Wednesday, July 19, 2017

Bài viết hay(5194)

Anh tư bản đỏ hỏi tui nếu góp ý với Đảng và Nhà Nước thì tui sẽ đề nghị cái gì? Tui nói là nên lắng nghe ý kiến từ người dân trong nước chứ đừng nghe mấy đứa VK ở Mỹ như tui vì tui có biết rõ tình hình trong nước ra sao đâu mà bày đặt góp ý lung tung. Theo tui, lãnh đạo cần công bằng, minh bạch và chịu lắng nghe ý dân là OK. Đừng biến công an thành kiêu binh với quyền lực vô hạn rồi dung túng cho họ làm bậy là dân vui ngay. Nếu dâng sớ theo kiểu Chu Văn An thì chắc là tui phải nghĩ cho kỹ rồi mới viết chứ hỏi ngang xương thì không nên.

Liệu cái chết của TPP có làm Việt Nam dừng các cải cách về quyền của người lao động?

Hà Nội nên đẩy mạnh những cải cách đã định cho dù không có TPP, theo Tiến sỹ Phạm Trọng Nghĩa, nghiên cứu viên của Chương trình Quản lý Kinh tế Toàn cầu.
Hiện tại, luật pháp và thực tiễn ở Việt Nam có khoảng cách khá xa so với những tiêu chuẩn lao động quốc tế về tự do lập công đoàn và thương lượng tập thể. Thứ nhất, theo Tổ chức Lao động Quốc tế, người lao động có quyền thành lập các tổ chức công đoàn theo sự lựa chọn của chính họ mà không cần sự cho phép của tổ chức trước đó, có nghĩa là có thể tạo ra nhiều tổ chức công đoàn trong mỗi doanh nghiệp. Ở Việt Nam, sự độc quyền của hệ thống công đoàn được luật pháp quy định. Người lao động không được hưởng quyền được thực sự tổ chức công đoàn, và họ không thể tự quyết định thành lập hoặc tham gia vào các công đoàn vì họ chỉ có một hệ thống công đoàn hợp pháp được công nhận. Việc tổ chức công đoàn được quy định trong Điều lệ của Công đoàn Việt Nam do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN) thông qua.
Thứ hai, tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO yêu cầu các công đoàn phải độc lập với các cơ quan Chính phủ trong hoạt động tổ chức và các vấn đề tài chính, công đoàn cũng phải được độc lập với người sử dụng lao động trong việc thực hiện các hoạt động của công đoàn. Tại Việt Nam, công đoàn được định nghĩa trong Hiến pháp năm 2013 là các tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân và người lao động. Điều này có nghĩa các công đoàn phải phụ thuộc mạnh mẽ vào nhà nước về hỗ trợ tài chính và quản lý nhân sự. Đồng thời, luật yêu cầu tất cả người sử dụng lao động phải đóng góp vào quỹ công đoàn, làm cho công đoàn trở nên phụ thuộc về tài chính đối với người sử dụng lao động.
Trong thoả thuận lao động với Hoa Kỳ về hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Việt Nam cam kết đưa các tiêu chuẩn lao động quốc tế này vào hệ thống pháp luật và thực hiện trong thực tiễn. Để TPP có hiệu lực, việc sửa đổi Bộ luật Lao động đã được đưa vào chương trình nghị sự của Quốc hội để đưa luật trong nước phù hợp với yêu cầu của TPP. Tuy nhiên, khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP, cải cách về quyền của người lao động đã bị trì hoãn. Trong bối cảnh này, nhiều người lập luận rằng Việt Nam không cần thiết phải cải cách quyền con người vì không có yêu cầu cải cách từ Hoa Kỳ.
Ngược lại, tôi tin rằng Việt Nam cần và phải tiếp tục cải cách quyền người lao động bằng cách phê chuẩn hai Công ước ILO 87 và 98 về tự do lập hội và thương lượng tập thể. Bằng cách kết hợp các tiêu chuẩn trong các công ước này vào hệ thống luật pháp trong nước và thực hiện chúng trên thực tế, Việt Nam sẽ nhận được rất nhiều lợi ích về luật pháp, chính trị và kinh tế.

Lợi ích hợp pháp

Lợi ích hợp pháp của việc phê chuẩn và kết hợp các tiêu chuẩn của ILO về tự do lập hội và thương lượng tập thể có thể được đo bằng việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền liên quan được ghi trong Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam. Điều 25 của Hiến pháp này quy định rằng quyền tự do lập hội ở Việt Nam đi cùng với các quyền khác, như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do biểu đạt. Tuy nhiên, quyền tự do lập hội không phải là một quyền tuyệt đối vì “thực tiễn sẽ được luật pháp quy định”. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện tại không đầy đủ và không tạo điều kiện cho tự do lập hội.
Từ năm 1992, một dự thảo luật về hiệp hội đã được xem xét ở Việt Nam, chủ yếu là do một ủy ban soạn thảo do Bộ Nội vụ chủ trì. Dự thảo đã được thảo luận nhiều và được đệ trình lên Quốc hội để thảo luận vào tháng 5 năm 2015 nhưng chưa được thông qua.
Khi không có trong luật quốc gia, việc phê chuẩn và thực hiện các tiêu chuẩn của ILO sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các giá trị và các quyền được ghi trong Hiến pháp Việt Nam theo ba cách.
Thứ nhất, nó sẽ giúp lấp đầy khoảng trống trong các quy định hiện hành bằng cách trở thành nguồn trực tiếp của luật pháp Việt Nam. Tại Việt Nam, các hiệp ước quốc tế được phê chuẩn là những nguồn trực tiếp của luật pháp và vượt trên luật pháp quốc gia. Do đó, sau khi phê chuẩn, các quy định của các công ước cốt lõi của ILO về tự do hiệp hội sẽ là những nguồn trực tiếp của luật pháp Việt Nam. Do đó, các quy định này sẽ góp phần bảo vệ quyền tự do lập hội do Hiến pháp quy định.
Thứ hai, phê chuẩn các công ước ILO sẽ tạo đà cho Chính phủ hành động. Ở Việt Nam, luật pháp trong nước gần như phù hợp với các điều khoản nội dung của ILO ngay cả trước khi các công ước có liên quan đã được phê chuẩn. Tuy nhiên, việc phê chuẩn sẽ tạo động lực khuyến khích Chính phủ thực hiện các quy định trong nước liên quan. Do đó, việc phê chuẩn và kết hợp các công ước của ILO về tự do hiệp hội sẽ tạo ra động lực để thực thi và thực hiện các quy định trong nước về quyền tự do hội họp, như được quy định bởi Hiến pháp.
Thứ ba, việc phê chuẩn và kết hợp hai Công ước 87 và 98 sẽ tăng cường thực hiện trong thực tiễn bằng cách áp đặt nghĩa vụ thi hành lên nhà nước dưới sự giám sát của ILO. Mặc dù pháp luật trong nước có thể đã phù hợp với các quy định cơ bản của ILO, các quy định về thủ tục của Công ước ILO yêu cầu các Chính phủ thực hiện các nghĩa vụ nhất định do cơ chế giám sát của ILO cung cấp, ví dụ như tư vấn các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động trong việc lập báo cáo, trả lời các yêu cầu từ ILO, vv

Lợi ích chính trị

Rà soát và lồng ghép các công ước của ILO về tự do hiệp hội và thương lượng tập thể vào luật pháp Việt Nam sẽ cho phép Việt Nam đạt được các nguyện vọng chính trị về dân chủ, phát triển nguồn nhân lực và quan hệ đối ngoại.
Thứ nhất, kết hợp các công ước về tự do hiệp hội và thương lượng tập thể sẽ tạo ra một nền dân chủ hơn, góp phần đạt được mục tiêu của đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam để xây dựng một xã hội dân chủ và văn minh hơn. Hơn nữa, tự do hiệp hội và thương lượng tập thể là những công cụ để đạt được nền dân chủ công nghiệp, là một trong những cơ sở cho nền dân chủ xã hội. Thực hiện quyền này cho phép người lao động có tiếng nói để thể hiện nguyện vọng của họ, tăng cường vị trí của họ trong thương lượng tập thể, và cho phép họ tham gia vào việc xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế và xã hội.
Thứ hai, việc kết hợp và thực hiện các công ước này sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của việc phát triển nguồn nhân lực. Liên Hiệp quốc đã công nhận rằng tự do hiệp hội là điều cần thiết để cải thiện cuộc sống của người lao động và phúc lợi kinh tế của họ. Hơn nữa, quyền tự do hiệp hội cho phép đoàn kết giữa người lao động trong khi quyền đàm phán tập thể cho phép người lao động yêu cầu cải thiện các quyền và lợi ích. Những quyền này trao quyền cho công nhân trong quá trình đàm phán và bảo vệ người lao động khỏi bị bóc lột. Họ cho phép công nhân có nhu cầu về các sở thích khác, bao gồm đào tạo kỹ năng và giáo dục.
Thứ ba, phê chuẩn các công ước này sẽ chứng minh rằng Việt Nam muốn tuyên truyền Tuyên bố năm 1998 của ILO và tăng cường vị thế của Việt Nam trong ILO, giúp Việt Nam tránh những lời chỉ trích phát sinh từ cơ chế giám sát của ILO. Kết hợp và thực hiện hai Công ước 87 và 98 về tự do hiệp hội và thương lượng tập thể ở Việt Nam sẽ thể hiện vai trò tích cực của Việt Nam trong việc bảo vệ và phát huy quyền con người tại nơi làm việc. Nó sẽ góp phần làm cho Việt Nam trở nên đáng tin cậy và được tôn trọng hơn trong quan hệ quốc tế cũng như giúp Việt Nam tránh những lời chỉ trích nặng nề từ nước ngoài và các tổ chức nước ngoài liên quan đến các cáo buộc về nhân quyền và vi phạm các quyền của người lao động.

Các lợi ích về kinh tế

Ngoài các lợi ích hợp pháp và lợi ích chính trị, việc kết hợp và thực hiện hai Công ước ILO 87 và 98 sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam.
Thứ nhất, theo Ngân hàng Thế giới, đảm bảo tự do hiệp hội và thương lượng tập thể có thể đi một chặng đường dài hướng tới việc thúc đẩy hiệu quả của thị trường lao động và hiệu quả kinh tế tốt hơn. Nếu quyền được tổ chức và thương lượng tập thể được công nhận, khuyến khích và bảo vệ, nó sẽ đảm bảo an toàn cho các mối quan hệ lao động, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định chính trị xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu hút FDI.
Thứ hai, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam-EU, hoàn thành vào năm 2016, đang chờ ký kết và phê chuẩn. Hiệp định này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, như loại bỏ ít nhất 90% dòng thuế đối với xuất khẩu của Việt Nam sang EU và tăng nguồn vốn của EU cho Việt Nam. Nó cũng sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam. Các cam kết về quyền lao động trong FTA bắt nguồn từ Tuyên bố năm 1998 của ILO, bao gồm quyền tự do hội họp và thoả ước tập thể do hai Công ước ILO 87 và 98 đưa ra. Do đó, việc Việt Nam phê chuẩn, kết hợp và thực hiện các công ước ILO này sẽ giúp Việt Nam thực hiện các cam kết lao động theo hiệp định thương mại tự do này, và sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho Việt Nam.
Thứ ba, trong bối cảnh TPP đã chết, Việt Nam đang theo đuổi một hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương với Hoa Kỳ. Không cần phải nói, FTA này sẽ thúc đẩy nền kinh tế của Việt Nam; Tuy nhiên, hiệp định chắc chắn sẽ có các yêu cầu mạnh mẽ về quyền của người lao động ít nhất bằng với những thỏa thuận trong khuôn khổ TPP. Do đó, để có thể bảo đảm một FTA với Hoa Kỳ, việc kết hợp và thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế về tự do hiệp hội và thương lượng tập thể vào hệ thống pháp luật Việt Nam là một phần chuẩn bị quan trọng.
Tóm lại, mặc dù nhu cầu về cải cách về quyền của người lao động đã biến mất với cái chết của TPP, có nhiều lý do để Việt Nam tiếp tục quá trình cải cách thông qua việc phê chuẩn và kết hợp các công ước của ILO về tự do hiệp hội và thương lượng tập thể vào các hệ thống pháp luật của mình. Cải cách này sẽ mang lại ba lợi ích cho Việt Nam.Phạm Trọng Nghĩa(*)
Vũ Quốc Ngữ dịch

Chuyện Trung tướng Võ Văn Liêm cho thấy VN cần cách mạng dân chủ

clip_image002
Chế độ dân chủ pháp trị (rule OF law) có nền tảng luân lý và xây dựng bằng cấu trúc thượng tôn pháp luật, dù tổng thống, thủ tướng, thẩm phán tối cao hay cả một định chế chính quyền như hành pháp... đều phải đứng dưới luật pháp. Bà Tổng thống Phát Cận Huệ ở Nam Hàn phải từ chức và lãnh án tù vì phạm luật, ở Mỹ một nhóm 21 đứa trẻ miệng còn hôi sữa (tuổi từ 9 đến 20) kiện chính quyền liên bang và thắng (http://bit.ly/2vyuq0p), đương kim Tổng thống Mỹ Donald Trump đang bị công tố viên độc lập Robert Mueller điều tra về nghi vấn thông đồng với Nga, cản trở công lý, thủ lợi từ chức vụ (Emoluments Clause) mà điều I (9)(8) của Hiến pháp ngăn cấm, cho thấy trong dân chủ pháp trị không ai có thể đứng trên luật pháp.
Chế độ nhà nước pháp quyền (rule BY law) mà CSVN thường hay khoe khoang cho phép Đảng CSVN đứng TRÊN pháp luật và DÙNG pháp luật như một CÔNG CỤ để phục vụ việc nắm quyền của Đảng. Cho nên nó được áp dụng một cách TUỲ TIỆN, một cách kỳ thị, một cách để bảo vệ giai cấp thống trị, tức đảng viên Đảng CSVN. Nó không có công lý và không phải để thực thi công lý, nó ngụy công lý, được dùng để ru ngủ quần chúng là Đảng CSVN cai trị bằng công lý của luật pháp.
Hôm 14/7/2017 anh trung úy cảnh sát giao thông quận Bình Thủy Nguyễn Văn Thành chặn xe ô tô của Trung tướng Võ Văn Liêm do tài xế lái đang chạy từ hướng sân bay Cần Thơ về quận Ninh Kiều vì quá tốc độ giới hạn 70km/h (tốc độ xe 81km). Tướng Liêm chửi mắng, hăm he, dùng quyền lực để đe dọa Thành và cả vị chỉ huy của Thành. Video thu lại hoạt cảnh cho thấy nhà nước pháp quyền của CSVN là như vậy đó! (http://bit.ly/2vyD8vA)
Ngày 18/7/2017, theo báo Pháp Luật và các báo lề đảng khác, Ủy ban kiểm tra Quân ủy Trung ương đề nghị xử lý kỷ luật trung úy Thành[1] “Ban kiểm tra Quân ủy Trung ương, đơn vị Trung tướng Võ Văn Liêm từng công tác trước khi nghỉ hưu đã có công văn đề nghị Công an TP Cần Thơ xử lý kỷ luật đối với trung úy Nguyễn Văn Thành”. Đây rõ ràng là luật pháp được áp dụng tùy tiện, và đảng viên đứng trên luật giao thông, luật chỉ áp dụng cho dân ngu khu đen, một đám khổng lồ quần chúng bị trị. (http://bit.ly/2uz9UQ4)
Ông Donald Rumsfeld, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời Tổng thống Bush Jr. hồi giữa tháng Bảy năm 2011 khi đi qua phi trường O’Hare của thành phố Chicago bị nhân viên an ninh phi trường TSA mò khám khắp người và ông vẫn tươi cười chấp hành, dù cơ quan TSA này có bàn tay của ông lập ra. Đó là một đặc tính nhỏ của dân chủ pháp trị. (http://dailym.ai/2vyUTey)
Kami trên RFA[2] cho rằng cách mạng dân chủ sẽ xảy ra ở VN là một “nhận định... hoàn toàn thiếu cơ sở nếu không nói là hoang tưởng” vì không có lãnh đạo như bà Aung San Suu Kyi và tổ chức đối lập quy mô như Liên minh Dân chủ Toàn quốc của bà ở Miến Điện. Nhận xét của Kami có phần đúng nhưng không thể phổ quát áp dụng, mỗi nước có những đặc thù, và ngay cả để qua một bên những đặc thù thì nó cũng không thể là công thức, vì nhìn Liên Xô và Đông Âu, tại sao các nước này đổ như dominos dù nhiều nước không có các yếu tố như Kami chỉ ra? (http://bit.ly/2vyAupD)
Các chế độ độc tài, nhất là độc tài toàn diện, nó như một cành cây khô, tuy cứng nhưng giòn. Khi chưa gãy thì tưởng chừng nó rất rắn chắc, nhưng khi gãy thì nó gãy rất nhanh. Khi khối CS Liên Xô chưa sụp đổ thì ai cũng thấy nó là thành đồng vách sắt, có ngày nó sẽ nhuộm đỏ cả quả địa cầu, nhưng khi sụp đổ thì nó sụp rất nhanh và hàng loạt.
Phong trào cách mạng mùa Xuân 2011 đưa đến sự sụp đổ của nhiều chế độ độc tài, và điểm nổi bật là nó không có các yếu tố như Kami chỉ ra là lãnh tụ tầm cỡ và đối lực tương xứng. Cái mà Kami muốn hướng tới là những thứ mà phía dân chủ VN không có hay chưa có, để Kami dẹp tan ý định cách mạng dân chủ, bảo vệ chế độ hiện hành.
Lãnh tụ là do tranh đấu mà ra, và có tranh đấu là có lãnh tụ, lãnh tụ thì cần nhưng nó không phải là yếu tố quyết định cho cách mạng dân chủ xảy ra.
Đối lực tương xứng cũng vậy, nếu có chính nghĩa, có tranh đấu thì đối lực tương xứng qua đêm có thể vươn vai Phù Đổng. Đảng Tiến Bước của Tổng Thống Macron chỉ lập ra hơn một năm nhưng hiện nay đang thống trị nước Pháp.
Hơn nữa, trong tranh đấu không phải mạnh về sức thì đương nhiên thắng, như chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn có đề cập về vấn đề này, ngoài sức mạnh nó còn có quan năng biến cải, và sự hợp quần. Dân gian có câu “mạnh dùng sức, yếu dùng mưu” và trong truyện “David vs Goliath” thì thần khổng lồ Goliath cũng bị người trẻ David bắn hạ. Trong chiến tranh, nước yếu không dại gì đối đầu trực diện mà phải dùng chiến tranh bất cân xứng.
Kami chỉ ra những điều mà phía dân chủ không thể nào làm được trong một chế độ độc tài toàn diện và sính bạo lực như CSVN, trong khi cái yếu tố thực sự để xảy ra cách mạng dân chủ thì Kami lại né đi - đó là sự tức nước vỡ bờ của lòng dân. Khi mà sự tích lũy các mâu thuẫn xã hội qua nhiều năm, khi mà ý chí phản loạn của dân chúng cứ tăng dần rồi vượt qua giới hạn của cái trật tự có thể chịu đựng được, khi mà ý dân đã ngùn ngụt lên cao để trở thành ý trời, đó là lúc cách mạng dân chủ xảy ra.
Vấn đề còn lại là D-Day cho cách mạng, khi mà các tinh tú đã di chuyển thẳng hàng, đi vào đội hình và nhịp nhàng trong một vũ điệu. Nó không phải là bó 100 mũi tên lại với nhau thành một tổ chức, vì sẽ không thực tế và không bắn được ai, nó là một vũ khúc mừng xuân mà trong đó 100 mũi tên từ những vị trí riêng để cùng hướng về một điểm - sự đứng lên của quần chúng để thay đổi chế độ qua dân chủ pháp trị.
Vai trò của trí thức sẽ rất là quan trọng trong tiến trình này để dẫn dắt quần chúng đi đến bến bờ quang vinh. Sự dấn thân nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của trí thức để thay đổi vận mạng dân tộc đòi hỏi nơi họ sự can đảm, không trùm chăn để đưa dân tộc ra khỏi sự lạc lối trong khu rừng già. Có lẽ vì vậy mà trong những tuần qua CSVN tìm cách mạt sát thậm tệ GS Ngô Bảo Châu[3], dù GS Châu chỉ phát biểu những lời lẽ nhẹ nhàng để bênh vực Mẹ Nấm hay cho rằng “Có quý mến ai thì mong họ thoát khỏi vòng luân hồi, đừng bắt họ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.
Chúng ta hãy giữ vững niềm tin và hy vọng cho một ngày mai tươi sáng, đất nước qua cơn mê cộng sản, dân tộc vượt qua bất hạnh để sánh vai cùng những dân tộc mạnh khác tranh đua trên trường thế giới.Lê Minh Nguyên

Một thế kỷ thăng trầm của chủ nghĩa cộng sản


clip_image002
Một trăm năm sau Cách mạng Tháng Mười Nga, liệu phượng hoàng có vươn lên từ đống tro tàn của lịch sử?
“Ura! Ura! Ura!”[1] Tôi vẫn nhớ rất rõ âm thanh ấy, khi những người lính nghiêm trang trong quân phục xám đến chào chỉ huy của họ: “Chúc mừng kỷ niệm 70 năm Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa Tháng Mười Vĩ đại!”
Năm 1987, khi còn là một sinh viên trao đổi ở Moskva, trong một sáng tháng 11 hanh khô, tôi đã đến Đường Gorky để xem một đoàn binh diễu hành đến Quảng trường Đỏ. Các quan chức cấp cao của Liên Xô và nước ngoài ngồi trên khán đài chủ trì buổi lễ trong khi những người lính trẻ tỏ lòng tôn kính của họ trước Lăng Lenin. Màn diễu binh ấn tượng này là nhằm thể hiện sức mạnh cách mạng lâu dài của chủ nghĩa cộng sản và phạm vi toàn cầu của nó.
Nhà lãnh đạo Liên Xô, Mikhail Gorbachev, đã nói về một phong trào được hồi sinh bởi các giá trị của năm 1917 trước một nhóm các nhà lãnh đạo cánh tả, trong đó có cả Oliver Tambo từ Đại hội Dân tộc Phi (African National Congress – ANC), và Yasir Arafat từ Tổ chức Giải phóng Palestine (Palestine Liberation Organisation – PLO). Trên những biểu ngữ là lời tuyên bố của nhà thơ Vladimir Mayakovsky, “Lenin đã sống, Lenin đang sống, Lenin sẽ sống mãi!”
Tuyên bố này không thực sự thuyết phục. Những khó khăn kinh tế của Liên Xô đã trở nên rõ ràng với tất cả mọi người, đặc biệt là các sinh viên Liên Xô bạn của tôi, những người phải phụ thuộc vào nguồn thực phẩm hạn hẹp do trường đại học cung cấp. Dù vậy, chế độ dường như vẫn rất vững chắc, hệt như phiến đá cẩm thạch ở Lăng Lenin. Giống như hầu hết các nhà quan sát, tôi chẳng dám tin rằng chỉ trong vòng hai năm, chế độ cộng sản sẽ sụp đổ, và trong vòng bốn năm, Liên Xô cũng sẽ tan rã.
Ngay sau đó, những quan điểm phổ biến về năm 1917 đã thay đổi hoàn toàn: Thị trường tự do dường như là tự nhiên và không thể tránh khỏi, trong khi chủ nghĩa cộng sản dường như đã bị đem bỏ vào “thùng rác lịch sử” như lời Leon Trotsky. Trật tự tự do toàn cầu hóa có thể sẽ phải đối mặt với những thách thức mới, nhưng chúng sẽ đến từ chủ nghĩa Hồi giáo hay Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước Trung Quốc, chứ không phải từ chủ nghĩa Marx đã mất uy tín.
Ngày nay, khi chúng ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Hai – phần mở màn trước cuộc đảo chính của Đảng Bolshevik dưới sự lãnh đạo của Lenin vào Tháng Mười Một – lịch sử đã quay trở lại. Trung Quốc và Nga đã dùng các biểu tượng của di sản cộng sản để củng cố chủ nghĩa dân tộc chống tự do. Còn ở phương Tây, niềm tin vào chủ nghĩa tư bản thị trường tự do vẫn chưa thể hồi phục sau khủng hoảng tài chính năm 2008, và các lực lượng cực hữu và các nhà hoạt động cánh tả đang cạnh tranh để thu phục người dân. Sức mạnh bất ngờ của ứng viên độc lập theo đường hướng xã hội chủ nghĩa Bernie Sanders trong cuộc bầu cử của Đảng Dân chủ vào năm ngoái ở Mỹ, và thắng lợi bầu cử của Đảng Podemos mới, do một cựu thành viên cộng sản dẫn đầu tại Tây Ban Nha, là dấu hiệu cho sự hồi sinh từ gốc rễ của cánh tả. Năm 2015, tại Anh, tác phẩm kinh điển mà Marx và Engels viết năm 1848, “Tuyên ngôn Cộng sản,” đã trở thành một cuốn best seller.
Liệu rằng tôi đã chứng kiến thời khắc huy hoàng cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản vào ngày hôm ấy ở Moskva, hay là một chủ nghĩa cộng sản được định hình lại cho thế kỷ 21 đang sắp ra đời?
Những gợi ý về câu trả lời ẩn trong thiên sử thi phức tạp và dài cả thế kỷ này của chủ nghĩa cộng sản – một câu chuyện đầy những bước khởi đầu sai lầm, những lúc cận kề cái chết và những lần hồi sinh chẳng hề mong đợi.
Hãy xem lại cuộc đời của Semyon Kanatchikov. Là con trai của một nông nô, ông rời vùng quê đói nghèo để làm công nhân trong nhà máy và đến với những rực rỡ của sự hiện đại. Năng động và hòa đồng, Kanatchikov đã mong muốn cải thiện bản thân và đã dùng cuốn sách The Self-Teacher of Dance and Good Manners[2] (tạm dịch: Tự học Nhảy và Phép lịch sự) làm hướng dẫn cho mình. Khi đến Moskva, ông gia nhập một nhóm thảo luận về chủ nghĩa xã hội, và sau cùng đã gia nhập Đảng Bolshevik.
Trải nghiệm của Kanatchikov đã giúp ông tiếp thu những ý tưởng cách mạng: một nhận thức sâu sắc về khoảng cách người giàu và người nghèo, một ý thức rằng trật tự cũ đang cản ngăn sự trỗi dậy của trật tự mới, và mối hận thù với chế độ chuyên quyền. Những người cộng sản đã đưa ra các giải pháp rõ ràng và thuyết phục. Không giống như các nhà tự do, họ ủng hộ sự bình đẳng về kinh tế; nhưng khác với các nhà vô chính phủ, họ ủng hộ công nghiệp hiện đại và kế hoạch hóa của nhà nước; và ngược hoàn toàn với các nhà xã hội chủ nghĩa trung dung, họ lập luận rằng thay đổi phải được thực hiện bằng đấu tranh giai cấp cách mạng.
Thực tế, những lý tưởng này rất khó kết hợp. Một nhà nước toàn quyền có xu hướng bóp nghẹt sự tăng trưởng, trong khi lại nâng cao các tầng lớp tinh hoa mới, và đi kèm với bạo lực cách mạng là việc thường xuyên săn tìm “kẻ thù”. Bản thân Kanatchikov cũng trở thành nạn nhân. Sau cách mạng, ông được bổ nhiệm vào nhiều vị trí cấp cao, nhưng do mối liên hệ với đối thủ của Stalin, Trotsky, nên vào năm 1926, Kanatchikov đã bị hạ bệ.
Tính đến thời điểm đó, tương lai của chủ nghĩa cộng sản đã vô cùng tồi tệ. Những ngọn lửa đầu tiên của cách mạng ở Trung Âu thời hậu Thế chiến I đã bị dập tắt. Liên Xô tự thấy mình bị cô lập, còn đảng cộng sản ở những nơi khác đều rất nhỏ bé và đang bị bao vây. Sự hiện đại của người Mỹ trong Thập niên Ầm ĩ (Roaring Twenties, chỉ những năm 1920) chắc chắn là ở chủ nghĩa tiêu dùng, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản.
Nhưng những sai lầm của kinh tế tự do đã cứu vớt phe cộng sản. Sự sụp đổ của Phố Wall vào năm 1929 và sau đó là Đại Suy thoái đã biến những ý tưởng xã hội chủ nghĩa về sự bình đẳng và kế hoạch hóa của nhà nước trở thành lựa chọn thay thế hấp dẫn cho bàn tay vô hình của thị trường. Quân đội cộng sản cũng nổi lên như một trong số ít các lực lượng chính trị chống lại mối đe dọa của chủ nghĩa phát xít.
Ngay cả ở những nơi chẳng phải đất hứa với chủ nghĩa cộng sản như Mỹ, vốn thù ghét chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa xã hội vô thần, cũng đã trở thành mảnh đất màu mỡ. Được hỗ trợ bởi việc Moskva bỏ học thuyết đảng phái và chuyển sang ủng hộ các “mặt trận bình dân” (popular front) vào năm 1935, những người cộng sản Mỹ đã tìm được điểm chung với những người cánh tả trung dung chống chủ nghĩa phát xít. Al Richmond, một nhà báo New York của tờ The Daily Worker, nhớ lại niềm lạc quan mới ấy khi ông và các đồng nghiệp dành cả buổi tối ở một nhà hàng Ý để uống rượu chúc mừng, “vì một cuộc sống như những ngày xưa cũ, vì kỷ nguyên ấy, vì những điềm xấu và những hy vọng của nó, và tin tưởng vào nhịp điệu của thời đại này, bởi trong đó ta đã nghe thấy nhịp điệu của chính mình”.
Niềm lạc quan ấy đã được chia sẻ bởi một nhóm nhất định. Là nạn nhân trong cuộc thanh trừng của Stalin, Semyon Kanatchikov đã qua đời vào năm 1940.
Nhiều người sẵn sàng bỏ qua hành động khủng bố của Stalin vì lợi ích của sự thống nhất chống phát xít. Nhưng sự xuất hiện lần thứ hai của chủ nghĩa cộng sản vào cuối những năm 1930 và đầu những năm 1940 đã chẳng thể kéo dài sau thất bại của chủ nghĩa phát xít. Khi Chiến tranh Lạnh dần trở nên căng thẳng, hình ảnh chủ nghĩa cộng sản gắn với một đế quốc Liên Xô ở Đông Âu đã ảnh hưởng tiêu cực đến tuyên bố trở thành người giải phóng của nó. Ở Tây Âu, một chủ nghĩa tư bản được cải cách, được điều tiết, và được khuyến khích bởi Mỹ, đã đem đến mức sống và phúc lợi cao hơn. Nền kinh tế chỉ huy vốn hữu dụng trong thời chiến nay lại kém hiệu quả với thời bình.
Nhưng trong khi chủ nghĩa cộng sản đang suy tàn ở phương Bắc, nó lại dần mở rộng ở phương Nam. Ở đó, những lời hứa của chủ nghĩa cộng sản về sự hiện đại hóa nhanh chóng do nhà nước lãnh đạo đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà dân tộc chủ nghĩa chống thực dân. Ở đây một làn sóng đỏ thứ ba đã mở rộng, nó nổ ra ở Đông Á vào thập niên 1940, sau đó lan dần sang các nước phương Nam hậu thuộc địa từ cuối thập niên 1960.
Đối với Geng Changsuo, một người Trung Quốc đến thăm trang trại tập thể kiểu mẫu ở Ukraine vào năm 1952 – ba năm sau khi các du kích cộng sản của Mao Trạch Đông tiến vào Bắc Kinh – di sản năm 1917 vẫn còn rất mạnh mẽ. Là nhà lãnh đạo nông dân khôn ngoan đến từ Wugong, một ngôi làng cách Bắc Kinh khoảng 120 dặm về phía nam, ông đã được biến đổi nhờ chuyến đi của mình. Trở về nhà, ông cạo sạch râu ria, mặc quần áo Tây phương và truyền bá về tập thể hóa nông nghiệp và chiếc máy kéo thần kỳ.
Nước Trung Quốc cách mạng chỉ làm củng cố quyết tâm của Washington nhằm kiềm chế chủ nghĩa cộng sản. Nhưng khi Mỹ đặt chân vào cuộc chiến thảm khốc ở Việt Nam, một thế hệ mới các nhà Marxist dân tộc chủ nghĩa đã xuất hiện ở phương Nam, tấn công “chủ nghĩa tân đế quốc” mà họ tin rằng những nhà xã hội chủ nghĩa đi trước họ đã dung thứ. Năm 1966, Hội nghị Ba Lục địa (Tricontinental Conference) do Cuba tài trợ và bao gồm các nhà xã hội chủ nghĩa ở châu Phi, Mỹ Latinh và châu Á đã đem đến một làn sóng cách mạng mới. Đến thời điểm năm 1980, các nước theo chủ nghĩa Marx-Lenin đã kéo dài từ Afghanistan đến Angola, từ Nam Yemen đến Somali.
Phương Tây cũng chứng kiến sự hồi sinh của chủ nghĩa Marx trong những năm 1960, nhưng những sinh viên cấp tiến của phong trào này cuối cùng lại theo đuổi quyền tự trị cá nhân, dân chủ trong cuộc sống hàng ngày và chủ nghĩa đại đồng (cosmopolitanism) hơn là các nguyên tắc của chủ nghĩa Lenin, đấu tranh giai cấp và quyền lực nhà nước. Sự nghiệp của chàng sinh viên cấp tiến người Đức, Joschka Fischer, là một ví dụ nổi bật. Là một thành viên của tổ chức Đấu tranh Cách mạng (Revolutionary Struggle), ông đã cố gắng kích động một cuộc nổi dậy cộng sản của các công nhân ngành ô tô vào năm 1971, sau đó Fischer lại trở thành lãnh đạo Đảng Xanh của Đức.
Sự nổi lên từ cuối những năm 1970 của một trật tự do Mỹ dẫn đầu, thống trị bởi thị trường toàn cầu, theo sau là sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Liên Xô vào cuối những năm 1980, đã gây ra khủng hoảng cho những người cấp tiến ở khắp nơi. Fischer, giống như nhiều sinh viên khác ở thập niên 1960, đã thích nghi với thế giới mới: với tư cách là Ngoại trưởng Đức, ông đã ủng hộ chiến dịch không kích của Mỹ vào Kosovo hồi năm 1999 (nhằm chống lại lực lượng của cựu lãnh đạo cộng sản của Serbia, Slobodan Milosevic), và ông còn ủng hộ những cắt giảm phúc lợi của Đức vào năm 2003.
Ở phương Nam, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã ép buộc các cải cách thị trường lên các nước hậu cộng sản, và một số cựu lãnh đạo cộng sản đã hăng hái chuyển đổi sang chủ nghĩa tân tự do. Hiện chỉ còn tồn tại một số ít các quốc gia cộng sản trên danh nghĩa: Triều Tiên và Cuba, và những nước đậm chất tư bản hơn là Trung Quốc, Việt Nam và Lào.
Ngày nay, hơn một phần tư thế kỷ sau khi Liên Xô tan rã, liệu chúng ta có được chứng kiến lần hồi sinh thứ tư của chủ nghĩa cộng sản?
Có một trở ngại lớn là thế giới hậu thập niên 1960 đã bị chia rẽ giữa một bên là những người cánh tả cũ vốn ưu tiên cho bình đẳng kinh tế với những người thừa kế Fischer, những người nhấn mạnh các giá trị quốc tế, chính trị giới tính và đa văn hóa. Hơn nữa, việc thúc đẩy lợi ích của những người thiệt thòi trên quy mô toàn cầu gần như là một nhiệm vụ bất khả thi. Khủng hoảng năm 2008 chỉ làm gia tăng tình thế tiến thoái lưỡng nan của cánh tả, tạo cơ hội cho những nhà dân tộc chủ nghĩa cực đoan như Donald J. Trump và Marine Le Pen khai thác sự tức giận trước tình trạng bất bình đẳng kinh tế ở phương Bắc.
Chúng ta chỉ mới ở đầu một giai đoạn của những thay đổi lớn về kinh tế và bất ổn xã hội. Khi một chủ nghĩa tư bản, với công nghệ cao, nhưng lại không bình đẳng, thất bại trong việc cung cấp đủ số việc làm với mức lương chấp nhận được, thì giới trẻ có thể sẽ áp dụng một chương trình nghị sự kinh tế cấp tiến hơn. Khi ấy, một cánh tả mới có thể thành công trong việc thống nhất những người thua cuộc, cả giới trí thức và công nhân, đi theo một trật tự kinh tế mới. Chúng ta đang nhìn thấy nhu cầu về một nhà nước tái phân phối thu nhập nhiều hơn. Những ý tưởng như thu nhập cơ bản phổ quát, mà Hà Lan và Phần Lan đang thử nghiệm, là rất gần với tầm nhìn của Marx về khả năng của chế độ cộng sản trong việc đáp ứng nhu cầu của mọi người – “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.
Đã là một chặng đường dài từ Quảng trường Đỏ ở Moskva vào năm 1987, thậm chí xa hơn nữa là từ Cung điện Mùa đông ở Petrograd năm 1917. Sẽ không có sự quay lại của chủ nghĩa cộng sản kiểu kế hoạch năm năm và những trại cải tạo lao động (gulag). Tuy nhiên, nếu có một điều mà lịch sử hỗn loạn này đã dạy chúng ta, thì đó là “tiếng hô ura cuối cùng” có thể chỉ là ảo tưởng, cũng giống như sự “cáo chung của ý thức hệ” được tiên đoán vào những năm 1950, hay sự “cáo chung của lịch sử” mà Francis Fukuyama đưa ra năm 1989.
Lenin không còn nữa, chủ nghĩa cộng sản cũ có thể đã chết, nhưng cảm giác bất công khởi nguồn cho nó thì vẫn còn sống rất mạnh mẽ!David Priestland(*)
Nguyễn Thị Kim Phụng biên dịch
Lê Hồng Hiệp biên tập

No comments:

Post a Comment