Wednesday, July 19, 2017

Bài viết hay(5197)

Trump tưởng Ủn dễ bắt nạt nhưng sau khi hù dọa và nhờ TQ can ngăn không xong thì nay Trump im re. Xem ra Un cũng biết chơi games lắm chứ bộ. Khi Trump đã có "đồ chơi" thì ván cờ đâm ra phức tạp hơn; nhất là khi Putin "chống lưng" thì Ủn còn có thể khùng hơn nữa chứ nó không sợ gì Trump nữa. Dồn chó điên vào đường cùng thì e rằng nó cắn bậy nên nhà giàu như Trump rét hơn.

Lưu Hiểu Ba có chết vô ích?

Cái chết tương đối đột ngột của Lưu Hiểu Ba, nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc đang bị giam cầm và cũng là người đoạt giải Nobel Hoà bình, là một tổn thất lớn. Nó cũng đưa ra một thông điệp mạnh mẽ: Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) quyết tâm bảo vệ độc quyền chính trị của mình bằng bất kỳ phương tiện nào và với bất cứ giá nào.
clip_image002

Lưu Hiểu Ba, 61 tuổi, từng là nhà phê bình văn học và người bảo vệ nhân quyền và phản kháng bất bạo động, đã sống 8 năm cuối cùng của cuộc đời mình trong tù ngục vì những cáo buộc về “họat động lật đổ”. Tội thật sự của ông là kêu gọi thiết lập chế độ dân chủ ở Trung Quốc. Ngay cả trước khi bị giam cầm, ông đã thường xuyên bị cảnh sát giám sát và quấy rầy. Năm 2010, khi ông được trao giải Nobel, nhà cầm quyền Trung Quốc không chỉ cản trở, không cho gia đình ông đến Oslo nhận giải; mà còn giam lỏng vợ ông.
Vụ lăng nhục cuối cùng mà chính phủ Trung Quốc dành cho Lưu Hiểu Ba xảy ra hồi tháng trước, đấy là khi họ bác bỏ yêu cầu được điều trị ung thư gan giai đọan cuối. Đó là hành động tàn bạo vô nghĩa - đã dẫn tới cái chết của Lưu Hiểu Ba - lúc đó đang bị cảnh sát giam giữ - chỉ một tháng sau khi ông nhận được chẩn đoán. Lần cuối cùng một người đoạt giải Nobel gặp một số phận như vậy là vào năm 1938, đấy là Carl von Ossietzky, một người Đức theo chủ nghĩa hòa bình, chết trong trại giam của Đức quốc xã.
Dường như không thể giải thích được vì sao trong mấy năm gần đây Trung Quốc đã chi một số tiền khá lớn cho dự án “quyền lực mềm” ở nước ngoài mà lại sẵn sàng để mình rơi vào tình huống như thế. Tuy nhiên, càng muốn giữ vai trò lãnh đạo trên trường quốc tế thì các nhà lãnh đạo Trung Quốc thậm chí càng muốn đàn áp bất đồng chính kiến hơn nữa. Và có lẽ họ nghĩ rằng cách chế độ dân chủ phương Tây – nhiều nước đang lâm vào tình trạng hỗn lọan - sẽ phản ứng một cách yếu ớt.
Cho đến nay, tính toán như thế dường như là chính xác. Những hành động ngược đãi của chính quyền đối với một người bênh vực nhân quyền và dân chủ đã gây một số lời phàn nàn ở các thủ đô phương Tây; các nhà lãnh đạo như thủ tuớng Đức, Angela Merkel, đã than thở về cái chết của một người “chiến sĩ can đảm”. Nhưng không có nhà lãnh đạo phương Tây lớn nào lên tiếng tố cáo hành động của chính phủ Trung Quốc.
Hơn nữa, bằng cách từ chối mong muốn của Lưu Hiểu Ba là được sống những ngày cuối cùng trong tự do ở nước ngoài là chính phủ đã tránh được hình ảnh đáng xấu hổ: Một đám tang công khai với hàng chục ngàn người ủng hộ và ngưỡng mộ ông tham dự. Lúc đó ngôi mộ của Lưu Hiểu Ba sẽ trở thành đài kỉ niệm mang tính chính trị, một biểu tượng vĩnh cửu của cuộc đấu tranh với chống lại chế độ độc tài. Trong khi đó, những người kiểm duyệt ở Trung Quốc đã làm việc suốt ngày đêm giờ để đảm bảo rằng cái chết của Lưu Hiểu Ba không trở thành sự kiện.
Chế độ ở Trung Quốc có thể vượt qua được tình trạng lúng túng như vậy, như nó đã từng vượt qua sự phản đối của quốc tế. ĐCSTQ vẫn là lực lượng chính trị khổng lồ, với gần 90 triệu đảng viên, và khả năng bảo vệ quyền lực của họ còn rất lớn. Mấy thập niên cải thiện điều sống củng cố được tính chính danh của ĐCSTQ đến mức ít người còn nghĩ về năm 1989, khi lần đầu tiên Lưu Hiểu Ba trở thành người nổi tiếng trong những cuộc biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn.
Nhưng chế độ của ĐCSTQ còn lâu mới là bất khả chiến bại. Ngược lại, nó có một số điểm yếu căn bản - bắt đầu từ tầng cao nhất trong chính phủ.
Dưới thời chủ tịch Tập Cận Bình, “lãnh đạo tập thể” vốn giữ thế thượng phong từ khi Mao Trạch Đông chết đã ngày càng được thay thế bằng quyền lực của nhà lãnh đạo độc tài. Chiến dịch thanh trừng chính trị của Tập Cận Bình, được tiến hành dưới khẩu hiệu chống tham nhũng, đã được tái khởi động, làm cho các đảng viên thường mất hết ý chí vì bị mất đặc quyền đặc lợi và lo sợ trở thành mục tiêu kế tiếp. Khi sự thống nhất của các tầng lớp tinh hoa chính trị bị bào mòn, chế độ ngày càng trở nên mong manh hơn.
Tốc độ gia tăng thu nhập chậm lại đang làm cho chế độ suy yếu thêm. Lời hứa về thịnh vượng vật chất ngày càng gia tăng là nền tảng cho tuyên bố về tính chính danh của ĐCSTQ. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng nhờ các khỏan đầu tư từng tạo ra phép mầu kinh tế của Trung Quốc trong suốt 30 năm qua đã đi đến cuối đường rồi.
Phản ứng chống lại toàn cầu hoá trong những năm gần đây, thể hiện qua việc nước Anh rút ra khỏi EU và việc bầu Donald Trump làm tổng thống Mỹ, làm xuất hiện yếu tố bổ sung về sự không chắc chắn đối với tương lai kinh tế của Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể đang tìm cách hướng đến tăng trưởng nhờ tiêu dung ở trong nước, nhưng, thực tế là nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Nếu chủ nghĩa bảo hộ củng cố được trong những thị trường nước ngoài quan trọng của Trung Quốc, thì triển vọng kinh tế của đất nước - và do đó là tính chính danh của ĐCSTQ - có thể suy giảm một cách nhanh chóng.
Trớ trêu là, mấy thập kỷ tăng trưởng kinh tế đã củng cố vị thế của ĐCSTQ, đồng thời sự thịnh vượng ngày càng tăng cũng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển hóa dân chủ. Trên thực tế, Trung Quốc đã đạt đến mức thu nhập bình quân đầu người mà hầu như tất cả các chế độ chuyên chế trong các nước không sản xuất dầu mỏ đều bị mất quyền lực.
Tất nhiên, khi tăng trưởng kinh tế chao đảo như đang diễn ra, ĐCSTQ có thể quay trở lại chế độ đàn áp tàn nhẫn và sử dụng chủ nghĩa dân tộc nhằm chống lại những thách thức đối với quyền lực của nó. Nhưng hiệu quả của cách tiếp cận như vậy là có giới hạn. Chi phí về kinh tế và đạo đức của việc đàn áp ngày càng leo thang cuối cùng sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn ở trong nước, mà ngay cả nhà nước độc đảng quyền lực nhất thế giới cũng không thể che giấu được.
Trong bối cảnh như thế, dường như rõ ràng rằng, không những không phải là biểu hiện của sức mạnh, mà việc chế độ của Trung Quốc ngược đãi Lưu Hiểu Ba là chỉ dấu về sự yếu đuối, bấp bênh và sợ hãi của họ. Tại một thời điểm nào đó, có lẽ trong vòng hai thập kỷ tới, tình trạng thối rữa trong nội bộ và áp lực đòi tự do của nhân dân kết hợp với nhau sẽ lật nhào chế độ độc đảng ở Trung Quốc - và, người ta hy vọng là nó sẽ đưa mọi người tới một xã hội cởi mở, và đấy cũng là mục tiêu chiến đấu suốt đời của Lưu Hiểu Ba.Minxin Pei(*)
Phạm Nguyên Trường dịch

Con sư tử đói thức giấc đang quậy phá khắp nơi

clip_image002
Cách đây 200 năm (1816), Napoleon Bonaparte, vị hoàng đế trẻ nhất của nước Pháp đã nói về nước Tàu bằng một nhận xét như sau: “Hãy để con sư tử này ngủ yên, vỉ nếu thức tỉnh, nó sẽ làm cả thế giới run sợ”. Câu nói này ngày nay đã trở thành sự thật và sự thật đó sẽ được trình bày trong những đoạn viết tiếp theo với những hành vi của Tàu cộng.

Biến cải lục địa đen thành thuộc địa

Tàu cộng đang biến cải Phi Châu thành thuộc địa. Các lãnh đạo Tàu muốn Phi Châu là chư hầu ở xa để vừa giải quyết nạn nhân mãn vừa chiếm được tài nguyên thiên nhiên. Trong khi Hoa Kỳ và cả thế giới im lặng trước hành động này, Tàu cứ tiến tới.
Một triệu quân Tàu di chuyển ngang dọc Phi Châu và Nam Mỹ để chiếm các nguyên liệu chiến lược và chiếm các thị trường mới nổi, trước Mỹ, Nhật và Âu Châu. Thế giới cần phải coi chừng con sư tử đói thức giấc này.
Đế quốc Tàu là một nước tham lam vô độ. Nó tiêu thụ nửa số xi măng và nửa số thép của thế giới, một phần ba số đồng, một phần tư số aluminium, và những số lượng vĩ đại antimony, chronium, cobalt, lithium, zinc và gỗ.
Những nguyên liệu này, quốc gia nào trên thế giới cũng cần, nhất là Hoa Kỳ và các quốc gia kỹ nghệ Âu Châu. Bauxite và sắt của Guinea và Tanzania dùng để sản xuất phi cơ ở Seattle (Mỹ), đóng tàu ở Bath (Maine - Mỹ), đồng của Chile dùng làm giây điện, cobalt của Congo dùng trong các sở cơ khí ở Michigan (Mỹ), lithium của Bolivia dùng để chế tạo xe hơi, manganese của Gabon dùng trong kỹ nghệ nhựa, titanium của Mozambique, Madagascar, Paraguay dùng để sản xuất thép tốt trong kỹ nghệ máy bay, làm đầu gối và hông người nhân tạo trong y tế. Tàu cộng đang lăn xả vào các đống nguyên liệu này để giữ làm của riêng. Hậu quả sẽ không thể nào lường trước được cho các nền kinh tế khác ngoài lục địa Trung Hoa.

Thủ thuật cướp tài nguyên thiên nhiên bằng sức mạnh mềm

Việc khai thác dầu hỏa ở Phi Châu cần sự tiến bộ. Nhưng Tàu cộng đến đây không phải để giúp mà để cướp. Thủ thuật cướp bằng sức mạnh mềm là giơ cao tấm chi phiếu to và hứa hẹn cho vay rộng rãi với lãi xuất thấp để xây dựng hạ tầng cơ sở, hoặc dinh tổng thống, hoặc mua vũ khí AK-47. Đổi lại phía đi vay chỉ cần chấp nhận hai điều kiện: 1/ thứ nhất, khi nhận tiền phải giao nộp ngay tài nguyên thiên nhiên; 2/ thứ hai, phải mở cửa cho hàng đã chế biến vào thị trường thuộc địa.
Thủ thuật này tạo công ăn việc làm cho đế quốc Tàu và giúp các công ty đế quốc thịnh vượng. Quảng Châu, Thành Đô, Thượng Hải tiếp tục phát triển trong khi các thuộc địa mới của Tàu tiếp tục lụn bại.

Sức mạnh mềm trở thành công cụ bành trướng

Ai đến Phi Châu cũng thấy ngay là toàn thể lục địa này đang bị Tàu xâm chiếm bằng sức mạnh mềm. Thủ thuật ngoại giao bằng sức mạnh mềm (nghĩa là cho vay) đang được Bắc Kinh áp dụng khắp mọi nơi trên mặt lục địa này. Angola trả nợ Tàu bằng dầu, Ghana trả nợ Tàu bằng hạt cacao, Nigeria trả nợ Tàu bằng khí đốt... Không một nước nào được hưởng lợi với đế quốc Trung Hoa.
Ở Zimbabwe, Tàu bóc lột còn tàn nhẫn hơn. Tàu bỏ ra 5 tỷ đô la mua một mỏ platinum đáng giá 40 tỷ đô la. Với 5 tỷ đô la đó, nhà độc tài Robert Mugabe xây lâu đài mới, mua trực thăng vũ trang và phi cơ phản lực cùng với rất nhiều vũ khí khác để đàn áp dân lành.
Hiện tượng này, không chỉ xảy ra tại Phi Châu mà còn ở khắp nơi trên thế giới. Tại Peru, Tàu cộng đã làm chủ một ngọn núi đồng. Tàu chỉ mua ngọn núi này với 3 tỷ đô la mà bây giờ đang hưởng lợi tới 2000%. Trong khi đó dân Peru vẫn tiếp tục đói khát, mù chữ và phải đối mặt với đủ thứ tai nạn lao động.
Khi Tàu cộng kiểm soát bauxite ở Brazil, Guinea, Malawi, đồng ở Congo, Kazahkstan, Namibia, sắt ở Liberia, Somalia, manganese ở Burkina Fasco, Campuchia, Gabon, chì ở Cuba, Tanzania, kẽm ở Algeria, Nigeria, Zambia... thì còn đâu cho các xưởng ở Cincinatti, Memphis, Pittsburg của Mỹ và các xưởng của các quốc gia khác như Đức, Nhật, Seoul.
Người ta có nhiều lý do để sợ rằng xe hơi tương lai sẽ sản xuất ở Lan Châu (Lanzhou) và Vũ Hồ (Wuhu) thay vì ở Detroit và Huntsville, máy bay sẽ sản xuất ở Binzhou và Thẩm Dương thay vì ở Seattle và Wichita, chip cho máy vi tính sẽ làm tại Đại Liên (Daliem) và Thiên Tân thay vì tại Silicon Valley, thép của thế kỷ 21 sẽ được sản xuất nhiều hơn tại Đường Sơn (Tangshan) và Vũ Hán (Wuhan) thay vì ở Birmingham. Alabama và Illinois của Hoa Kỳ.
Chắc chắn đây không phải là thị trường tự do và hợp tác thương mại quốc tế nữa. Ai cũng phải rùng mình với chuyện đang xảy ra này. Nhưng không hiểu sao trong các phòng họp chính trị ở Washington, Berlin, Tokyo các chính khách vẫn giữ thái độ “sống chết mặc bay” và chẳng thèm để ý.
Nếu cảnh này cứ tiếp tục thì rồi đây Tàu cộng sẽ ở vị thế độc quyền về tài nguyên với giá thấp nhất và như vậy Tàu có thể cạnh tranh với Mỹ và cả thế giới. Kế hoạch thâu tóm tài nguyên của Tàu tương đương với việc cấm vận tài nguyên đối với các quốc gia khác trên mặt địa cầu.

Một cuộc di dân trá hình

Trên thực tế không phải chỉ có kỹ sư và kiến trúc sư Tàu đến Phi Châu. Nông dân cũng đến luôn. Lúc đầu Tàu hứa hẹn cho vay tiền để xây dựng hạ tầng cơ sở, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, nhưng khi khởi công xây cất thì Tàu lại mang cả triệu công nhân sang để mặc nhiên tranh chỗ. Tàu đưa dân mình qua tối đa và chỉ thuê dân địa phương ở mức tối thiểu. Cho nên người dân của các thuộc địa mới của Tàu như Angola và Zimbabue vẫn bị nghèo đói và thường bị nội chiến vì sự tráo trở của Tàu.
Ngoài mục đích thâu tóm tài nguyên và chiếm lĩnh thị trường mới, Tàu còn có kế hoạch xuất cảng nhiều triệu dân qua Phi Châu và Nam Mỹ để giải quyết nạn nhân mãn. Trên lục địa Trung Hoa có 600 con sông thì 400 sông đã kể như chết vì quá ô nhiễm. Wikeleaks tiết lộ Bắc Kinh muốn dời 300 triệu dân sang Phi Châu. Khi các chính quyền Phi Châu không thể trả nợ thì chắc chắn hiện tượng di tản này sẽ xảy ta. Mỹ hiện tại đang nợ Tàu khoảng hai ngàn tỷ đô la: các tiểu bang Montana và Wyoming vắng dân có thể đang là những điểm ngắm của Bắc Kinh.
Trong thập niên qua 700.000 dân Tàu đã định cư tại Phi Châu. Kế hoạch vẫn còn tiếp tục. Cờ Tàu bay phấp phới khắp mọi nơi trên lục địa đen. Các tòa đại sứ mới của Tàu đang tiếp tục được xây cất, các sân bay mới đang được hoàn tất.
Dân Tàu tràn sang Phi Châu như cơn nước lũ. Các khu đô thị biệt lập với hàng rào bao bọc mọc lên khắp nơi, nhưng không cho người da đen bén mảng. Hơn một triệu nông dân Tàu đang cày cấy đất Phi Châu, sản xuất thực phẩm để xuất cảng ngược về Hoa Lục trong khi dân địa phương vẫn thiếu thực phẩm tiêu thụ.
Theo tuần báo The Economist, Tàu đã chiếm bảy triệu mẫu dầu cọ (palm oil) của Congo để làm xăng hữu cơ. Hình thức “nông trại hữu nghị” đang được sử dụng tại các xứ Gabon, Ghana, Guinea, Mali, Mauritania và Tanzania.

Dùng gái điếm để thu hút di dân tới những nơi vắng vẻ

Tàu mang sang Phi Châu cả gái điếm, để họ kiếm ăn ở những nơi xa xôi có những công trình của Tàu đang xây cất. Tại Cameroon gái điếm Tàu chỉ đòi có 2000 CFA (4.25 đô la) trong khi các cô gái địa phương thì nhất định đòi 5000 CFA mới chịu lên giường. Tại Congo Brazaville có một chuyện khá buồn cười cần kể lại. Các cô gái điếm khi được giải thoát lại không chịu trở về Trung Quốc. Lý do là ở lại đất Phi Châu các cô kiếm được nhiều tiền hơn và được đối xử tốt hơn là ở quê nhà tại Tứ Xuyên (Sichuan).
Hệ sinh thái của nước Tàu bị tàn phá khủng khiếp vì quá trình hiện đại hóa nhanh chóng. Giờ đây Tàu lại đang tàn phá hệ sinh thái của các nước chư hầu mới. Nỗi thống khổ của dân bản xứ nói sao cho xiết vì sự trâng tráo của các nhà độc tài địa phương là vô giới hạn. Ngoài chuyện hệ sinh thái bị tàn phá, các khoản tiền khác kiếm được từ việc khai thác các mỏ kim cương và việc bán gỗ rừng đều đã được các nhà độc tài này dùng để mua vũ khí đàn áp dân lành, gây ra những cuộc nội chiến đẫm máu.

Quyền lực mềm của Tàu đang hoành hành cả tại Úc và Nam Mỹ

Trong số 640 triệu vũ khí nhẹ đang lưu hành trên thế giới thì 100 triệu lưu hành tại Phi Châu. Những chế độ độc tài khát máu như Angola, Sudan, Zimbabue là những chế độ đứng đầu bảng giết hại dân lành.
Có một lần, Ôn Gia Bảo tuyên bố ở nghị viện Gabon rằng: “Chỉ buôn bán thôi, không có điều kiện chính trị gì cả”. Với chủ trương này, Tàu làm ăn với bất cứ một chính quyền địa phương nào dù tàn bạo đến đâu, thối nát đến đâu. Trong khi các nước văn minh như Mỹ, Anh Pháp, cố gắng tạo áp lực lên bạo chúa, bạo quyền thì Tàu gian manh đi luồn cửa hậu.
Vào lúc này Tàu đang tìm cách tiếp cận với Úc để nâng cao các liên lạc ngoại giao. Tàu muốn đầu tư lớn vào nhiều khu vực khai thác mỏ ớ Úc. Điều đáng ngạc nhiên là các nền kinh tế có cơ cấu dân chủ như Úc, Brazil, Nam Phi... vẫn bị tiền Tàu cuốn hút.
Tại Úc trong vài năm qua một số công ty Tàu như China Minmetals, Hunan Valin Steel & Iron, Shangai Baosteel đã ký được những hợp đồng khai thác tài nguyên vĩ đại. Trong ngắn hạn vài trăm gia đình thượng lưu Úc sẽ giàu to, nhưng trong tương lai nước Úc sẽ lâm vào cảnh nghèo khó vì các mỏ bị vét sạch. Trong trung hạn sự thâm thủng mậu dịch với Tàu sẽ xảy ra vì Tàu dùng nguyên liệu của Úc rồi lại đem các chế phẩm hoàn tất bán ngược trở lại trên đất Úc.
Tại Brazil và Nam Mỹ Tàu cũng có những chính sách tương tự nhưng yếu hơn. Việc làm ăn giữa Tàu và Brazil được báo Washington Post mô tả như sau: “Trên bãi cát vàng dài 175 dặm ở bờ Đại Tây Dương, phía Bắc Rio De Janeiro, Tàu đang xây dựng một thực thể kinh tế mới. Tại đây người ta thấy những con tàu khổng lồ đang lấy quặng sắt hoặc lấy dầu trở về Bắc Kinh. Nhìn chung thành phố này lớn gấp đôi Manhattan với nhiều hãng xưởng hoạt động tấp nập.”.. Sự đầu tư của Tàu vào Brazil sẽ làm chậm sự phát triển của các công ty thuộc chính quyền địa phương.

Kết luận

Trong bài diễn văn đọc tại Paris khi đến tham dự lễ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Pháp-Trung, Tập Cận Bình có nhắc lại câu nói của Napoleon Bonaparte, nhưng y đã thêm một lời khuyến dụ như sau: “Con sư tử Trung Quốc giờ đây đã thức dậy nhưng đây là một con sư tử hòa bình, dễ mến và văn minh”.
Lời khuyến dụ của Đặng Tiểu Bình không được nhiều người tin tưởng. Giáo sư Jean Pierre Cabestan của trường Đại học Hong Kong nhận xét: “Sư tử là một con vật to lớn, hoang dại, chuyên ăn thịt những con thú khác, khá giống Trung Quốc trong mối quan hệ của họ với các nước xung quanh”.
Nhà báo Trần Thế Diệu, chủ bút tờ Thế giới Nhật báo tại New York viết thêm rằng: “Rõ ràng câu nói đó chỉ dành cho người Trung Quốc nghe mà thôi chứ người ngoài không ai tin nổi”.
Giáo sư Richard Rigby của Đại học Quốc gia Úc tóm lược cách tiếp cận của Trung Quốc hiện nay là: “Cứ lấn tới ở bất cứ nơi nào chùng ta có thể”. Nhận xét này của Rigby cũng được giáo sư Hoàng Tĩnh của Đại học Quốc gia Singapore đồng ý và nói theo cùng một chiều hướng: “Họ là những người làm những gì có thể, bất kể là có nên hay không”.
Đã đến lúc Hoa Kỳ và thế giới dân chủ phải có thái độ và hành động quyết liệt hơn với cái đế quốc thực dân mới đang hoành hành như chỗ không người. Cái giây thòng lọng mà Bắc Kinh quàng vào cổ nền kinh tế thế giới đang từ từ siết chặt. Kinh nghiệm này Hoa Kỳ đã trải qua kể từ khi Washington lỏng tay cho Đặng Tiểu Bình tác yêu tác quái [….].(*)
18.07.2017
Nguyễn Cao Quyền

Những chiến binh “phát đạt”: Từ may mắn lịch sử đến tha hoá thể chế

Các tướng lĩnh quân đội đang liên tục “nã pháo” vào nhau trong cuộc khẩu chiến về việc quân đội có nên làm kinh tế hay không.
clip_image002

Câu chuyện quân phiệt cũ

Trong một tài liệu giải mật của Trung tâm Tài liệu Quốc phòng Hoa Kỳ nghiên cứu về vai trò của quân đội tại các quốc gia đang phát triển, chủ nghĩa quân phiệt luôn là một vấn đề lớn, và sẽ để lại rất nhiều hệ quả cho các quốc gia này sau khi cách mạng chống thực dân thành công.
Khác với các hình thái tổ chức chính trị, quân đội là một tổ chức chuyên nghiệp đặc biệt khép kín với khả năng tồn tại độc lập mà không phụ thuộc vào bất kỳ nhân tố bên ngoài nào khác.
Một đảng phái được tập hợp bởi các nhóm lợi ích, chính trị gia cần nỗ lực rất nhiều mới có thể nhận được nền tảng ủng hộ dân sự cần thiết, từ đó đảm bảo vị thế tài chính, vai trò chính trị, ảnh hưởng tư tưởng của họ trong cộng đồng dân cư. Nếu cần thiết, lời kêu gọi cuối cùng cho một cuộc cách mạng vũ trang sẽ dựa trên những nền tảng đã liệt kê.
Ngược lại, một nhóm quân nhân không cần quá nhiều nền tảng như thế. Mô hình tổ chức chóp bu với sự phân công chuyên nghiệp và nghĩa vụ lao động bắt buộc khiến các nhóm tổ chức quân sự có thể bắt đầu một cuộc cách mạng vũ trang tự thân mà không cần ảnh hưởng tư tưởng, chính trị nào cả. Tiếng vang trong các trận thắng của họ sẽ tự nó có giá trị lên quần chúng.
Điều này khiến cho cách mạng vũ trang có tiền thân quân sự thuần túy (hay được dẫn dắt bởi các tướng lĩnh quân sự) thường hiệu quả, được phát động rất dễ dàng và từ đó được ưa chuộng hơn tại nhiều quốc gia thuộc địa.
Điều này được thể hiện rất rõ tại châu Mỹ Latin và châu Phi. Các thủ lĩnh quân sự của phong trào giành độc lập nhanh chóng trở thành anh hùng chính trị, biểu tượng của quốc gia. Mô hình thể chế, vốn ngay từ giai đoạn bắt đầu đã ít có mối liên kết dân sự nào, lệ thuộc nặng nề vào tổ chức quân đội. Khi những vị tướng lĩnh này mất đi, cả nền chính trị quốc gia không có nền tảng nào khác ngoài các nhóm quân đội địa phương, nhanh chóng trở thành những nhân tố chủ chốt. Chủ nghĩa quân phiệt dần dà trở thành thói quen chính trị ở cấp độ quốc gia.
Minh chứng rõ ràng nhất là tâm lý cách mạng quân đội này là ảnh hưởng của vị tướng, nhà cách mạng Simon Bolivar lên kiểu cách mạng ‘junta’ của Hugo Chavez hay Fidel Castro sau này.
Ở châu Phi, tình hình thậm chí còn tệ hơn. Một nền chính trị yếu đuối với các hoạt động dân sự không phát triển không khó để thấy các tướng lĩnh quân đội đóng vai trò mấu chốt trong hoạt động chính trị tại nơi đây. Trong một số trường hợp như ở Dahomey và Togo, các quân đội địa phương và nhóm vũ trang được dẫn dắt bởi những thủ lĩnh quân sự có tham vọng thậm chí có thể gây đình trệ cho hoạt động chính phủ trung ương trong một thời gian dài.
clip_image004
Fidel Castro và Hugo Chavez – hai gương mặt của chủ nghĩa quân phiệt Mỹ Latin. Ảnh: Reuters.

Cách mạng Việt Nam: May mắn của lịch sử, câu hỏi cho hiện tại

Cách mạng Việt Nam may mắn thay không rơi vào tình trạng này. Nó được dẫn dắt bởi một chính thể chính trị dân sự tương đối vững chắc – Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bạn có thể đồng ý hoặc không đồng ý, nhưng việc một nhân sĩ, với gốc gác trí thức phong kiến và có va chạm ở một mức độ nhất định với tư tưởng chính trị cấp tiến châu Âu thời kỳ đầu như Hồ Chí Minh giúp cuộc cách mạng Việt Nam có nền tảng dân sự rõ ràng hơn nhiều so với các cuộc cách mạng dân tộc giải phóng thuộc địa khác ở Nam Mỹ hay châu Phi.
Theo nhận định của tài liệu giải mật đã dẫn về vai trò của quân đội trong kinh tế, chính trị tại Đông Nam Á, dù các phương pháp bạo lực rất được xem trọng, các chuyên gia không thể xác định rõ được tầm ảnh hưởng của quân đội đối với uy quyền và mô hình chính phủ được thành lập (ngoại trừ quyền lực cực lớn của giới tướng lĩnh quân sự tại Thailand và Burma). Đây có thể nói là thành công của đảng Cộng sản Việt Nam, khi sử dụng bạo lực như một công cụ đắc lực, nhưng lại không để quyền lực của nhóm tướng lĩnh quân sự có thể che khuất các chức danh dân sự được bầu khác.
Điều này có vẻ thay đổi sau thành công của Viettel và sự thất bại nặng nề của các “quả đấm thép” khác trực thuộc chính phủ. Các công ty quân đội đang bắt đầu thể hiện quyền lực ở mọi phương diện quan trọng của nền kinh tế, từ viễn thông, thông tin, bất động sản, xây dựng, ngân hàng, hàng hải… Cái mác “quốc phòng”, theo nhiều nhà quan sát, đang được sử dụng trong các tranh chấp đất đai dân sự (như vụ Đồng Tâm).
Điều đáng kể tiếp theo cũng phải nhắc đến quyền lực cục bộ về đất đai của các tướng lĩnh được thể hiện trong vụ Tân Sơn Nhất.
Theo lời của Đại tướng Ngô Xuân Lịch, từ năm 2007 đến 2017, Bộ Quốc phòng đã bốn lần điều chỉnh quy hoạch và bàn giao 98,7 ha đất trong sân bay Tân Sơn Nhất cho Bộ Giao thông – Vận tải. Từ năm 2004 đến năm 2017, Bộ Quốc phòng cũng đã bàn giao khoảng 10,5 ha đất quốc phòng cho chính quyền TP. Hồ Chí Minh để mở rộng đường giao thông đô thị. Bộ Quốc phòng đã bàn giao hơn 1.500 ha tại 13 sân bay cho hoạt động hàng không dân dụng và địa phương phát triển kinh tế, xã hội.
Dù không thể tìm ra thống kê chính thống về số lượng đất mà quân đội đang nắm giữ, bấy nhiêu đủ cho chúng ta thấy vai trò “chúa đất” của quân đội trong hệ thống sở hữu đất đai toàn dân hiện nay.
Những đế chế kinh doanh kể trên khiến quân đội vốn đã là một lực lượng mạnh trong nền chính trị quốc gia, có khả năng trỗi dậy trở thành một thế lực độc lập với những chính thể dân sự truyền thống. Điều này đã từng xảy ra tại Trung Quốc.
Vậy nên, có lẽ đã đến lúc đặt ra câu hỏi là mức độ ảnh hưởng của quân đội Việt Nam như là một tổ chức độc lập với bất kỳ tổ chức chính trị nào khác đến đâu? Liệu có phải hệ thống chính trị trung ương tại Việt Nam cho phép sự tồn tại của các tổ chức kinh tế quân đội, hay cơ bản là chúng ta đã mất quyền kiểm soát trên thực tế?
clip_image006
Sân golf Tân Sơn Nhất vẫn là dấu hỏi lớn về mục đích giữ đất và hoạt động kinh doanh của Bộ Quốc phòng. Ảnh: Tuổi Trẻ.

Quân đội + thị trường: Nền móng của sự tha hóa

Một điểm cần khách quan ghi nhận là hầu hết quân đội tại các quốc gia trên thế giới đều có tham gia hoạt động kinh tế của một số ngành công nghiệp nặng và nông nghiệp ở mức giới hạn, giúp chúng có khả năng tự duy trì, từ đó giảm gánh nặng chi phí quốc phòng cho quần chúng nhân dân. Nhưng thứ khiến hoạt động kinh tế quân đội trở nên đặc biệt tại Trung Quốc, Việt Nam hay gần đây là Ai Cập là bởi vì quân đội ở những quốc gia này được quyền tham gia vào các hoạt động kinh tế thuần lợi nhuận với danh nghĩa nhiệm vụ quốc phòng.
Có nhiều lý do để phản đối thực hành này. Nhiều học giả khẳng định nguyên lý tổ chức của lực lượng vũ trang sẽ không bao giờ hòa hợp với nguyên tắc quản trị kinh doanh. Một khi quân đội dấn thân vào thế giới kinh danh, logic của lợi thế kinh tế, hiệu quả quản trị và sự mở rộng kinh doanh khiến cấp bậc quân sự mất đi giá trị, mô hình chóp bu tạo nên đặc trưng của quân đội mất đi bản chất của mình. Điều này dẫn đến hai vấn đề chính.
Một là, sự lệch pha của mô hình quản lý từ cao xuống thấp theo cấp bậc quân đội trong mô hình kinh doanh thường được nối lại bởi tham nhũng và chủ nghĩa thân hữu.
Hai là, quân đội bị kéo ra khỏi quỹ đạo hoạt động đáng lẽ nó phải đi theo. Các nguồn lực quốc phòng thường rất hay được xem là nhàn rỗi khi không có chiến sự. Vậy nên không khó để những công ty quân đội sử dụng chúng để tạo ra lợi nhuận. Tại Trung Quốc, những tập đoàn quân sự này từng được xem là căn cơ để tăng thu nhập cho quân nhân nhập ngũ. Điều này cũng thường dẫn đến việc thành công của các mô hình kinh doanh quân đội thường bị thổi phồng, đặc biệt khi so sánh tương đối với những “nguyên liệu thô đầu vào” mà quân đội có.
***
Động thái của Chủ tịch Tập Cận Bình, với vai trò là người đứng đầu của Ủy ban Quân ủy Trung ương yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động kinh tế của quân đội được lý giải bởi nhiều khía cạnh.
Theo giải thích của tờ Giải phóng quân nhật báo, tờ báo chính thức của quân đội Trung Quốc, lợi nhuận sẽ làm lung lạc quân đội khỏi mục tiêu quan trọng nhất là tăng cường năng lực chiến đấu. Một giáo sư của trường Đại học Quốc phòng Trung Quốc cho rằng các dịch vụ có lợi nhuận sẽ dẫn đến tham nhũng trong quân đội.
Một số khác cho rằng đây là bước đi của Tập Cận Bình để kiểm soát sự trung thành của lực lượng vũ trang. Nhiều người cũng tin rằng đây là cách mà Tập Cận Bình hạn chế sự bùng nổ của chủ nghĩa trọng thương tại Trung Quốc và dẫn dắt người dân trở lại những giá trị xã hội chủ nghĩa xưa cũ.
Liệu Nhà nước Việt Nam có đủ sức, và sẽ dùng lý do gì để tước đi mô hình kinh doanh trị giá hàng chục nghìn tỷ đồng khỏi các nhóm lợi ích?Nguyễn Quốc Tấn Trung

No comments:

Post a Comment