Wednesday, July 19, 2017

Bài viết hay(5195)

Thẳng thắn mà nói thì ở Mỹ, VN hay bất cứ nơi nào cũng khó có công bằng, minh bạch nên tui cũng đồng ý với anh tư bản đỏ là ngay trong sở tui cũng chưa có công bằng, minh bạch kia mà. Tuyển dụng vẫn ưu tiên cho bà con quen biết hay phe phái. Chẳng hạn, rệp ưu tiên cho rệp, Ấn và Tàu cũng "tổ sư" hơn ai hết; trừ VN thì ít khi nào giúp đỡ lẫn nhau bởi đứa nào cũng lo "thủ" cho kỹ chứ ngu gì mà giúp ai khác. Trong sở tui có 3 phe mạnh nhất là rệp, Ấn và Tàu nên từ trên xuống dưới đều bị thao túng bởi 3 phe này. Dĩ nhiên Mỹ trắng tuy là thiểu số nhưng bao giờ cũng ở trên hết nắm quyền quyết định. Cái miệng luôn đỡ tay chân nên đứa nào biết bullshit thì sẽ ngoi lên ngay chứ giỏi mà không biết "thượng đội, hạ đạp" thì còn khuya mới thăng tiến. Ở đâu cũng vậy thôi nhưng ở Mỹ dù sao cũng còn luật pháp và báo chí để kiềm chế bớt những lạm quyền, bất công. Bởi vậy đệ tứ quyền mới được coi trọng chứ Trump lộng quyền như Cả Lú thì bỏ mẹ cho dù ở Mỹ cũng không thiếu gì nhà báo nói láo ăn tiền. Lắm đứa có bằng cấp hẳn hoi còn ham hố viết nhăng viết cuội nữa kia mà. Thực tình mà nói thì Mỹ cũng có tất cả những gì mà nước nào cũng có.

Những Nghịch lý và Ngộ nhận về Việt Nam

…lịch sử Việt Nam có nhiều nghịch lý và uẩn khúc bất thường. Làm thế nào người Việt Nam có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc, mà không để các nước lớn lợi dụng biến mình thành quân cờ của họ trong bàn cờ nước lớn?
“Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ, nhưng chúng ta có thể sắp xếp lại tương lai” (“We cannot change the past, but we can reshape the future”) - Dalai Lama
Chiến tranh Việt Nam đã đi vào lịch sử lâu rồi. Đã 42 năm kể từ khi cuộc chiến đó chấm dứt, nhưng người ta vẫn còn tranh luận về Chiến tranh Việt Nam (hay còn gọi là cuộc “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai”). Tại sao “bóng ma Việt Nam” đến giờ vẫn còn ám ảnh người Mỹ và người Việt, nhất là thế hệ những người đã trực tiếp dính líu vào Việt Nam, dù là quân nhân hay dân sự và nhà báo. Tại sao người ta vẫn tiếp tục viết sách và làm phim về Việt Nam? Phải chăng vì Chiến tranh Việt Nam có quá nhiều nghịch lý và ngộ nhận?

Hệ quả chiến tranh

Chiến tranh Việt Nam đã làm 58.000 người Mỹ và hàng triệu người Việt (cả hai phía) bị thiệt mạng, và làm cho hai quốc gia bị tổn thất nặng nề và chia rẽ sâu sắc. Sau chiến tranh, hầu hết các trường hợp người Mỹ mất tích (MIA) đã được kiểm chứng, nhưng hàng vạn người Việt mất tích (cả hai phía) vẫn chưa được kiểm chứng. Ngay lúc này, tại khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, người ta vẫn đang tìm kiếm mộ tập thể của hàng trăm liệt sỹ thiệt mạng trong “Tết Mậu Thân” (1968) mà đến nay vẫn coi như “mất tích”. Người ta vẫn đang phải chi nhiều triệu USD để rà soát bom mìn và tẩy độc dioxin tại nhiều nơi ở Việt Nam.
Ngoài 257 nhà báo quốc tế sống sót sau Chiến tranh Việt Nam, tham gia câu lạc bộ “Vietnam Old Hacks”, 73 đồng nghiệp xấu số của họ bị mất tích trong chiến tranh, đến nay vẫn chưa được kiểm chứng. Sau nhiều năm tìm kiếm vô vọng, phóng viên ảnh Tim Page và thân hữu vẫn chưa chịu bỏ cuộc, tuy Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam vẫn chưa làm gì để giúp họ tìm kiếm. Trong khi những người Mỹ mất tích trong chiến tranh đã được kiểm chứng, tại sao các nhà báo quốc tế mất tích trong chiến tranh lại bị Mỹ và Việt Nam “bỏ quên”? Thật là bất công và bất nhẫn khi số phận người sống lẫn người chết vẫn chưa hóa giải.
Trong bộ phim tài liệu mới “The Vietnam War” (gồm 10 tập, dài 18 giờ, sẽ chiếu trên PBS từ 17/9/2017) Ken Burns và Lynn Novick đã chọn cựu binh Mỹ John Musgrave để nói lên một sự thật đau lòng (ngay từ đầu bộ phim): “Có lẽ chúng tôi là những đứa trẻ cuối cùng của một thế hệ tin rằng chính phủ của mình không bao giờ nói dối chúng tôi” (We were probably the last kids of any generation that actually believed our government would never lie to us). Câu nói đó chắc sẽ ám ảnh khán giả, và tiếp tục ám ảnh người Mỹ và Việt Nam.
Bộ phim “The Vietnam War” làm tôi nhớ lại một kỷ niệm vào năm 1985 khi chúng tôi đứng trên đỉnh đèo Hải Vân nhìn xuống bãi biển Non Nước (còn gọi là “China Beach”). Thomas Vallely (một cựu binh ở Massachusetts) đứng trước ống kính máy quay phim để làm một “stand-up” giữa trời nắng chang chang, đã phải lặp lại nhiều lần một câu nói làm tôi bị ám ảnh, nên đã thuộc đến tận bây giờ: “Hai mươi năm trước tôi đã đổ bộ vào Đà Nẵng khi còn là một thanh niên 19 tuổi. Chính tại Việt Nam tôi đã hiểu về cuộc chiến tranh, về bản thân, và về đất nước của mình… Chúng ta không nên đưa thanh niên vào chỗ chết, chỉ vì lòng tự hào của mấy ông già”. (Twenty years ago, I landed here in Da Nang as a nineteen years old. It was here in Vietnam that I had learned about the War, about myself and about my country… We should not be in the businees of sending young men to die for the old men’s pride).
Lịch sử thường lặp lại với nhiều nghịch lý. Nước Mỹ đã lặp lại một sai lầm mà tướng Omar Bradley đã từng cảnh báo (15/5/1951): Chiến tranh Việt Nam đã trở thành “một cuộc chiến sai lầm, tại một địa điểm sai, vào một thời điểm sai, và chống một kẻ thù sai” (The wrong war, in the wrong place, at the wrong time, and with the wrong enemy). Tại sao một chính quyền có nhiều người tài giỏi như vậy, mà vẫn mắc sai lầm? Phải chăng là do “ngạo mạn về quyền lực”, nên họ đã ngộ nhận về “quyền năng tuyệt đối”? Phải chăng do cực đoan và tự phụ nên họ không chịu lắng nghe lời khuyên, mà còn lừa dối Quốc hội và Nhân dân.

Tại sao Việt Nam

Năm 1990, tôi có dịp gặp ông Archimedes Patti tại Bangkok trong khi ông ấy chờ máy bay đi Việt Nam để dự kỷ niệm sinh nhật cụ Hồ. Ông đã ký tặng tôi cuốn sách “Tại sao Việt Nam” (“Why Vietnam: Prelude to America’s Albatross”, University of California Press, 1980) và kể lại nhiều kỷ niệm với cụ Hồ và OSS. Tuy ông Patti và cuốn sách đã đi vào lịch sử, nhưng câu hỏi Why Vietnam vẫn còn ám ảnh nhiều người Mỹ và người Việt Nam.
Khi tôi hỏi ông Patti là người Mỹ có đọc cuốn sách của ông không, ông buồn rầu trả lời là rất ít người đọc. Mãi sau này người ta mới đưa nó vào danh mục sách tham khảo của các trường đại học. Trong một lần trả lời phỏng vấn (1981), ông Patti nói: “Theo tôi, chiến tranh Việt Nam là một sự lãng phí khồng lồ. Trước hết, nó không cần phải xảy ra. Hoàn toàn không. Không đáng tí nào cả. Trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam, không ai đến gặp tôi để tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra năm 1945 hoặc 1944. Trong suốt những năm tôi làm việc ở Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng, không một ai có quyền hành đến gặp tôi cả…”
Năm 1995, nhân kỷ niệm 20 năm kết thúc chiến tranh, ông Robert McNamara đã Việt cuốn sách “Hồi tưởng: Bi kịch và Bài học Việt Nam” (Robert McNamara, “In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam”, Vintage books, 1995). Cuối cùng ông McNamara đã thừa nhận sai lầm. Nhiều người đặt câu hỏi tại sao một người thông minh tài giỏi như vậy, phải mất tới 20 năm mới nhận ra hay thừa nhận sai lầm. Phải chăng nghịch lý quá khó để nhận ra, hay sai lầm quá lớn để thừa nhận? Trong khi sử gia Arthur Schlesinger khen ngợi ông McNamara là dũng cảm và chân thành thừa nhận sai lầm, thì nhiều người khác lại cho rằng ông McNamara thừa nhận sai lầm quá chậm trễ như vậy là thiếu tử tế (indecent). Những người trong cuộc phải hiểu cái giá của sự chậm trễ trước mỗi bước ngoặt của lịch sử. Theo Đại tá Andre Sauvageot, “Đáng lẽ Tổng thống Nixon phải rút quân khỏi Việt Nam sớm hơn…”
Năm 1997, ông H.R. McMaster đã viết cuốn “Bỏ rơi Nhiệm vụ” (H.R. McMaster, “Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs, and the Lies that led to the War”, Harper, 1997). Đó là nhận xét thẳng thắn của một sỹ quan dũng cảm dám nói ra sự thật, dù là sự thật đau lòng. Chắc lúc đó ông McMaster không biết rằng sau này mình sẽ trở thành Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia. Liệu ông có thể làm gì để sửa chữa sai lầm khi có cơ hội, vì sau Việt Nam, Chính quyền Mỹ tiếp tục nói dối và mắc sai lầm tại Iraq.
Trong cuốn sách đó, McMaster đã nói rõ không chỉ có Chính quyền Johnson lừa dối Quốc hội trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ, mà các tướng lĩnh cầm đầu cũng tham gia sự “đồng thuận dối trá” (Contriving consensus). Tướng Earle Wheeler và các tham mưu trưởng liên quân, được gọi là “năm người đàn ông im lặng” (five silent men) đã giúp Tổng thống lừa dối Quốc hội, leo thang chiến tranh tại Việt Nam, bằng gia tăng ném bom và tăng quân để gây sức ép (graduated pressure). McMaster gọi đó là “bãi lầy dối trá” (quicksand of lies).
Nhà báo Peter Arnett (CNN) gọi đó là “sự bất tài, dối trá, và ngạo mạn của những quan chức Mỹ cao cấp nhất” (the ineptness, duplicity and arrogance among the most senior officials of the US). Còn nhà báo Joe Galloway (US News & World Reports) đã nhận xét: “Những người có quyền lực và trách nhiệm đã gây ra thảm họa chiến tranh và để lại dấu vết khắp nơi… McMaster đã làm sáng tỏ hơn và biết rõ hơn về ‘những người tài giỏi và thông minh nhất’ đã dùng dối trá và bí mật để che đậy cho họ như thế nào, nhằm khuynh đảo và thao túng đất nước này, xô đẩy Mỹ trượt theo con đường chiến tranh và thất bại cay đắng” (men of power and responsibility caused that disastrous war and left their fingerprints all over it. He sheds fresh light and understanding on how ‘the best and the brightest’ shielded by lies and top secret, maneuvered and manipulated our country down the road to war and bitter defeat).

Bất đồng chính kiến

Khác với Robert McNamara (cựu Bộ trưởng Quốc phòng) và McGeorge Bundy (cựu Cố vấn An ninh Quốc gia), George Ball (cựu Thứ trưởng Ngoại giao, 1961-1966) lúc đó đã nhận ra sai lầm và cố khuyên can Tổng thống Kennedy và Johnson đừng can thiệp vào Việt Nam: “Tôi nhìn thấy trước một cuộc phiêu lưu rất nguy hiểm… Chúng ta sẽ sa vào một cuộc xung đột kéo dài, còn nguy hiểm hơn cả Triều Tiên”. Trong số những nhân vật mà David Hamberstam gọi là the Best and the Brightest trong Chính quyền Kennedy, George Ball là thiểu số đơn độc giữa sự đồng thuận ngạo mạn và tự phụ về quyền lực. Tuy lập luận của George Ball rất thuyết phục, nhưng họ không buồn nghe, nên ông đã từ chức (năm 1966).
George Ball là một nhân vật đóng vai phản biện (devil’s advocate) có uy tín trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ trong thập niên 1960. Ông đã cố thuyết phục Tổng thống Kennedy đừng gửi quân sang Việt Nam và đã cảnh báo từ rất sớm là cuối cùng Mỹ phải đưa tới đó hàng trăm ngàn quân: “Việt Nam như một cái vòng luẩn quẩn với những khe sâu và bãi lầy khó thoát” (Vietnamese detour with its deep ruts and treacherous quicksands). Ông dự đoán chiến tranh sẽ kéo dài, quân Mỹ sẽ mắc kẹt vào một cuộc chiến tranh trong rừng rậm, Trung Cộng sẽ can thiệp, sự ủng hộ của dân chúng Mỹ sẽ mất dần khi thương vong tăng lên, dư luận quốc tế sẽ phản đối chiến tranh, và cuối cùng Mỹ sẽ thất bại.
Ngay từ đầu thập niên 1960, George Ball đã nhấn mạnh giá trị của ngoại giao, và khuyến nghị “rút quân chiến thuật” để tránh thảm họa. Ông kêu gọi ngừng bắn, có ủy ban quốc tế giám sát, tiếp theo là bầu cử tại Miền Nam, cho Việt Cộng tham gia, tiến tới thống nhất Việt Nam. Ông khuyến nghị tìm kiếm một giải pháp ngoại giao, vì nếu thiếu thì Mỹ sẽ khó tránh được thảm họa, dẫn tới thất bại nhục nhã. Lịch sử đã chứng minh George Ball có tầm nhìn sáng suốt, tuy lúc đầu ông không phản đối quyết liệt. Chính ông George Ball và TNS William Fulbright đã ủng hộ “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” (mà George Ball cùng soạn thảo).
Nhưng có lẽ chính họ cũng đã bị lừa dối. Sau đó, George Ball ngày càng bất đồng chính kiến, với những khuyến nghị ngày càng quyết liệt. TNS Fulbright đã viết cuốn “Sự Ngạo mạn của Quyền lực” (William Fulbright, “The Arrogance of Power”, Random House, 1966). Ông cho rằng khi “quyền lực bị lẫn lộn với đạo đức thì nó thường bị ngộ ngận là quyền năng tuyệt đối” (omnipotence). Ông lập luận “trong một nền dân chủ, bất đồng chính kiến là từ lòng tin, giống như tin vào thuốc chữa bệnh, mà giá trị của nó không phải vị đắng ta nếm, mà là công hiệu của thuốc”. Không phải chỉ có George Ball và William Fulbright bất đồng chính kiến, mà còn một số người khác như TNS Earnest Gruening và TNS Wayne Morse, là hai người dũng cảm trong Thượng viện đã bỏ phiếu chống “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” (1964). Sau TNS Fulbright, TNS Gruening đã viết cuốn Vietnam Folly, làm thay đổi nhận thức nhiều người Mỹ về Chiến tranh Việt Nam (Earnest Gruening, “Vietnam Folly”, National Press, 1968).

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ

Ngày 2/8/1964, ba tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công tàu khu trục USS Maddox trong Vịnh Bắc Bộ (cuộc “tấn công lần thứ nhất”). Hai ngày sau (4/8/1964) tàu USS Maddox và USS Tuner Joy tiếp tục tuần tra trinh sát tại Vịnh Bắc Bộ. Trong đêm tối mịt mù, sóng to gió lớn làm mất tầm nhìn, thủy thủ hai tàu phát hiện trên màn hình radar những đốm sáng và hơn 20 vật thể di chuyển giống ngư lôi của đối phương, nên tàu phải tăng tốc để tránh, thả thủy lôi và bắn trả 650 quả pháo xuống biển (tưởng là cuộc “tấn công lần thứ hai”).
Nhưng sau đó, họ không tìm thấy dấu vết ngư lôi hay tàu của đối phương bị phá hủy hay tháo chạy trước hỏa lực cực mạnh của hai tàu Mỹ. Trong vòng mấy giờ sau đó, thuyền trưởng tàu USS Maddox John Herrick đã gửi điện khẩn về Honolulu báo cáo không phát hiện thấy địch bằng mắt thường, và báo động bị địch tấn công bằng ngư lôi có thể là do thời tiết xấu và phản ứng hồ đồ của các kỹ sư sonar. Ông khuyến nghị “cần đánh giá lại toàn bộ trước khi có hành động tiếp theo” (complete evaluation before any further action taken). Nhưng Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã lập tức khuyến nghị ném bom Bắc Việt Nam, và Tổng thống Johnson đã nghe lời khuyên của McNamara, vội vã tuyên bố Mỹ bị “tấn công vô cớ” (unprovoked attack) trên hải phận quốc tế. Ba ngày sau, lưỡng viện Quốc hội thông qua “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” cho phép Tổng thống toàn quyền hành động, triển khai quân đội Mỹ tại Đông Nam Á. Đó là bước ngoặt để Chính quyền Johnson quyết định leo thang chiến tranh.
Năm 2003, trong bộ phim tài liệu “Sương mù Chiến tranh” (Fog of War) ông McNamara đã thừa nhận “không có cuộc tấn công lần thứ hai, ngày 4/8/1964”. Tổng thống Johnson cũng nói “Theo tôi biết, hải quân của chúng ta đã bắn cá voi ở đó” (For all I know, our navy was shooting at whales out there). Phi công James Stockdale, lúc đó đang lái máy bay hải quân F-8 Crusader bay trên vùng “có chiến sự” đã báo cáo về như sau: “Tôi đang ngồi ở vị trí tốt nhất để quan sát “các tàu khu trục của chúng ta đang bắn vào các mục tiêu bóng ma…Chẳng có cái gì ở đó ngoài nước biển tối đen và hỏa lực của Mỹ” (our destroyers were shooting at phantom targets... There was nothing there but black water and American firepower).
Năm 2005, Cục An ninh Quốc gia (NSA) đã giải mật nhiều tài liệu bao gồm các bức điện trao đổi xung quanh “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, nên các sử gia có cơ sở để kết luận là “không có cuộc tấn công lần thứ hai” (ngày 4/8/1964). Sử gia Edwin Moise tin rằng do thời tiết xấu, các đàn cá bơi gần mặt nước, hoặc sự cố cảm biến của radar đã làm các kỹ sư sonar hiểu lầm các tín hiệu trên màn hình. Biển cả đầy rẫy các hiện tượng lạ mà thủy thủ có thể hiểu lầm là mối đe dọa. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh thủ phạm trong “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” là một loài cá họ mực có tên là pyrosomes, thường đi ăn ban đêm hàng đàn gần mặt nước, với đội hình trông giống quả ngư lôi, tuy tốc độ di chuyển chậm hơn, nhưng cũng phát sáng và tạo vệt sóng, nên hình ảnh trên màn hình radar trông giống ngư lôi.
Giáo sư Todd Newberry (University of California, Santa Cruz) cho rằng hình ảnh và tập quán di chuyển của loài cá pyrosomes khớp với sự cố Vịnh Bắc Bộ. Newberry cho biết vào mùa hè 1966 ông đã gặp một kỹ sư sonar của tàu USS Turner Joy tại Monterey Bay. Anh ta kể lại sự cố đêm hôm đó với ông Newberry (một giáo sư sinh vật biển). Theo lời anh ta, trên màn hình radar của tàu USS Turner Joy xuất hiện những vật thể trông giống như ngư lôi, nhưng cách nó di chuyển không giống những quả ngư lôi mà từ trước tới nay anh ta đã thấy. Câu chuyện của Newberry về loài cá pyrosomes phát sáng là một ví dụ về những ngộ nhận cực đoan của con người về thế giới tự nhiên đa dạng, nhưng có thể làm thay đổi cục diện chiến tranh.
Thực ra hơn nửa thế kỷ qua, các nhà hải dương học đã nghiên cứu và kể lại nhiều mẩu chuyện về loài cá pyrosomes trong các bài giảng ở trường đại học, nhưng ít người để ý (ví dụ trong sự cố Vịnh Bắc Bộ). Trong bộ phim the Fog of War, ông McNamara nói “Chiến tranh quá phức tạp để đầu óc con người có thể hiểu được tất cả các biến số. Nhận định và hiểu biết của chúng ta không đủ, và chúng ta giết người một cách không cần thiết” (War is so complex it’s beyond the ability of the human mind to comprehend all the variables. Our judgment, our understanding, are not adequate. And we kill people unnecessarily).

Bóng ma Việt Nam và Iraq

Sau Việt Nam, người ta tưởng Mỹ sẽ không bao giờ mắc lại sai lầm nữa. Nhưng Iraq đã làm sống lại bóng ma Việt Nam. Chính quyền Bush đã mắc lại sai lầm cũ, làm mất lòng dân, không chỉ người Mỹ mà còn nhiều dân tộc khác trên thế giới. Tuy Mỹ chống chủ nghĩa khủng bố là đúng, nhưng đã sai khi ngộ nhận và ngạo mạn về quyền lực. Mỹ đã sai khi Washington đi theo chủ nghĩa đơn phương (unilateralism), chỉ dựa vào sức mạnh cứng (hard power) mà quên mất sức mạnh mềm (soft power) làm vũ khí chống khủng bố. Mỹ đã sai lầm khi Chính quyền Bush đã nói dối Quốc hội và nhân dân Mỹ về lý do tấn công Iraq.
Hình như người ta không chịu học bài học Việt Nam: Bắt đầu một cuộc chiến mà không có tầm nhìn rõ ràng, không biết giới hạn của quyền lực, nên cuối cùng không thắng được và không thu phục được lòng dân địa phương. Iraq một lần nữa lại chia rẽ nước Mỹ khi chiến tranh kéo dài với tổn thất quá lớn, nhưng không có lối thoát. Có thể nói, bóng ma Việt Nam được phục sinh bởi Iraq, và lịch sử đã lặp lại một lần nữa. Mỹ lại đứng trước thế “tiến thoái lưỡng nan” (như Catch-22): hoặc mất Iraq hoặc phải “Iraq hóa” chiến tranh để Mỹ có thể rút quân nhằm tránh những rắc rối lớn hơn trong nước. Đó không chỉ là thất bại của bộ máy chiến tranh với “sự ngạo mạn của quyền lực”, mà còn là thất bại của một triết lý chiến tranh dược dẫn dắt bởi một tầm nhìn thiển cận, dựa trên chủ nghĩa đơn phương và sức mạnh cứng.
Bài học Việt Nam là một trường hợp điển hình về sức mạnh cứng được sử dụng tối đa, nhưng cuối cùng vẫn thất bại. Ông McNamara đã mất hơn 2 thập kỷ mới nhận ra sai lầm chết người đã xô đẩy nước Mỹ vào một cuộc chiến tàn khốc, không chỉ đem lại thương vong và tổn thất to lớn cho nước Mỹ, mà còn tàn phá Việt Nam “trở về thời kỳ đồ đá” (lời tướng Curtis LeMay), khó tái thiết sau chiến tranh. Kết cục cả Mỹ và Việt Nam đều bị tổn thương và chia rẽ nghiêm trọng, cả về vật chất lẫn tinh thần, đến tận bây giờ vẫn chưa lành vết thương.
Vì vậy mà hai thập kỷ sau chiến tranh, cuốn sách “Hồi tưởng” của ông McNamara lại mở ra vết thương lòng với vết sẹo Chiến tranh Việt Nam vẫn chưa lành. Ba thập kỷ sau chiến tranh, bóng ma Việt Nam vẫn ám ảnh John Kerry và George Bush trong cuộc vận động tranh cử tổng thống (2004). Đến tận bây giờ, bóng ma Việt Nam vẫn tiếp tục ám ảnh hai quốc gia và và chia rẽ hai cộng đồng người Việt, làm cho hòa giải vẫn vô cùng khó khăn. Nhiều người Việt và người Mỹ vẫn như là “tù binh của quá khứ”, không thể kiến tạo được tương lai.
Hình như có một nghịch lý “yêu-ghét” (love-hate paradox) giữa hai quốc gia, do ám ảnh của quá khứ với mặc cảm tội lỗi (như trường hợp ông Bob Kerrey). Nó nuôi dưỡng những ẩn ức và ngộ nhận do “tư duy cũ” (mindset) bị “bất cập” trước thực tế mới với “khác biệt lớn” (big gaps). Chỉ khi nào những “bất cập” đó được tháo gỡ, mở đường cho thiện chí hợp tác dựa trên những giá trị nhân bản của con người, thì mới có thể hàn gắn được vết thương lòng và vết sẹo chiến tranh. Quá trình này chỉ có thể thực hiện được khi quan hệ con người được xây dựng trên nền tảng “sức mạnh mềm” để khai thác được tiềm năng con người qua giao lưu và kết nối, như “hệ quả không định trước” của chiến tranh, với một tầm nhìn mới về tương lai.
Nhà báo David Lamb (Nieman Fellow, LA Times, mất năm 2016) nhận xét: “Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng ta là không hiểu người Việt Nam, không hiểu lòng kiên nhẫn, sự ngoan cường, chủ nghĩa dân tộc, khả năng chiến đấu, lịch sử, văn hóa, và ngôn ngữ của họ. Đối với thắng thua trong chiến tranh thì đó là sự thiếu hiểu biết chết người. Tôi ước rằng Mỹ đã có thể rút ra được bài học kinh nghiệm từ Việt Nam, nhưng đáng tiếc là chúng ta lại sa vào cuộc chiến tại Iraq, một thảm họa không khác cuộc Chiến tranh Việt Nam”.

Thoát Trung và Biển Đông

Trong Chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã từng đánh Bắc Việt Nam để bảo vệ Nam Việt Nam nhằm ngăn chặn Trung Quốc. Nhưng sau khi Mỹ bắt tay với Trung Quốc, họ đã bỏ rơi Nam Việt Nam (năm 1975). Trong mấy thập kỷ tiếp theo, Mỹ đã hợp tác và giúp Trung Quốc trỗi dậy bằng chính sách “tham dự tích cực” (Constructive Engagement), với hy vọng Trung Quốc sẽ “trỗi dậy hòa bình”. Nhưng đáng tiếc, Trung Quốc đã bộc lộ bộ mặt thật hung hăng như con quái vật Frankeinstein (lời cố Tổng thống Nixon). Trung Quốc bắt nạt các nước láng giềng, quân sự hóa Biển Đông để độc chiếm nó như cái ao riêng của mình, đồng thời thách thức vai trò và lợi ích cơ bản của Mỹ và các đồng minh / đối tác tại Châu Á.
Năm 1964-1965, tàu chiến Mỹ thuộc Hạm đội 7 (như tàu khu trục USS Maddox) đến Vịnh Bắc Bộ để chống Việt Nam. Còn bây giờ tàu khu trục USS John McCain đến Cam Ranh để hợp tác với Việt Nam nhằm ngăn chặn Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông. Lịch sử đang lặp lại “Trò chơi Vương quyền” (Game of Thrones), nhưng đổi chỗ diễn viên theo luật chơi mới với kịch bản mới. Lịch sử Việt Nam có nhiều nghịch lý và uẩn khúc bất thường. Làm thế nào người Việt Nam có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc, mà không để các nước lớn lợi dụng biến mình thành quân cờ của họ trong bàn cờ nước lớn?
Bàn cờ Biển Đông đầy cạm bẫy, nhất là từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981vào Biển Đông, như một bước ngoặt bất ngờ gây ra cuộc khủng hoảng Việt-Trung (5/2014). Việt Nam đã phải trả giá quá nhiều và quá lâu, bởi những sai lầm của kẻ khác, cũng như của chính mình, trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, cũng như suốt thời hậu chiến (sau 1975), với cuộc chiến “bạn thù” với Campuchia và Trung Quốc. Sau bài học đẫm máu xung đột Việt-Trung (2/1979), là bài học xương máu Thành Đô (9/1990). Đã đến lúc người Việt phải quyết tâm đổi mới tư duy, vượt qua ý thức hệ đã lỗi thời, để đổi mới thể chế và kiến tạo lại tương lai.
Có thể nói “thoát Trung” không phải là “bài Trung” (chống Trung Quốc) mà thực chất là đổi mới tư duy và ý thức hệ đã lỗi thời để đổi mới thể chế, nhằm kiến tạo một nước Việt Nam độc lập và tự cường, có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc của mình. Nói cách khác, muốn “tái cân bằng tích cực” (active rebalance) với Trung Quốc, Việt Nam cần phải hợp tác chặt chẽ với các nước lớn (như Mỹ, Nhật, Ấn) trong khuôn khổ đối tác chiến lược vì an ninh tập thể, nhưng không nên quá phụ thuộc vào các nước lớn (như hiện nay đang phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc). Đã đến lúc Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, bao gồm đổi mới những nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại, trong bối cảnh mới.

Thay lời kết

Trong một bài diễn văn để vinh danh TNS John McCain và TNS John Kerry vì đã đóng góp cho hòa giải Mỹ-Việt (Boston, 2001), Đại sứ Mỹ Pete Peterson nói: “Chiến tranh không chấm dứt khi ngừng tiếng súng… Chiến tranh chỉ thực sự chấm dứt khi hai bên hòa giải với nhau”. Nhưng hòa giải không chỉ diễn ra trên bàn đàm phán giữa hai chính phủ, mà còn diễn ra trên chiến trường xưa, giữa những người cựu chiến binh đã từng bắn giết lẫn nhau, và trong lòng những người thân của họ (ở cả hai phía). Nó đòi hỏi phải vươt qua thù hận.
Cách đây không lâu, cựu ngoại trưởng John Kerry đã nói tại một cuộc hội thảo tại California (10/10/2016): “Tôi đã từng chiến đấu tại Việt Nam. Chúng tôi tưởng là đến đây để ngăn chặn nơi này biến thành cộng sản… Nhưng nay chỉ có chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt tại Việt Nam”. Dù đúng hay sai, ông Kerry phản ánh một nghịch lý trớ trêu tại Việt Nam. Thực ra, đó cũng là “hệ quả không định trước” (unintended consequences). Nhưng đáng buồn là Việt Nam đang bị nhầm lẫn chạy theo những gì tồi tệ nhất của CNXH và CNTB. Đó là “CNXH thân hữu” để bảo kê cho thế lực “Tư bản Đỏ” (còn gọi là “các nhóm lợi ích”), lợi dụng “định hướng XHCN” để thao túng chế độ và cướp đoạt thành quả cách mạng của thế hệ trước.
Ông Phạm Xuân Ẩn, (“Điệp viên Hoàn hảo”) có kể với tôi một câu chuyện vui đầy nghịch lý. Khi ông đến gặp một quan chức CIA vừa mới tới Sài Gòn (khoảng năm 1961-1962), ông bạn Mỹ đã khuyên ông Ẩn phải cẩn thận với ông Ngô Đình Nhu. Khi ông Ẩn hỏi tại sao thì được ông ấy “bật mí” rằng ông Ngô Đình Nhu “có thể là cộng sản”. Ông Ẩn về kể lại câu chuyện đó với ông Nhu. Sau mấy giây ngỡ ngàng, ông Nhu phá ra cười. Khi ông Ẩn hỏi “tại sao toi lại cười?” ông Nhu đã trả lời (không biết đùa hay thật) “có lẽ nó nói đúng đấy…”. Việt Nam đầy nghịch lý. Nhưng có một nguyên lý cần phải nhớ là trên đời này “không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn” (Winston Churchill).Nguyễn Quang Dy
18/7/2017

‘Đổi mới lần II’: Nhu cầu có thực về ‘đối lập có kiểm soát’!

Ngay cả về mặt “nội bộ Đảng”, nếu lợi ích không được điều hòa, tức khi yếu tố cấp tiến bị kìm hãm, thì nó sẽ là nguồn cơn của bộc phát chính trị hoặc xung đột đe dọa tính thống nhất trong Đảng.
clip_image002
Diplomat ngày 14/07 có đề cập về việc đổi mới lần II của Việt Nam, theo hai tác giả (hiện một là giảng viên tại ĐH Quốc tế - ĐH Quốc gia Tp. HCM và một giảng viên Khoa Quy hoạch Vùng và Thành phố - Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Việt Nam ngày hôm nay chia sẻ sự “tương đồng” với Đài Loan hay Hàn Quốc thời tiền dân chủ. Khi mà nền tăng trưởng dựa vào nguồn lao động giá rẻ đã dần cạn, dẫn đến nhu cầu thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Và con đường vạch ra chính là “dân chủ hóa thể chế chính trị” vào năm 1980 bằng cách chấp nhận hệ thống chính trị đa đảng và nhà nước pháp quyền. Và Việt Nam hiện nay, chỉ còn tàn tích của CNCS liên quan đến DNNN – vốn nổi tiếng trong việc kinh doanh thiếu hiệu quả, nợ nần,…

Đổi mới lần II về mặt chính trị sẽ giúp ĐCSVN khẳng định tính hợp pháp (như cách thức mà Đổi mới I từng mang lại), kết hợp giữa chủ nghĩa thực dụng và trọng dụng nhân tài như cách mà Đảng PAP (Singapore) đang tiến hành. Và bước đi cần thiết của Đổi mới II chính là cuộc chiến chống tham nhũng bằng sự cải cách sâu quy trình pháp luật để loại bỏ các quan chức tham nhũng, tạo sự ổn định chính trị (thay vì gây bất ổn bằng sự đàn áp). Bên cạnh đó là tự do lập hội, trong đó bao hàm cả các hội chức chính trị; loại bỏ các hạn chế ngầm về mặt tự do ngôn luận trên báo chí có thể giúp tiếp tục xác nhận vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua một cuộc thảo luận tự do, khuyến khích đổi mới,…
Bài viết mang quan điểm nếu trên cho thấy, nhu cầu đổi mới tại Việt Nam là khẩn thiết và có thực. Nhất là trong bối cảnh, tính chính danh của ĐCSVN đang bị thách thức bởi các vấn đề môi trường, tham nhũng và cả lạm quyền. Trong mặt trận thông tin, dường như vai trò mạng xã hội cũng thách thức với chính những yếu điểm mà ĐCSVN phô bày, và vừa qua, cách thức mà Bộ TN&MT Việt Nam (vốn liên đới trực tiếp đến thảm họa môi trường Formosa) không cho báo chí dự hội nghị sơ kết 6 tháng, trong khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ cho phép báo chí tham dự 5 phút đầu của cuộc họp; và thay vì được theo dõi các phiên họp được truyền hình trực tiếp đến Trung tâm Báo chí như trước đây, các phóng viên sẽ chỉ nhận được bản thông cáo báo chí sau các phiên họp với lý do… sợ tiết lộ bí mật nhà nước. Quy trình này khiến cho quyền giám sát và quyền được thông tin của người dân bị tước đoạt. Vấn đề đất đai cũng bùng nổ thành những cuộc xung đột lớn gần đây, mà mới đây nhất là người dân xã Đồng Tâm lập “chiến lũy” để bảo vệ quan điểm đất đai của mình; trong khi sự vụ Đồng Tâm chưa giảm nhiệt thì sự vụ Đan viện Thiên An nổi lên, bản thân Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt khi đến thăm cũng bày tỏ rằng, sự vụ xảy ra khi mà quyền tư hữu [đất đai] không được tôn trọng, mà chính yếu tố này làm bùng phát mối bất hòa giữa người dân và chính quyền.
Đứng trước những khó khăn như thế này, đòi hỏi đổi mới chính trị không còn nằm ở vấn đề người dân, mà ngay trong những đội ngũ đảng viên và quan chức có hơi hướng mở. Điều này không nhằm để cải thiện và giảm sự xung khắc trong xã hội, mà còn là một vấn đề mang tính giải quyết yếu tố hài hòa về cả mặt thể chế. Chính yếu tố này đã dẫn đến một hiện tượng về mặt Nghị quyết của ĐCSVN sau năm 1975 mang tên Nghị quyết T.Ư 4 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Nhu cầu diễn biến để đòi hỏi những cải cách chính trị không chỉ ươm mầm trong yếu tố nghị trường trong thời gian gần đây mà đốc thúc các hoạt động sau lung không gian xã hội dân sự. Trong đó, các quan chức Đảng có xu hướng cởi mở đã được mời và bàn về cải cách thể chế - mở rộng không gian công dân, như cách ông Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội từng nhiều lần được mời lên tiếng. Xu hướng này trở nên táo bạo hơn dưới quan điểm của ông Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Ủy viên TW Đảng, Phó Ban thường trực của Ban Tuyên giáo Trung ương khi đề cập đến yếu tố “tự diễn biến” mà ông cho rằng, nó có hai mặt tốt – xấu. Ông Hoàng thẳng thắn nhận định tính “toàn trị”, coi đây là “thứ chống lại tự do – giá trị thiêng liêng đối với cuộc sống của con người”, và bằng một phép biện chứng tích cực, ông đã khẳng định, nó “trái ngược với CNXH”.
Điều đó càng cho thấy, tính “tự diễn biến” trong nội bộ Đảng hay cách thức mà các quan chức đòi hỏi nhu cầu tự do – dân chủ là có thực. Điều này cho thấy một vấn đề lớn hơn là sự giải quyết nhu cầu hài hòa giữa lợi ích mang tính chính trị ngay trong nội bộ Đảng.
Trong một bài bàn luận được đăng tải trên Tạp chí Cộng sản ngày 28/6/2017, có đề cập đến sự thống nhất tính giai cấp và tính dân tộc trong văn hóa chính trị mà tác giả cho đó là “vấn đề lợi ích”, theo đấy, lợi ích bao hàm giai cấp và dân tộc thống nhất thì chính trị sẽ ổn định.
Hàm nghĩa, tính bất ổn chính trị hay nội bộ trong Đảng thời gian qua là thiếu sự thống nhất về mặt lợi ích đó. Nó bao gồm cả những sai lệch về cam kết chính trị trong thực tiễn của cơ quan công vụ nhà nước; văn hóa chính trị giả hiệu trong xã hội khiến “chủ trương” đề ra một nơi – thực tế hóa một nẻo và để xóa bỏ hiện trạng này, cần thực hiện mạnh mẽ “thực hành dân chủ, xây dựng môi trường dân chủ thực sự”.
Ngay cả về mặt “nội bộ Đảng”, nếu lợi ích không được điều hòa, tức khi yếu tố cấp tiến bị kìm hãm, thì nó sẽ là nguồn cơn của bộc phát chính trị hoặc xung đột đe dọa tính thống nhất trong Đảng.
Cần nhấn mạnh, không phải ngẫu nhiên mà một bài viết của người con cố Tổng Bí thư Lê Duẩn (TS Lê Kiên Thành) xuất hiện trên báo CAND vào tháng 2/2017, trong đó, tiêu đề ghi nhận “Sau 30 năm, nghĩ về cuộc đổi mới lần thứ hai”. Quan điểm bài viết thể hiện rõ tính xung đột trong nội bộ Đảng và nhu cầu đổi mới bức thiết về mặt chính trị - kinh tế, khi mà yếu tố đổi mới lần II buộc phải chống lại 1/3 “những người vừa có tiền vừa có quyền, những người đang được hưởng lợi từ cơ chế quản lý hiện giờ”. Dù bài viết chưa thực sự rõ ràng, và có phần “e dè” như cách mà độc giả Nguyễn Văn Hồng nhận định, nhưng rõ ràng nhu cầu đồi mới lần II, phức tạp – nhưng là có thực và cực kỳ bức thiết.
Và cách thức để “thực hành tốt nhất” (nhằm tạo sự hài hòa, và dung hợp chính trị trong Đảng) chính là tạo ra yếu tố đối lập có kiểm soát, và mở rộng phạm vi tự do báo chí để giám sát như cách mà bài viết trên The Diplomat đề xuất.Anh Văn

Ngư dân đệ đơn kiện Formosa tại tòa Nghệ An

clip_image002
Một cuộc biểu tình phản đối Formosa

Sáng ngày 18/7, một đoàn 30 người gồm ngư dân và giáo dân thuộc Giáo xứ Phú Yên, đại diện cho hơn 502 hộ gia đình, đã đệ đơn kiện Formosa tại Tòa án tỉnh Nghệ An, và yêu cầu được đền bù thiệt hại mà công ty này đã gây ra trong thảm hoạ môi trường hồi năm ngoái.
Linh mục Phan Sỹ Phương, Trưởng ban Hỗ trợ Ngư dân Miền Trung, người dẫn đầu giáo dân nộp đơn kiện, xác nhận với VOA rằng hồ sơ kiện đã được Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An tiếp nhận và trang thông tin Giáo phận Vinh cũng sẽ đưa thông tin về việc nộp đơn kiện này.
Linh mục Đặng Hữu Nam phụ trách Giáo xứ Phú Yên, tỉnh Nghệ An, cho VOA biết đoàn đệ đơn kiện Công ty Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (còn gọi là Formosa Hà Tĩnh) không bị cản trở vào sáng ngày 18/7.
“Chúng tôi đại diện cho ngư dân và diêm đã khởi kiện Formoa các lần trước, các linh mục trong Uỷ ban Hỗ trợ Ngư dân đã nộp đơn khởi kiện Formosa lên Tòa án tỉnh Nghệ An vào sáng nay. Tòa án làm chức năng của họ: nhận đơn khi nguyên đơn nộp đơn kiện”.
Theo biên bản ký ngày 18/7 được đăng trên trang Thanh Niên Công giáo, thẩm phán Lê Thị Thanh thuộc tòa Nghệ An đã tiếp nhận đơn kiện.
Linh mục Nam nói đây là kết quả của nhiều lần “thương thảo” giữa chính quyền Nghệ An và Uỷ ban Hỗ trợ Ngư dân Giáo phận Vinh:
“Chính quyền tỉnh Nghệ An lấy lý do rằng để đảm bảo ổn định trật tự xã hội nên đã rất nhiều lần thương thảo và thỏa thuận với Uỷ ban Hỗ trợ Ngư dân Giáo phận Vinh là nộp tại Tòa án tỉnh Nghệ An và đoàn chỉ đi khoảng 30 người”.
Linh mục Nam cho biết lần nộp đơn ngày 18/7 diễn ra ôn hòa, không bị chính quyền cản trở như những lần trước, vì đã hạn chế số người đi nộp đơn.
Trước đó, theo linh mục Nam, ngày 14/2/2017, chính quyền tỉnh Nghệ An “đàn áp một cách hết sức dã man” cuộc khởi kiện công ty của bà con Giáo xứ Song Ngọc. Chính quyền đã huy động hàng ngàn an ninh, cảnh sát cơ động, côn đồ để đánh đập những người dân tham gia cuộc khởi kiện.
clip_image004
Đoàn người từ 3 xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ tỉnh Nghệ An, đã quyết tâm đi bộ trên đoạn đường dài gần 200 km để nộp đơn kiện Formosa, ngày 14/02/2017. Ảnh: Tin Mừng cho Người nghèo.
Năm ngoái, vào ngày 18/10/2016, chính quyền Nghệ An và Hà Tĩnh đã ngăn cản và trấn áp đoàn giáo dân khi họ đi nộp đơn.
Trước đó, vào ngày 26 và 27 tháng 9/ 2016, các Giáo xứ ở Nghệ An đã đệ 506 đơn lên tòa án huyện Kỳ An, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng tòa đã trả lại hồ sơ. Theo linh mục Nam thì việc bác đơn như vậy “sai hiến định”.
Việc công ty Formosa-Hà Tĩnh xả các chất độc hại ra biển hồi đầu tháng 4 năm ngoái đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tỉnh miền Trung, đặc biệt là các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.
Thảm họa này đã ảnh hưởng tới sản xuất và sinh kế của ngư dân, các hộ nuôi thủy sản ven bờ, đồng thời tác động nặng nề đến du lịch biển và cuộc sống của cư dân miền Trung.
Một số Giáo xứ miền biển như Phú Yên, Song Ngọc, Mành Sơn… ở tỉnh Nghệ An cũng bị thiệt hại bởi thảm hoạ môi trường này.
Trang Thanh niên Công giáo cho biết gần như toàn bộ những thuyền bè đánh bắt hải sản ở Giáo xứ Song Ngọc phải bán đi, bởi vì biển tại đó đã cạn kiệt nguồn hải sản. Một số hải sản người dân đánh bắt được, sau khi đem về bán thì giá cả cũng sụt giảm xuống gấp nhiều lần so với trước đó.
Tại Giáo xứ Phú Yên, hải sản đánh bắt được cũng giảm giá, một số loài hải sản bà con nuôi trồng thì bị mang tiếng là nhiễm độc nên không thể bán được.
Giáo xứ Song Ngọc, Phú Yên cũng đã tổ chức các cuộc khởi kiện, yêu cầu đền bù thiệt hại, và phản đối nhà cầm quyền Việt Nam bao che cho tập đoàn Formosa. Nhưng tất cả các cuộc khởi kiện, yêu cầu đó của hai Giáo xứ này đã bị nhà cầm quyền tìm đủ mọi cách phá hoại, và người đi khiếu kiện có lúc bị đàn áp dữ dội.
Theo Linh mục Nam, tòa án sẽ phản hồi trong vòng 30 ngày sau khi nhận đơn, rằng họ sẽ thụ lý đơn kiện, chuyển lên tòa cấp cao hơn, hoặc bác đơn như những lần trước.
“Nếu họ thụ lý hồ sơ thì còn nhiều thủ tục phải làm như bổ sung hồ sơ nếu có yêu cầu. Khi hồ sơ đảm bảo đầy đủ thì họ phải thụ lý đơn. Chúng ta hãy chờ xem cách hành xử của nhà cầm quyền Việt Nam”.
clip_image006
Bất chấp những đe dọa và cản trở, người dẫn đầu vụ kiện tập thể chống lại Formosa.
Vào tháng 10 năm ngoái, gần hai tuần sau khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu Formosa bồi thường thiệt hại, vì đã xả thải độc hại khiến cá chết hàng loạt, Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh trả lại 506 đơn khởi kiện Formosa-Hà Tĩnh của người dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Lý do tòa đưa ra là các “đơn và các tài liệu của người dân khởi kiện không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh về những thiệt hại thực tế theo khoản 5, điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự và sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”.
Tòa cũng viện dẫn Quyết định 1880 của Thủ tướng Chính phủ, ký ngày 13/10/2016 về định mức bồi thường thiệt hại cho các đối tượng tại 4 tỉnh miền Trung, nhưng quyết định không bao gồm ngư dân bị thiệt hại tại tỉnh Nghệ An.
Theo báo Thanh niên, trong số 506 đơn kiện nêu trên, có 296 đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong đánh bắt hải sản, 137 đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong sản xuất muối, 68 đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong nghề sản xuất nước mắm, 3 đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại về nghề nuôi trồng thủy hải sản, 2 đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nghề kinh doanh thủy sản ven biển. Tổng số tiền các hộ dân yêu cầu bồi thường thiệt hại là 56 tỉ đồng.

No comments:

Post a Comment