Wednesday, July 19, 2017

Bài viết hay(5196)

Làm người VN cũng khó lắm chứ chẳng chơi khi mà sâu bọ tràn lan; chưa kể "ngưu đầu mã diện" lềnh khênh. Mạng người ở VN rẻ hơn lợn thối khi mà ai đó bị công an mời về đồn làm việc là coi như tiêu đời. Nếu không chết trong đồn thì về nhà cũng bị bệnh hậu mà lăn đùng ra báo hại gia đình chạy chữa rồi cuối cùng cũng lên bàn thờ. Lá chắn của chế độ được Đảng ban phát cho đặc quyền đặc lợi khiến cho công an tha hồ lộng hành mà ai cũng sợ, cóc ai dám đụng đến họ. VK như tui về đến TSN là câm mồm ngay. Lạng quạng là vô KS Tân Bình ngủ một đêm cũng đủ lạnh tóc gáy. Đừng mong Tổng Lãnh sự hay toà đại sứ Mỹ can thiệp; sớm lắm là Mỹ đến hốt xác thôi. Bởi vậy chửi ai thì chửi chứ đừng có dại mà chửi công an là chết chắc. Nghe tới công an là đái trong quần rồi. Trong mắt công an, người VN còn tệ hơn con chó bởi họ không dám sủa, không dám cắn. Cà chớn là công an đập đầu ngay rồi tuyên bố: Nó tự tử hay nó bệnh tiểu đường là xong. Tất cả chìm xuồng bởi Cả Lú cũng sợ công an. Dân Đồng Tâm tin Chung con là đủ thấy ngu rồi còn trách gì ai nữa?

Nghĩ từ chuyện bôi nhọ Giáo sư Ngô Bảo Châu

Đúng hai tháng trước đây, ông Võ Văn Thưởng – Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương có phát biểu và hứa hẹn sẽ xin ý kiến cấp trên nhằm tổ chức những cuộc “đối thoại” giữa Đảng, chính quyền với người dân đặc biệt là với những người bất đồng chính kiến. Trong một bài viết gần nhất của mình, bản thân tôi cũng rất ủng hộ và hoan nghênh chủ trương này của ông Thưởng. Tuy vậy, cho đến nay, với những gì đã diễn ra, có thể thấy dường như đang có sự “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” trong vấn đề này từ phía Đảng và chính quyền. Nói cách khác, chủ trương và đề xuất đối thoại của ông Thưởng chưa kịp triển khai thì không ai khác chính những người của Đảng với tư tưởng bảo thủ và nhỏ nhen làm cho mọi thứ có nguy cơ đổ vỡ. Hoặc nếu không, thì rất có thể phát biểu đề xuất đối thoại của ông Thưởng chỉ là quan điểm nhất thời của cá nhân ông mà thôi. Chủ trương ấy có lẽ sẽ không bao giờ trở thành hiện thực. Nếu điều đó xảy ra cũng có nghĩa với khả năng để cả dân tộc có được sự hòa giải, hòa hợp thực sự; từ đó cùng nhau xây dựng và phát triển đất nước trên tinh thần dân chủ, văn minh và tiến bộ sẽ ngày một u ám và bế tắc hơn?

Câu chuyện về những bài viết bôi nhọ GS Ngô Bảo Châu gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước những ngày qua là một ví dụ rõ ràng cho vấn đề này.

1. Ung dung đi giữa hai làn đạn

Có thể nói không ngoa rằng, Việt Nam có hơn 4000 năm lập quốc và nếu phải kể ra một đóng góp gì đó của người Việt vào kho tàng trí tuệ nhân loại thì chắc chắn không thể không gọi tên Ngô Bảo Châu. Cá nhân tôi cho rằng, với việc công bố kết quả nghiên cứu, chứng minh “bổ đề cơ bản cho các đại số Lie“ hay còn gọi “bổ đề cơ bản Langlands” – thành tựu khoa học được Tạp chí Time (Huê Kỳ) bình chọn là một trong 10 phát minh khoa học tiêu biểu của năm 2009, đồng thời giúp ông đoạt đoạt giải Fields năm 2010, Ngô Bảo Châu rất xứng đáng được tạc tượng để tôn vinh. Kể lại và nhấn mạnh vấn đề trên không phải để thần thánh hóa ông nhưng ít ra là để cho những ai muốn “phản biện” hay “đối thoại” với ông về chuyện gì đó trước hết phải biết lượng sức mình, phải “biết người biết ta”; hay ít ra là để tránh rơi vào một trong hai thái cực, hoặc là “thấy người sang bắt quàng làm họ” hoặc là “cầm đuốc đốt đền thiêng” để nhanh chóng nổi tiếng.
Còn nhớ, năm 2010, thời điểm GS Châu được trao giải Fields và sau đó được chính quyền Nhà nước Việt Nam gặp gỡ vinh danh thì dư luận xã hội đã bắt đầu xuất hiện những lời ong tiếng ve; lời ra tiếng vào từ cả hai phía “lề phải” và “lề trái”. Phía “lề trái” thì sợ GS Châu sẽ bị “tê liệt”, bị tha hóa bởi những cám dỗ vật chất mà quên đi trách nhiệm phản biện xã hội của người trí thức… Còn phía “lề phải” thì sợ GS Châu nghe theo lời xúi dục của phe “lề trái”, “phản động” nên không ít lần chiêu dụ, rót mật vào tai. Tuy vậy, theo quan sát của tôi, Ngô Bảo Châu khi ấy và cho đến tận bây giờ vẫn rất bình thản, ung dung đi giữa hai làn đạn với dụng ngụ cảnh báo và đe dọa từ cả hai phía.
Không những vậy, có thể thấy những kẻ bắn ra “những phát đạn” từ cả hai bên hình như vẫn chưa đủ chiều sâu và nội lực để “sát thương” ông; với lại họ cũng không có đủ sự nhẫn nại cần thiết để có thể bình tĩnh quan sát những gì GS Châu đã làm từ ấy đến nay trong tư cách của một nhà khoa học tầm cỡ thế giới. Đặc biệt là với những người thuộc phía “lề phải” đang kiêm vai trò của các “dư luận viên”, ngày đêm canh gác cho chính quyền.

2. Lòng nhiệt tình cộng với sự ngu dốt…

Dù muốn dù không GS Châu hiện vẫn là thần tượng của rất nhiều người Việt Nam nhất là các bạn trẻ; và ông cũng chơi face với rất đông người theo dõi. Sức ảnh hưởng của ông vì thế rất là lớn. Giờ đây mỗi suy nghĩ và lời nói ông phát ra dù rất bình thường nhưng có khi lại là tác nhân gây mất ăn mất ngủ đối với nhà cầm quyền. Không khó để mọi người có thể nhận ra sự sốt ruột, nôn nóng cùng cảm giác âu lo của họ khi thấy GS Châu cứ ngày một tuột ra khỏi tầm kiểm soát mà họ tự đặt ra và hằng mong ước. (Nói cho cùng, tất cả cũng là do họ bị chứng tự kỷ chứ ngay từ đầu GS Châu đã khẳng định rất rõ là, “đi theo lề là việc của những con cừu”)Vậy là, như một thói quen tệ hại lâu nay, ai nói khác mình, có quan điểm không giống với mình đều là bọn “phản động”, là “tay chân” của các “thế lực thù địch”. Nhưng như đã nói, đáng tiếc vì không biết lượng sức mình nên những người bôi nhọ GS Châu chỉ biết rình rập, lâu lâu tung một cú “dưới thắt lưng” ông mà thôi. Nghe họ “lý luận” cùn theo kiểu “cả vú lấp miệng em” mà buồn cười và xấu hổ thay. Ví như: “ông ấy chỉ giỏi toán thôi, chứ mấy chuyện còn lại nhất là về chính trị thì biết gì mà bàn”; hay “từ bấy đến giờ ông ấy đã làm gì cho đất nước Việt Nam”. Hoặc không thì lại võ biền, loạn xì ngầu và thổ thiển như thế này:
“Từ ngữ của Ngô Bảo Châu khi nói về đất nước, chính quyền chẳng khác gì đám rận chủ trong nước và những kẻ phản động người Việt hải ngoại. Và nhẽ đương nhiên được hiểu rằng NBC đang đứng chung, cùng hàng ngũ những kẻ chống phá đất nước. Vì thế, khó có thể chấp nhận được nhân cách một nhà khoa học lớn mà lại vô chính trị như vậy. Nhà nước đã có chính sách “cầu hiền tài”. Nhưng, hiền tài của NBC đâu chưa thấy, chỉ thấy Châu chống phá đất nước. Tuy nhiên, cầu hiền tài không có nghĩa Quốc gia, dân tộc chịu nhục để cá nhân một kẻ phản bội dắt mũi, bôi nhọ, chống phá. Vì thế, chính quyền nên tỏ rõ thái độ, quan điểm rõ ràng với Ngô Bảo Châu. Đã là kẻ phản bội, thì không nên để hình ảnh Ngô Bảo Châu một tấm gương xấu, phản cảm trong mắt người dân Việt nữa, những gì liên quan đến kẻ vô ơn bạc nghĩa, kẻ phản trắc này, cần phải thu hồi và dẹp bỏ đó là ý nguyện của người dân lúc này”.
Chưa hết, hãy cùng phân tích thêm một ví dụ điển hình khác để có thêm cái nhìn “cận cảnh” về khả năng tư duy và nhận thức của họ.
Năm 2016, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên trang cá nhân, GS Châu có nói rằng: “Có quý mến ai thì mong họ thoát khỏi vòng luân hồi, đừng bắt họ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.
Bình tĩnh phân tích cặn kẽ từng chữ trong câu nói trên sẽ thấy không có một chi tiết nào, cơ sở nào để nói rằng GS Châu xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh như lời của những kẻ đã cố tình “chụp mũ” cho ông. Câu nói trên chỉ có thể hiểu ở hai tầng nghĩa sau đây nếu người đọc có một sự hiểu biết ở mức trung bình:
Một, câu nói trên trước hết cho thấy quan điểm riêng của GS Ngô Bảo Châu trong vấn đề thể hiện sự tôn kính của cá nhân này với một cá nhân nào đó (mà mình thần tượng). Nói khác đi, kính trọng và nhớ ơn ai đó là một chuyện còn cách thức thể hiện sự kính trọng và nhớ ơn đó ra bên ngoài là một chuyện khác. “Có yêu mến ai thì mong họ thoát khỏi vòng luân hồi” – ý này nếu là người có hiểu biết nhất định về tư tưởng và giáo lý nhà Phật sẽ biết con người sau khi mất đi nếu “thoát khỏi vòng luân hồi” cũng đồng nghĩa với việc được “về” với cõi “niết bàn”, hay xứ “tiên cảnh”; và chỉ có những người với phẩm hạnh cao vời - những bậc chân tu đắc đạo mới mong “về” được cõi ấy. Như thế, ý của GS Châu ở đây là nếu chúng ta cầu mong cho thần tượng mình “thoát khỏi vòng luân hồi” chính là chúng ta đang thể hiện lòng tôn kính cao nhất và thánh thiện nhất dành cho họ; còn để họ “sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” nghĩa là họ mãi mãi không được “siêu thoát”, vẫn trong bể trầm luân của kiếp người.
Hai, đặt trong bối cảnh và thời điểm xuất hiện câu nói trên, cùng với sự liên tưởng với xã hội và đất nước Việt Nam hôm nay, cho phép chúng ta suy luận thêm một tầng nghĩa khác trong câu nói trên của GS Ngô Bảo Châu là: ông muốn ngầm phê phán, đả kích những kẻ nào nhân danh lợi dụng hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh để che đậy những việc làm tệ hại của mình; những kẻ tuy ngoài miệng nói “học tập theo Bác” nhưng thực chất là mang Bác ra làm tấm bình phong và nhất là qua đó phỉnh lừa đám đông dân chúng vốn cuồng tính và mê muội.
Tóm lại, với câu nói trên Ngô Bảo Châu hoàn toàn không có một ý nào xúc phạm mà ngược lại còn rất tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh theo góc nhìn và quan điểm của cá nhân ông trên tinh thần giáo lý nhà Phật.
Đến đây, có thể khẳng định những người lên án, quy chụp, kết tội GS Ngô Bảo Châu qua câu nói trên thực chất là những người “không có khả năng đọc thủng một câu nói” chứ đừng nói chi đọc thủng một văn bản. “Lòng nhiệt tình cộng với sự ngu dốt thành ra là phá hoại”, với năng lực tư duy và tầm hiểu biết như thế, phải nói rằng chính những người này chứ không phải ai khác là những kẻ đang xuyên tạc, bôi nhọ sự thật, vô cớ xúc phạm người khác; chính họ chứ không phải ai khác đang gây ra sự chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc theo tinh thần và chủ trương của Đảng, nhà nước, chính quyền mà họ đang phụng sự.

2. Im lặng, đồng lõa; không dại và “dại kép”…?

Thật ra, bản thân tôi cũng không tin có một “chiến dịch” bôi nhọ GS Châu do lãnh đạo chính quyền Việt Nam trực tiếp phát động hay “giật dây” như có người nghi ngờ. Trong thời điểm hiện tại và nhất là với vị thế và uy tín của GS Châu trong cộng đồng khoa học quốc tế hiện nay, chính quyền VN không dại gì làm điều ấy. Với lại, dù muốn dù không, cũng không nên quơ đũa cả nắm, vì không phải ai đứng trong hàng ngũ của Đảng và chính quyền hiện nay cũng đều tệ hại, xấu xa. Tuy vậy, theo tôi cho dù chính quyền không chủ động nhúng tay trong chuyện này nhưng kể từ khi bài viết bôi nhọ GS Châu xuất hiện cho đến nay nhưng chính quyền vẫn không có một động thái nào gọi là sự “can thiệp”, đính chính thì cũng cần phải suy nghĩ lại. Nói cách khác, đến thời điểm này, chính quyền Nhà nước Việt Nam vẫn không chịu lên tiếng sẽ rất dễ gây nên sự nghi ngờ về một sự đồng lõa (khi sự việc đã rồi) với những kẻ vì ấu trĩ, non nớt trong suy nghĩ và nhận thức nên đã bôi nhọ GS Ngô Bảo Châu (nên nhớ bài viết có xuất xứ từ trang mạng mang tên một Học viện quân sự quốc gia hẳn hoi). Và như thế, theo tôi đây chính là một cái dại của chính quyền. Hơn nữa, đó còn là một “cái dại kép”.
Như đã nói, “tầm vóc” của GS Ngô Bảo Châu là “tầm vóc” mang tính quốc tế. Hơn nữa, ngoài là một công dân mang quốc tịch Việt Nam, GS Châu còn là công dân mang quốc tịch Pháp. Ông cũng vừa mới được công nhận là Viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Thế nên, “con dại cái mang”, nếu chính quyền vẫn im lặng, không nói gì hoặc sắp tới đây vẫn không có động thái nào chấn chỉnh vấn đề trên thì chẳng khác nào đang tự mình làm xấu mình trước bao con mắt của bè bạn quốc tế. Và đây chính là cái dại thứ nhất.
Còn cái dại thứ hai là, tuy cho đến nay GS Ngô Bảo Châu cũng không có phản ứng chính thức nào về những bài viết bôi nhọ ông nhưng nếu căn cứ vào điều 258 của Bộ Luật Hình sự (Quy định về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân) mà lâu nay chính quyền vẫn dùng để truy cứu, kết tội những cá nhân khác thì thiết nghĩ cũng nên có động thái tương tự để cho thấy tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật.
Không nói đâu xa, tỉnh Quảng Ninh vừa thông báo cho biết Bộ Công an sẽ vào cuộc điều tra hành vi xuyên tạc, bôi nhọ cá nhân bà Vũ Thị Thu Thủy – Phó Chủ tịch UNND tỉnh này. Trong cái nhìn so sánh, tại sao chính quyền nhà nước không làm điều tương tự với những kẻ đã bôi nhọ, xuyên tạc GS Ngô Bảo Châu (mà nếu xét về tính chất liên quan đến hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế thì việc bội nhọ GS Châu nghiêm trọng hơn nhiều). Phải chăng, GS Ngô Bảo Châu chỉ là công dân bình thường, còn bà Vũ Thị Thu Thủy là đảng viên, là lãnh đạo nên được ưu ái hơn? Nếu vậy thì chính quyền sẽ ăn nói thế nào với nhân dân về sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật đây?

4. Thay lời kết

Thật lòng mà nói, bản thân tôi cũng không quá bất ngờ về chuyện GS Ngô Bảo Châu bị những người của/thuộc Đảng, chính quyền bôi nhọ. Bởi lẽ, cứ nhìn xem những gì đang diễn ra cùng thời điểm trên đất nước của “ông bạn vàng” cùng ý thức hệ thì biết ngay. Chính quyền của họ Tập cư xử như thế nào trước sự ra đi của ông Lưu Hiểu Ba (một nhà hoạt động dân chủ được trao giải Nobel Hòa bình thế giới) và một bộ phận người dân Trung Quốc đã tổ chức lễ tưởng niệm ông ấy? Có thể nói, tuy không thuần túy là một nhà hoạt động dân chủ giống như Lưu Hiểu Ba nhưng giỏi và sắc sảo như Ngô Bảo Châu nếu không bị “ai đó” công kích mới là chuyện lạ. Tuy vậy, dẫu sao qua chuyện này với tôi, một lần nữa cho thấy năng lực tư duy và tầm nhận thức của khá nhiều người Việt trong xã hội hôm nay đặc biệt là những người ít nhiều có liên quan và chịu sự nhồi nhét thường xuyên và trực tiếp “tư tưởng chính” trị từ Đảng, chính quyền, nhà nước. Không những vậy, với tôi đây còn là câu chuyện liên quan đến văn hóa rất đáng để suy nghĩ. Phải chăng người Việt trong thời bình, thật ra, ít khi biết đoàn kết và yêu thương nhau – là một nguyên nhân sâu xa làm cho nội lực quốc gia bị giảm sút, suy yếu, là cơ hội cho ngoại bang xâm lấn? Nói khác đi, 4000 năm qua người Việt đi đâu cũng huênh hoang, tự hào về “tài thao lược”, “nghệ thuật đánh đấm” của mình nhưng lại hiếm khi chịu bình tâm ngồi xuống tự vấn tại sao dân tộc mình hết lần này đến lần khác bị xâm lăng, đô hộ?
CT, 18/7/2017Nguyễn Trọng Bình

BIỆT PHỦ, CHÙA, VÀ TÌNH BẠN

Từ trước tới nay, hắn vẫn cho rằng, tình bạn là một thứ tài sản quý giá, thiêng liêng; cho dù, vì điều ấy có không ít người đã bĩu môi dè bỉu hắn là ngây thơ, và ngây ngô, song hắn thủ cựu với ý nghĩ: nếu có đem hắn vào cối giã, mọi thứ tan thành bột thì chắc chắn niềm tin đó vẫn nguyên vẹn…
Nhưng đến hôm nay, cái niềm tin gần như là tín điều đó của hắn bị lung lay dữ dội, khi quan hệ của hắn với một người bạn thân thiết nhất, gần như “con chấy cắn đôi”, đã rạn nứt khó có cơ hàn gắn - lạm dụng từ ngữ của giới kinh tế-chính trị, là phá sản! Và sự phá sản đau đớn này, không ngờ lại có liên quan, theo quy luật quả báo của đạo Phật, tới những biệt phủ và chùa ở một tỉnh miền núi đang được coi là một trong những tỉnh nghèo nhất nước…

Bạn thân của hắn, Trần Linh, đang giữ chức tổng biên tập tờ báo oai nhất tỉnh này, kiêm Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh, và cũng sắp tới lúc “chuẩn bị hạ cánh an toàn, dù là Bật Mã Ôn thì cũng là quan ch…ức…ức…” - như lời đùa vui của anh lúc hai thằng khề khà bên chiếu rượu tổng kết cuối năm của dân văn nghệ tỉnh mà hắn được mời ké nhân một lần lên thăm bạn. Trần Linh quảng giao, hay bốc đồng, có sức thuyết phục đám đông không chỉ bởi “võ mồm” nổi tiếng từ hồi học Văn khoa Tổng hợp mà còn bởi cái nhiệt huyết từ bên trong lúc nào cũng như ào ạt tràn ra bên ngoài. Khoảng ngót chục năm trở lại đây, anh bỗng dưng trở nên trầm lắng, không còn nữa những cơn sôi trào nội tâm tựa núi lửa hoạt động… Trước đây, anh hay chê hắn, ông là cái thằng mắt lườm lườm sau đít chai không ra trận cầm súng ngày nào nên không thể hiểu nổi cái giá của máu xương, sức mạnh của lòng căm thù… Dù cũng có lúc hắn nổi nóng, cãi lại cật lực ông bạn nhà báo cựu chiến binh, song rồi hắn hiểu: anh trách yêu bạn, lòng anh trong sáng, cái trong sáng của một thế hệ - trong đó có hắn - đã tình nguyện dâng hiến cả tuổi thanh xuân và sinh mệnh cho sự tồn vong của Đất nước. Giờ, anh đã như một con người khác, hay trầm ngâm, buồn bã ra mặt, ngay cả những vần thơ hùng tráng nhất của anh đọc lại trước các bạn cũng như ẩn giấu tiếng nức nở và những giọt nước mắt. Những lúc ấy, anh chợt trở nên gần gũi thân thiết với hắn một cách kỳ lạ, hơn hẳn trong những năm tháng nghèo đói… Thời đó, là một nhà báo kiết xác, bị vợ rầy la, anh đành bớt thời giờ làm thơ viết báo chui để xin nhận trông xe bí mật cho một công ty thương mại, che kín mặt cả buổi tối, và sắm cho lũ con gái con trai lốc nhốc mỗi đứa một bộ đồ bán nước chè ngoài ga ban đêm. Cứ mỗi khi hắn rảnh rỗi lên chơi, hoặc kết hợp công việc vào thăm gia đình anh, anh mừng như bắt được vàng, và thét vợ như một ông tướng Quảng Lạc phải vào ngay chuồng gà nhép và ra ngay mảnh vườn còi để làm sao đãi bạn tươm tất nhất… Có lần, hắn đến, cả nhà đi vắng hết, hắn ngậm ngùi nhìn những vách nứa xập xệ, mái tranh thủng lỗ chỗ, cái bàn viết cáu bẩn xộc xệch, và hắn ứa nước mắt thương bạn, thương mình…
Nhưng, nhờ ơn trời, bạn hắn, cũng như nhiều kẻ thuộc nhóm người được trở nên bất hủ bởi cái định nghĩa “nhà văn, nhà báo, nhà giáo - nhà nghèo” đã bươn trải đến bươu đầu sứt trán để vượt qua “Thời gian khổ”(1) vĩ đại đó mà không bị xây sát nhiều lắm về lương tâm, để hùng dũng bước vào cơn lốc xoáy thị trường dị dạng. Trần Linh đã có một ngôi nhà nhỏ bằng gạch với đôi mảnh vườn xinh xắn, nhưng như anh nhận xét: nó chỉ bằng cái vẩy so với những lâu đài lớn, dinh thự khủng và siêu biệt thự của các quan chức đầu tỉnh đang đua nhau mọc lên trong cái thành phố mới thoát thai từ thị xã nghèo kia! Anh còn nói thêm, vẻ chua chát: Thôi ông ạ, không “đú” được với lũ ăn tàn phá hại đó thì cũng đến lúc chúng mình cần học cách tự thoả mãn của một nhân vật với quả phúc bồn tử vườn nhà mà Sêkhốp từng tả thật hay: “Chà, ngon tuyệt! Anh hãy nếm thử xem”. Và cũng đành uống cặn của bọn họ thôi, biết làm thế nào… Anh thở dài để che dấu sự tuyệt vọng, và nỗi uất ức đang bị kìm nén trong trái tim chắc đã bắt đầu mệt mỏi.
Bẵng đi hai năm, hắn mới lại có dịp lên vùng đất từng lưu dấu nhiều kỷ niệm của tuổi thơ lẫn tuổi trẻ của hắn… Không phải tới thăm những khu sinh thái hiện đại bát ngát, những biệt phủ choáng lộn tựa trong mơ bắt đầu xuất hiện ở chốn “khỉ ho cò gáy” xưa. Hắn lên lần này, khởi nguồn từ câu chuyện của một bà vãi nghèo tỉnh T - đồng hương của bạn hắn…
Bà ta mang một mớ đơn từ kiện cáo, khiếu nại của những tín đồ Phật tử tới rất nhiều cơ quan Nhà nước, tổ chức phi chính phủ ở Thủ đô. Bởi chẳng ai thèm quan tâm tới chúng, nhất là khi những người có trách nhiệm và quyền hạn đã bị bội thực bởi những kiện cáo khiếu nại quanh chuyện đất đai, thì chúng mới may mắn, đúng hơn là tình cờ lọt vào tay hắn. Và qua một Phật tử quen người Hà Nội, hắn đã tìm được bà ta trong một quán cơm chay bình dân hiếm hoi đất Hà thành. Sự thật kinh khủng trong những lá đơn viết tay nghệch ngoạc khiến hắn sởn cả gai ốc. Sự thật và lòng phẫn nộ, khinh bỉ, căm ghét của nhiều Phật tử nghèo đối với một vị đại đức có chức sắc trong hội đồng trị sự GHPG tỉnh này. Một sư hổ mang, một tăng chúng vi phạm hầu hết các giới luật của người tu hành đạo Phật ở cái mức thậm tệ và trơ tráo, vượt khỏi mọi sự hình dung thông thường. Và ông ta đã dùng mọi thủ đoạn hèn hạ nhất nhằm ngăn chặn, triệt đường tất cả những vị sư nào định lên lãnh địa đó trụ trì mà không thần phục, không cung phụng ông ta. Mọi lá đơn kiện đều bị vô hiệu hoá ở một xứ sở có điều kiện hơn bất kỳ nơi nào khác cho luật rừng tác yêu tác quái… Trong đời làm báo, hắn chưa bao giờ nắm được trong tay nhiều chứng cứ chân thật và sinh động đến thế! Hắn chợt run lên, không phải vì bản năng nghề nghiệp được đánh thức, mà vì một sự kinh ngạc dần dần bị nỗi căm giận chiếm chỗ.
Hắn quyết tâm hành động, dù chưa rõ là bằng cách nào, để giúp các bà vãi nghèo nơi ấy…
Tới tỉnh, nơi đầu tiên hắn đến là nhà bạn hắn. Trần Linh phấn khởi vô cùng, bắt tay hắn thật chặt, lắc mãi, sau đó còn giang cả hai cánh tay ôm choàng lấy hắn. Ngôi nhà nhỏ đã được thiết kế lại nội thất theo mode hiện đại, cùng các tiện nghi đắt tiền kiểu mới nhất không có gì để chê. Một mảnh vườn biến mất, xuất hiện một ngôi nhà gỗ theo kiểu cổ, trang trí cầu kỳ, không cần thạo lắm cũng có thể nhận ra chúng làm toàn bằng gỗ quý: lim, nghiến, lát…Trần Linh hăng hái dắt hắn bước vào ngôi nhà gỗ với các câu đối, đại tự, các đồ thờ mới cóng, anh kính cẩn đốt hương rồi đưa cho hắn vài nén… Trong cuộc rượu linh đình chiêu đãi bạn, khi đã ngà ngà, Trần Linh hồ hởi khoe mấy đứa con mình đã trở thành viên chức nhà nước, tự hào rằng, người ngoài thì phải tốn không biết bao nhiêu tiền của, chạy chọt đủ kiểu mà không xong, còn Trần Linh thì khác, được các vị ấy tôn trọng, thậm chí tôn thờ; Trần Linh, tai mắt của tỉnh, tiếng nói của các vị lãnh đạo tỉnh, một tiền đồn của tư tưởng chính thống, vì thế, con cái Trần Linh được coi như con cháu lãnh đạo tỉnh… Hắn ù cả tai, hoa cả mắt, chẳng phải do rượu ngâm cây thuốc phiện được Trần Linh rót liên tục cho bạn quý, tửu lượng của hắn đã được thử thách suốt thời trai trẻ ở miền núi, giờ đã ăn thua gì! Sau hơn hai năm, bạn hắn từ một anh chàng mảnh khảnh, khắc khổ với những đau đáu suy tư văn chương, triết học, thời cuộc, đã trở nên bệ vệ với vẻ niềm nở kiêm xun xoe như một ông giám đốc du lịch làm ăn thất bát giờ mới phất trở lại. Đó là lý do để hắn bắt đầu thận trọng, và không xì ngay ra mớ đơn kiện như ý định lúc đầu. Hắn dò hỏi. “Ông có quan tâm đến tình hình Phật giáo địa phương?” - “Ồ, đó là một lĩnh vực nhạy cảm” - “Ôi chao, ông đúng là giọng tuyên huấn nghề nghiệp! Mấy bà vãi nghèo đang mong có mái chùa bé con con để lạy Bụt và quên mọi thứ nhố nhăng sự đời đi, thì nhạy cảm cái cóc khô gì!” - “Ấy, ông đừng có mà nghe một chiều” - đến lượt Trần Linh cảnh giác với hắn, hạ giọng - “Tôi nói thật nhé, đừng động tới ổ kiến lửa… Ông đã nghe phong thanh gì về ông đại đức trụ trì chùa Y rồi? Tin đồn vớ vẩn đấy! Trâu buộc ghét trâu ăn, thói đời đáng sợ thật. Đừng có dại dột sờ dái ngựa… Nào, cạn, quên béng chuyện đời lẫn chuyện đạo đi! Đất này là đất dữ đấy! Ông còn nhớ cuốn tiểu thuyết Nam Mỹ “Miền đất hung bạo” năm xưa ông mang lên cho tôi mượn chứ?”
Một kỷ niệm văn chương đã trở thành tín hiệu đe doạ, trấn áp chăng?
Đúng như hắn đã dự cảm.
Chiều tối hôm đó, lấy cớ trở lại nơi cũ hắn từng ở với bà cô hồi sơ tán, hắn rời “ổ rượu” của chàng quan chức hạng bét chuẩn bị về hưu và anh trọc phú mới nổi Trần Linh để bí mật đến với nhân chứng đầu tiên. Ông Phật tử này từng làm người gác cổng vài năm cho chùa Y, một trong những chùa lớn nhất tỉnh T, từng nhiều lần lúc nửa đêm phải mở cửa chùa cho ông sư hổ mang dẫn gái qua cổng tam quan; còn cô gái khi bị bỏ rơi thì tới trước cửa chùa chửi bới như giữa chợ… “Ô nhục quá!”- nhân chứng của hắn đau đớn thốt lên - “Nhưng chúng tôi chẳng còn tin vào ai nữa rồi! Bao đơn từ gửi lên các ban ngành của tỉnh, lão ấy tìm cách nuốt hết, và thách thức trong một trận say: ta có nhiều tiền hơn cả nước sông kia hiểu chửa, ta mua được cả hồn Ngọc hoàng Thượng đế nữa là loại kiết xác như Phật tử các ông các bà, những kẻ mà tiền công đức, cúng dường chẳng đủ cho ta tiếp khách một chầu bia suông!…” Và, ông nhân chứng đã cho hắn biết cái điều hắn chẳng muốn nghe: Bạn hắn, một nhà báo lớn của tỉnh, một nhà thơ thành danh nơi xứ Mây, cũng là kẻ đã nhiều lần ngồi chè chén say sưa, tâm đầu ý hợp với lão sư hổ mang ngay trong địa phận chùa, đã tỉ tê thế nào đó khiến cho kẻ tu hành giả mạo kia phải tài trợ mấy cuộc hội thảo văn học nghệ thuật, mấy cuộc thi sáng tác thơ, văn, nhiếp ảnh, rồi kinh phí để in hàng đống sách thơ cho mình và hội viên; những việc đó được uỷ ban tỉnh tuyên dương, tặng một lô bằng khen theo đề nghị của bạn hắn, và lão sư lấy chúng làm dày thêm lá chắn cho mình mỗi khi làm điều thất đức, không từ cả việc thuê bọn đầu gấu doạ nạt, trấn áp bất cứ người lương thiện nào dám tố cáo, hay chỉ dám ho he thắc mắc về vị trí, lợi quyền của y với tư cách một lãnh chúa gian tham có thờ Phật và mặc áo tu hành!
Sáng hôm sau, rời nhà trọ, hắn tìm tới nhà bà vãi B - người mới gặp ở Hà Nội tuần trước. Đứa cháu cho biết bà B đang ở nơi các bà vãi thường tụ họp. Hắn lại mò đến đó. Một ngôi nhà tạm độ ba chục mét vuông được dựng lên bên sườn đồi lúp xúp cây cỏ hoang dại, bên trong đặt ban thờ Phật đơn sơ mà ấm cúng. Mấy chục bà vãi đang chăm sóc các luống hoa quanh nhà và trang hoàng “ngôi bảo điện” bằng hoa, quả. Thấy hắn, các bà vãi bộc lộ nỗi vui mừng kín đáo, như là sự việc đương nhiên phải thế. Các bà thay phiên nhau, chậm rãi kể lại khúc nhôi sự tình… Một vị đại đức trẻ đang tu tập ở xứ Đông, nhân một lần theo tăng bạn lên chơi, yêu mến cảnh và người nơi đây, thấy chưa có chùa nên ngỏ ý muốn góp công của xây một ngôi chùa nhỏ, và sẽ xin làm trụ trì chùa. Như gặp nắng hạn mong mưa rào, các Phật tử vùng này phấn khởi, lo xin đất, cùng vị đại đức nọ chạy mọi thủ tục xong xuôi. Nhưng, suốt gần 10 năm trời, ngôi chùa vẫn chỉ nằm trên bản vẽ thiết kế ban đầu do một kiến trúc sư Phật tử cung tiến và các giấy tờ liên quan. Đây là đơn kiến nghị mới nhất, sau hàng mớ đơn từ, sau nhiều năm chờ đợi và chạy chọt đủ kiểu, với lời lẽ nhẫn nhịn, chịu đựng, song không giấu nổi sự bất bình, bự dọc, và chắc là phải nhờ vả người nào đó viết hộ cho đúng quy cách lẫn chính tả :
“…Ngày 1/1/2008 toàn thể nhân dân và 100 phật tử có hộ khẩu tại 7 thôn xã Thanh Minh đã có đơn gửi UBND tỉnh T và Ban trị sự GHPGVN tỉnh T với nội dung: Đề nghị giúp đỡ xây dựng chùa Thanh Minh và thỉnh mời Đại Đức Thích Thanh Quý về trụ trì, xây dựng chùa Thanh Minh, thành phố T…
​Ngày 25/1/2008 VP UBND tỉnh T đã có Công văn 727/CV/UBND gửi Sở Nội vụ tỉnh T giải quyết nội dung theo nguyện vọng của nhân dân và bà con Phật tử xã Thanh Minh.
Tuy nhiên cho tới giờ, sau 09 năm, với năm lần đơn gửi tiếp theo, vẫn chưa hề có văn bản nào trả lời.
​Chúng tôi thiết nghĩ, Đạo Phật là từ bi và GHPG tỉnh T có những quy định theo tính chất địa phương, đúng sai chúng tôi không bàn cãi, nhưng đề nghị của Đại Đức Thích Thanh Quý là hợp lý, và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân cùng tín đồ phật tử xã Thanh Minh…”.
Đọc lá đơn, đầu hắn ong lên bởi loảng xoảng các từ ngữ hành chính: công văn, kiến nghị, đề nghị, văn bản…Tuy nhiên, kết hợp với những tin tức đã thu thập được, hắn cũng hiểu ra điều chủ yếu: việc chậm trễ này chỉ có một nguyên nhân chính, đó là sự cố tình cản trở của lão sư trụ trì chùa Y và đang là phó Ban TSGHPG tỉnh T, được sự tiếp tay đắc lực của những người có quyền hạn tỉnh này!
Trong bữa cơm chay giản dị chiêu đãi nhà báo của các vãi nghèo, giữa khi căng thẳng tìm cách giúp họ sao cho phải lẽ và có kết quả, hắn nghe được loáng thoáng lời các bà: “Rau sạch đấy, cậu đừng lo…”. - “Cái lão sư ấy à… Đồ rắn độc… Nhiều thủ đoạn lắm… Cậu cần giữ mình đấy…”. - “Tội cho thầy Thanh Quý quá… Bơ vơ bao năm nay…”. - “Thế mà vẫn nhẫn nhịn, vẫn cầu mong cho cái lão sư rởm hồi tâm và tử tế với đồng đạo…” - “Dạo tiếp quản chùa Y, lão cho đập bỏ hết những tượng Phật, đồ thờ cúng dường thuộc sư trụ trì trước, cho làm lại sạch…”. - “Giá như lão đem thí cho các chùa nghèo như ta thì đỡ quá, các bà nhỉ…”.
Trở về Hà Nội, đang loay hoay với đống tư liệu và đơn từ đủ loại kia, hắn được biết thông tin nóng nhất: một phóng viên trẻ của báo X vừa bị bắt tại thành phố T trong khi làm loạt phóng sự bài và ảnh về những biệt phủ của hàng loạt yếu nhân tỉnh T đương làm nổi sóng dư luận. Đọc qua mấy bài báo về vụ bắt bớ, và bằng trực giác, hắn lờ mờ phỏng đoán: cậu phóng viên mà hắn vẫn khâm phục sự dũng cảm nhưng chưa hề quen biết này chắc đã bị gài bẫy… Hắn sực nhớ đến người bạn đang làm quan chức báo chí - văn nghệ tỉnh T, hắn sẽ nhờ anh ta hỏi cho ra nhẽ. Và nếu quả là chuyện gài bẫy thực, may ra, tiếng nói của anh ta sẽ giúp được chút gì chăng cho cậu phóng viên đương gặp nạn? Hắn giở di động ra gọi. Không nghe máy. Hay là Trần Linh đã nhạy cảm được điều gì? Mà một việc khá hệ trọng thế này, gọi điện thoại có nên không? Biết đâu, một kẻ hay lo chuyện trời ơi đất hỡi như hắn cũng đã bị nghe trộm? Thế là hắn lại tất tả nhảy xe đò lên tỉnh T.
Tới trước cổng tiểu biệt thự của Trần Linh, hắn bỗng đứng sững lại. Lần đầu tiên hắn cảm thấy ngại ngùng, thậm chí e sợ khi đến nhà người bạn thân thiết này. Hắn e sợ, bởi chút hy vọng của hắn không khéo biến thành bong bóng xà phòng. Và hắn sợ trước quá khứ đẹp của tình bạn đang bủa vây hắn, hoành hành cái tâm tư đa cảm của hắn… Nhưng rồi, hắn cũng quyết định bấm chuông. Một con chó nòi săn lao vụt tới sủa vang nhằm khẳng định thêm cho vị thế của chủ. Vợ Trần Linh te tái chạy ra, khắp người lấp loá nhẫn vàng, vòng vàng trong nắng trưa. “Nhà em đang đi ăn tiệc với các anh trên tỉnh, anh cứ vào tự nhiên, người nhà cả mà!” Suýt nữa thì hắn lầm lẫn chữ “người nhà” dành riêng cho hắn với “các anh trên tỉnh”! Vợ Trần Linh sau khi đã hỏi han đến xóc óc và biết rõ hắn đã ăn uống no say rồi, gọi cậu con trai đầu ra tiếp hắn. “Chú lên một mình à? Công việc hay chuyện riêng, hả chú?”. Hắn vội xoá ngay đi cái ấn tượng về cái lối như tra hỏi của cậu trai. “Chú lên chơi thôi. Nghe nói, bố cháu vừa in tập thơ, tuần trước chú lên chưa được tặng…”. - “Ồ, tưởng gì, bố cháu ký tên đóng dấu sẵn đây này, nhờ cháu phân phát cho mọi người khi bố cháu không có nhà…”.
Thì ra, đây chính là tập thơ được in bằng mồ hôi nước mắt của những Phật tử nghèo mà lão sư hổ mang đã trấn lột! Hắn chua chát thầm nghĩ, tập sách trên tay chợt nặng như cục đá. Cậu con trai pha nước chè: “Đây là chè Shan Tuyết sạch trăm phầm trăm, một tôm một lá, sao bằng tay chú ạ, nhà cháu chỉ mời người quen thân thôi…”. Rồi cậu ta xăng xái bật đầu đĩa DVD lên. “Bố cháu vừa mang về, bảo là có hầu hết những nhân vật quan trọng của tỉnh. Cháu cũng chưa kịp xem”. Màn hình xuất hiện những gương mặt ở lễ động thổ xây dựng công trình du lịch sinh thái, sân sau của một “phụ mẫu chi dân” cỡ bự tỉnh mà có lần Trần Linh đã kể cho hắn với thái độ khinh miệt. Những gương mặt béo tốt, bóng nhẫy, tự mãn, và khi tươi cười trong men rượu bia lại vô tình lộ ra vẻ lỳ lợm nham hiểm… “Đây là… Đây là… À, bà này tên là Nga vừa mới lên chót vót, ông này tên là Hân vừa chiếm chỗ của ông Đán”. Hắn chợt nhận ra bạn hắn, nhà báo nhà thơ quan chức tép riu đang xăng xái hân hoan vác cốc bia lửng đi tới các bàn quan chức lớn để chúc tụng, vẻ mặt bợ đỡ trong ma men càng nổi lên phừng phừng như tô điểm thêm sự tinh xảo cho một vũ hội của ma quỷ… Hắn bất giác nhắm tịt mắt lại trong một nỗi kinh hoàng chưa từng thấy. Đó là chân dung thật nhất của bạn hắn vào lúc đó. Hắn vô thức đứng dậy, vác túi lầm lũi đi ra khỏi căn nhà, giữa lúc cậu trai đang nhăn nhở hoan hỉ với những cảnh hội chợ ăn chơi phè phỡn hứa hẹn nay mai cậu sẽ dự phần…
Bên dòng sông chói chang cuồn cuộn chảy về xuôi, hắn nhìn thấy bao ký ức đẹp đẽ của hắn đang bị kéo trôi tuột đi cùng những sự thô bỉ, trâng tráo, hể hả đến buồn nôn mà hắn vừa được chứng kiến. Và hắn cũng được chứng kiến sự sụp đổ của những niềm tin ngây thơ còn sót lại trong hắn, cùng sự phá sản đến thảm hại của một tình bạn trải suốt bốn chục năm trời khốn khó lận đận, ngay giữa tâm hồn hắn. Một cái hố trống rỗng khủng khiếp hiện ra trước hắn, vây quanh là những biệt phủ đang vùn vụt vươn lên tựa những cây nấm độc khổng lồ đè bẹp dí một ngôi chùa bé nhỏ… Hắn bỗng sực nhớ mục đích chuyến đi lần này… Cậu phóng viên báo X nọ, nếu không bị gài bẫy, thì biết đâu cũng đã tự rơi vào cái bẫy của sự phù hoa mà phần đông lũ quan chức hư hỏng đang bầy đặt ra - theo đúng như “quy trình” mà bạn hắn đang lao đầu vào? Hắn không hiểu nổi mình là ai, mình sống để làm gì nữa. Mọi sự đều trở nên khó hiểu quá chừng! Lúc này, chỉ có một điều an ủi nhỏ bé duy nhất giúp hắn tỉnh táo, là bạn hắn chắc sẽ không đến nỗi trở thành kẻ phản trắc, kẻ sẵn sàng bán đứng bạn vì quyền lợi riêng!… Rồi sau đó, một ý nghĩ chợt đến và miên man theo dòng lũ: Một xứ sở mà có những quan lại như thế, hắn bị đánh cắp tình bạn, cùng sự xuất hiện những ngạ quỷ khoác áo cà sa, là điều không khó hiểu… Một xứ sở có những lâu đài biệt phủ lộng lẫy đồng thời là những cái bẫy đểu cáng nhằm tha hoá con người và thủ tiêu công lý, là điều không khó hiểu…
Hà Nội, đầu tháng 7-2017Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Về Đồng Tâm: vui và lo

Dân tôi rất uất ức vì cái kết luận thanh tra của thành phố Hà Nội”, họ không điếm xỉa đến sự thật, họ nói bừa. Dân tôi chỉ được vài người đi dự, một người được phát biểu lại không được nói rõ ngọn ngành, bị cắt ngang…”.
Qua bản dự thảo kết luận thanh tra đăng trên báo của thanh tra Hà Nội và những phát biểu của Chủ tịch UBNDTP Hà Nội Nguyễn Đức Chung (NĐC) về vụ tranh chấp cánh đồng Sênh của thôn Hoành xã Đồng Tâm (ĐT) huyện Mỹ Đức - Hà Nội hôm 7/7/2017, chúng tôi không khỏi lo ngại và ngay hôm sau phải về Đồng Tâm xem sự thể ra sao.
clip_image002
Cổng làng Hoành

Nếu đúng như bản dự thảo kết luận và phát biểu của Chủ tịch Nguyễn Đức Chung thì dân Đồng Tâm sai quá! Cả một vùng quê văn hiến với hàng nghìn dân, đủ các lứa tuổi sinh sống, làm lụng bao đời ở đây mà nhầm lẫn hoặc dám tham lam đến 59ha của quốc phòng - gây những hậu quả nghiêm trọng như thế chăng?
Tuy nhiên, khi về đến Đồng Tâm, cứ mỗi thời khắc trôi qua thì nỗi lo của của chúng tôi càng vơi đi và thay vào đó niềm vui nhen nhóm và lớn dần.

Niềm vui

Ngay từ tỉnh lộ 429 rẽ vào ĐT hỏi vào thôn Hoành, khi biết chúng tôi không phải là an ninh, “báo nhà nước” và chỉ là người quan tâm đến sức khỏe cụ Kình, tình hình tranh chấp đất đai ở đây thì họ rất nhiệt tình chỉ dẫn và hầu như không thiếu câu: “Dân tôi rất uất ức vì cái kết luận thanh tra của thành phố Hà Nội”, họ không điếm xỉa đến sự thật, họ nói bừa. Dân tôi chỉ được vài người đi dự, một người được phát biểu lại không được nói rõ ngọn ngành, bị cắt ngang…”.
clip_image004
Bản đồ khu vực sân bay dự kiến và khu đồng Sênh
10h30, thôn Hoành vốn đông đúc mà im ắng. Phần lớn trai tráng đều đi buôn bán, làm ăn xa, người già, trẻ nhỏ đi làm đồng chưa về… Mọi người nhìn chúng tôi với con mắt tò mò, cảnh giác nhưng khi được chỉ vào nhà cụ Kình thì không biết người ở đâu kéo đến khá đông, tranh nhau giãi bầy về cánh đồng Sênh từ lâu là mảnh đất nuôi sống dân làng… Họ kể rất nhiều chuyện gắn bó với cánh đồng từ khi Nhà nước chưa có ý định làm sân bay và cả mãi sau khi đã có quy hoạch sân bay của Nhà nước…
Cụ Kình phải cần người đỡ, cố gắng lắm mới ngồi dậy, tay đỡ đùi xoay mông ra bắt tay khách. Tuy bị gẫy đoạn xương đùi phải nẹp và khóa đinh, xương chậu bị rạn nhưng cụ vẫn rất minh mẫn đưa ra rất nhiều bằng chứng cánh đồng Sênh 59ha chưa bao giờ là thuộc đất quân đội.
Đặc biệt, Quyết định 113 ngày 14/4/1980 của Nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký, có nhiều chi tiết chứng tỏ cánh đồng Sênh không nằm trong số đất bị thu hồi làm sân bay đợt 1. (Hôm trước Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 3 không cho tôi tiếp cận Quyết định 113 là sự bưng bít vô ích). Chỉ một chi tiết thôi cũng bác bỏ hoàn toàn ý kiến của Thanh tra Hà Nội về cái gọi - “cánh đồng Sênh là đất quốc phòng”.
Khi xem thực địa và bản đồ vệ tinh sân bay Miếu Môn với kiến thức cơ bản của tôi về sân bay, có thể khẳng định cánh đồng Sênh cách xa phạm vi sân bay nếu nó hình thành trên thực tế đợt 1. Cánh đồng Sênh nằm liền tỉnh lộ 429 giáp với dãy núi Miếu Môn chệch về phía Tây Nam sân bay khá xa. Chỉ khi nào sân bay này phát triển đợt 2, 3… thì cánh đồng Sênh mới có thể dùng đến. Chính trong Quyết định 113 cũng nói rõ quy hoạch “đợt 1” sân bay Miếu Môn. Riêng 47,6ha của xã Đồng Tâm liền kề với 59ha của cánh đồng Sênh nằm trong phạm vi quy hoạch sân bay Miếu Môn giai đoạn 1 là hợp lý. Dù 36 năm qua, sân bay không làm nhưng dân Đồng Tâm vẫn tôn trọng, một số hộ dân vui vẻ làm thuê nộp tô cho bộ đội không có thắc mắc gì.
clip_image006
Bản đồ vệ tinh sân bay Miếu Môn. Nay chỉ để chơi máy bay mô hình thể thao.
Một điều hiển nhiên không thể không tính đến: hàng ngàn dân địa phương già, trẻ, trai, gái… thuộc vùng quê có hàng ngàn năm lịch sử, hiền lành, chất phác, giàu lòng yêu nước, trong các cuộc chiến tranh họ đã đóng góp, hy sinh vô bờ bến; biết bao năm cày cấy trên mảnh đất này mà nay họ nhắm mắt tham lam nhận vơ đất quốc phòng? Gặp rất nhiều người dân từ cán bộ đến thường dân tôi hỏi thì không có ý kiến nào công nhận cánh đồng Sênh là đất quốc phòng và khẳng định dân liên tục trồng cấy bao năm qua. Chỉ từ năm 2012 khi mảnh đất này lọt vào “tầm ngắm” của Vietel, thì chính quyền địa phương mới cấm dân không được canh tác nữa, dẫn đến nhiều diện tích hoang hóa như bây giờ…”.
Tất cả những thông tin, bằng chứng khẳng định dân Đồng Tâm không sai đã làm chúng tôi mừng thầm. Bởi vì, nếu dân Đồng Tâm sai, thì không chỉ già, trẻ, trai, gái, đặc biệt là cụ Kình hơn 80 đời (55 tuổi Đảng), người từng làm lãnh đạo địa phương nhiều năm, từng là huyện ủy viên, thanh liêm, chính trực được bà con kính trọng, tin tưởng… lại hóa trẻ con? Còn chúng tôi và biết bao người ủng hộ dân Đồng Tâm cũng cảm thấy “việt vị” bẽ bàng...

Lo ngại

Mặc dù khẳng định 59ha đất đồng Sênh là đất nông nghiệp không nằm trong khu vực đất Quốc phòng nhưng chúng tôi vẫn rất lo ngại bởi nhiều lẽ.
- Sự quyết tâm lấy 59ha cho Vietel của chính quyền Hà Nội: Qua phát biểu “cứng rắn” coi dân như kẻ tham lam, coi thường pháp luật và hạn chế trình độ của Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung; thái độ quy kết đồng Sênh là đất quốc phòng mà không đưa ra bằng chứng nào cụ thể, khoa học, nhận định vô lý, có dấu hiệu gian trá của Thanh tra Hà Nội chứng tỏ chính quyền quyết tâm đoạt bằng được 59ha cánh đồng Sênh.
- Cánh đồng Sênh quá đẹp về địa hình, địa thế, diện tích,... Khi đến thực địa, chúng tôi thoáng lo ngại vì bên dãy núi Miếu Môn hùng vĩ cánh đồng Sênh là một thung lũng bằng phẳng mênh mông, màu mỡ trải rộng sang phía đông bắc, lại nằm sát tỉnh lộ 429 nối với đường Hồ Chí Minh. Đó là “cái tội” của cánh đồng thời “tấc đất, tấc vàng, Vietel muốn có?
clip_image008
Đường vào Đồng Tâm còn đầy trắc trở
- Có dấu hiệu người Trung Quốc quan tâm tới mảnh đất này: Nhiều người kể với chúng tôi, thời gian qua thường gặp người lạ đi ô tô đến xuống ngắm nghía, vốc đất lên xem rồi gọi thoại bằng tiếng Trung Quốc… Khi hỏi đến làm gì họ lẳng lặng lên ô tô đi. Thời chiến tranh với Mỹ, Trung Quốc đã đào hầm thông vào núi ở đây, trước và sau năm 1979 vẫn có người Trung Quốc hay qua lại, ra vào khu vực. Một lần công an xã đã bắt được người Trung Quốc giả điên tên Thao lang thang lẩn khuất khắp vùng và khu vực Miếu Môn rồi biến mất.
- Dân thôn Hoành mất 59ha niềm hy vọng cuộc sống lẫn tương lai của cả trăm ngàn dân và con cháu họ mãi mãi. Những năm 1960 nhà nước đã lấy hơn 300ha đất của dân Đồng Tâm làm trường bắn; đến năm 1980 lấy thêm 47,6ha làm sân bay nên đất sản xuất còn quá ít, phần lớn dân phải tha phương cầu thực nơi xa. Nếu nay họ cam chịu mất nguồn sống ấy thì chắc được yên ổn nhưng cuộc sống khó khăn, trong lòng sẽ âm ỉ nỗi oan ức, tiếc nối cánh đồng không nguôi. Ngược lại, nếu họ không khuất phục thì cảnh sát vũ trang của thành phố Hà Nội, quân đội có vũ khí, xe cộ hiện đại như lần trước sẽ tìm đến. Hệ quả là không tránh khỏi đổ máu, giam cầm, tù tội...

  • Rất lo cho Đồng Tâm những ngày mai!Nguyễn Đình Ấm

No comments:

Post a Comment