy Phong đi nơi khác.
Nhưng tác hại của cầu cảng lên ngành nuôi tôm chưa được đưa ra công luận thì việc Bộ tài nguyên môi trường chấp thuận dìm gần 1 triệu mét khối bùn nạo vét ở cảng Tuy Phong gần khu bảo tồn biển Hòn Cau của vùng biển Tuy Phong Bình Thuận, làm dư luận phản ứng rất mạnh mẽ.
Tiến sĩ Phan Hữu Trọng Hiền, một người quê tại Bình Thuận, hiện sống tại Úc, đã lập một Fan Page trên mạng xã hội kêu gọi chống đối việc dìm bùn nạo vét này. Theo ông Hiền, việc lập dự án các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than đá tại một tỉnh không có than đá, sẽ kéo theo nhiều tác động lên môi trường biển và đất liền của tỉnh này.
Điều đáng lo ngại hơn nữa là trong trường hợp nhà máy Vĩnh Tân 2, người ta được biết là sử dụng công nghệ của Trung Quốc, do nhà thầu Trung Quốc thi công. Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà hoạt động dân sự tại Hà Nội nói với chúng tôi:
Vấn đề hết sức nghiêm trọng bởi vì các nhà thầu Trung Quốc viện vào chính sách của Chính phủ Trung Quốc cung cấp và dàn xếp về vốn và những người chủ đầu tư Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp quốc doanh thì hăm hở chấp nhận những nhà thầu như vậy. Rất đáng tiếc Việt nam có thể trở thành một cái bãi thử nghiệm cho họ và một cái bãi thực sự là để xả rác công nghệ.
Đối phó với những bất ổn xã hội do việc ô nhiễm gây ra, dường như lại là một điều quá mới đối với chính quyền địa phương. Một người dân Bình Thuận có chứng kiến cuộc biểu tình trong hai ngày 14 và 15 tháng tư năm 2015, so sánh việc đối phó với những cuộc biểu tình của chính quyền Bình Thuận, với những vụ việc diễn ra tại các thành phố lớn như Hà Nội hay Sài Gòn:
Rất đáng tiếc Việt nam có thể trở thành một cái bãi thử nghiệm cho họ (Trung Quốc) và một cái bãi thực sự là để xả rác công nghệ.
-Tiến sĩ Nguyễn Quang A.
Ở đây không phải Hà Nội hay Sài Gòn mà dễ công khai những thông tin mà trước đây họ bưng bít. Mỗi khi nhân dân biểu tình hay phản đối gì thì nhà cầm quyền cho công an đóng vai người dân, chen lẫn vào dân rồi bày trò quậy phá sau đó công an trấn áp dân. Nó vừa làm vừa dàn dựng để đài truyền hình nhà nước quay, để ai cũng nghĩ là dân đánh công an. Bây giờ nó đang chơi trò an dân, ru ngủ dân nhưng cũng chưa biết sẽ tới đâu
Vụ phản đối dìm bùn nạo vét tại biển Bình Thuận đánh dấu một địa chỉ mới của những bất ổn xã hội môi trường tại Việt Nam, là tỉnh Bình Thuận, vốn từ trước đến nay được xem như nơi sản xuất hải sản lâu đời và lớn bậc nhất nước Việt Nam, cùng với những khu nghỉ dưỡng dọc bờ biển.
Các doanh nghiệp chế biến hải sản, các ngư dân, các xưởng chế biến nước mắm Phan Thiết nổi tiếng, khi tiếp xúc với chúng tôi đều tỏ vẻ lo ngại về tương lai ô nhiễm ảnh hưởng nặng nề lên cuộc sống của họ.
Thảm họa môi trường lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay được cho là thảm họa Formosa-Vũng Áng xảy ra vào năm 2016, khi nhà máy sản xuất thép Formosa thải chất độc vào biển làm cá chết hàng loạt tại những tỉnh Bắc Trung bộ. Thảm họa này gây nên hàng chục cuộc biểu tình, xung đột với lực lượng an ninh trong suốt hơn một năm qua.
Sau khi thảm họa Formosa Vũng Áng bùng nổ, kỹ sư Lê Quốc Trinh, một chuyên gia về luyện kim sống tại Canada nói với chúng tôi rằng bất ổn xã hội chắc chắn sẽ xảy ra nếu các nước nghèo muốn phát triển bằng mọi giá mà không nghĩ đến môi trường sống của người dân. Theo ông chuyện đó đang xảy ra ở Việt Nam, và lỗi thuộc về chính phủ Việt Nam, đã không cân nhắc và suy xét khi quyết định các dự án phát triển kinh tế.

Kính Hòa, phóng viên RFA

Vì sao loài người lại trở nên thống trị thế giới?

Tặng sách Sapiens
Sapiens, một cuốn sách viết về lịch sử của loài người, trả lời cho câu hỏi lớn: Vì sao loài người lại trở nên thống trị thế giới?
Đó là cuốn sách Linh yêu thích không kém gì cuốn Súng, vi trùng và thép của Jared Diamond.
Linh vốn thích tìm hiểu vì sao mọi thứ lại diễn ra như thế này mà không như thế kia, vì sao châu Âu lại thống trị thế giới chứ không phải châu Mỹ hay châu Phi? Jared Diamond đã trả lời câu hỏi đó trong cuốn sách của ông.
Một câu hỏi lớn và khó trả lời hơn: Tại sao loài người tinh khôn Sapiens lại thống trị thế giới chứ không phải những con voi đầy sức mạnh, những con beo chạy rất nhanh, những con cá voi bơi xuyên qua các đại dương, những con đại bàng bay trên trời...
Thật điên rồ nếu như cách đây 2,5 triệu năm, có ai đó dự đoán rằng Sapiens sẽ trở thành loài thống trị cả thế giới.
Thế nhưng với ba cuộc cách mạng nối tiếp nhau: cuộc cách mạng nhận thức (The Cognitive Revolution), cuộc cách mạng nông nghiệp (The Agricultural Revolution), cuộc cách mạng khoa học (The Scientific Revolution), loài người từ một sinh vật như bao sinh vật khác trên trái đất vươn lên đứng đầu và làm cho nhiều giống loài khác bị tuyệt chủng.
Vì sao con người lại có được sức mạnh đáng sợ đến thế? Câu trả lời nằm ở chỗ con người có thể hợp tác với nhau trên quy mô lớn. Một người không thể nào đánh bại được một con voi khổng lồ nhưng một nhóm người hợp tác với nhau có thể săn một con voi. Những con ngựa khỏe mạnh có thể phi rất nhanh và chạy rất xa nhưng chúng không thể tưởng tượng ra một câu truyện huyễn hoặc về một vị thần trên trời sẽ trừng phạt những người không tuân thủ các giới răn thần đã ban cho con người. Nhờ các giới răn đó, các cá nhân xa lạ mới có thể tin tưởng và hợp tác với nhau trên quy mô lớn.
Khả năng hợp tác do con người có thể tưởng tượng ra những câu chuyện huyễn hoặc không có thật nhưng nếu tất cả mọi người nghe tin vào câu chuyện đó sẽ tạo nên một sự hợp tác của rất đông người. Không phải ngẫu nhiên mà các lãnh đạo doanh nghiệp lớn trên thế giới đều có khả năng tưởng tượng ra những điều không có thật và thuyết phục mọi người tin rằng nếu họ tin và thực hành những điều không tưởng đó thì những điều không tưởng sẽ thành hiện thực.
God, công ty, quốc gia, nhân quyền, tiền, cổ phiếu, luật pháp, các thể loại chủ nghĩa từ chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa xã hội... đều là những câu chuyện tưởng tượng do một ai đó nghĩ ra. Nhưng khi họ thuyết phục được rất nhiều người tin vào câu chuyện họ kể, mọi thứ sẽ thay đổi. Những gì tưởng rằng chỉ có trong trí tưởng tượng trở thành hiện thực, cổ phiếu tưởng rằng chỉ là tờ giấy lại có ảnh hưởng đến cảm xúc của nhà đầu tư.
Harari là một học giả trẻ người Do Thái, sự thông minh, uyên bác của ông thể hiện trong cuốn sách sẽ khiến người đọc trầm trồ, thán phục và kinh ngạc.
Linh đã đặt Alphabooks 50 cuốn sách để tặng gia đình, bạn bè và các cổ đông của quỹ BHDL cuốn sách này. Hy vọng mọi người sẽ đọc và yêu thích cuốn sách như Linh đã yêu thích.Bạch Huỳnh Duy Linh

No comments:

Post a Comment