Friday, July 21, 2017

Bài viết hay(5203)

Bolsa nói Chung con hí hửng sau khi lập công nhưng thằng Hải lại chỉ đạo công an Hà Nội truy cứu tội Đồng Tâm bắt giữ cán bộ. Tui lại nghĩ khác: chúng nó diễn tuồng thôi chứ chớ vội kết luận chúng nó đánh nhau mà ta tưởng bở nhào vô là ...ăn cám. Nhiều ông Bolsa cứ mơ chuyện VC đảo chánh để VN sớm có Gorbachev nhưng xem ra VC vẫn ra sức đoàn kết ăn đồng chia đủ để tất cả cùng hốt đầy túi. Sự kỳ thị vùng miền hay phân chia phe bảo thủ vs cấp tiến chưa đủ sâu sắc để tạo nên biến động. Tôn giáo vẫn chưa thể kết hợp thành lực đối trọng với chế độ vô thần. 

Thấy gì qua ‘khẩu khí Nguyễn Đức Chung’?

Ngày 7 tháng Bảy năm 2017, vụ Đồng Tâm chính thức biến diễn sang một giai đoạn mới mang tên “Hồi tố”, sau giai đoạn đầu mang tên “Nổi dậy”.

clip_image002
Một cảnh sát lạy tạ dân làng Đồng Tâm khi được phóng thích ngày 22 tháng Tư.

Cú lật tê tái
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung - nhân vật từng lăn tay, và cùng với đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã từng ký sống vào bản cam kết “không truy tố toàn thể nhân dân Đồng Tâm” vào cuối tháng 4/2017, nhưng sau đó đã quay ngoắt “khởi tố là việc của cơ quan điều tra” - bất ngờ có một bài phát biểu dài và có chất hùng biện tại Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức vào buổi sáng ngày 7/7/2017, ngay sau khi Thanh tra Hà Nội công bố dự thảo kết luận về đất đai tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức.
Trong dự thảo thanh tra trên, người dân Đồng Tâm đã phải nhận một cú lật tê tái: Thanh tra Hà Nội khẳng định không có diện tích 59 ha đất nông nghiệp đồng Sênh, mà toàn bộ thuộc về đất quốc phòng.
Kết luận trên có thể được hiểu là toàn bộ hồ sơ khiếu nại, tố cáo của dân Đồng Tâm về đất đai là vô giá trị; những nông dân sinh sống trên mảnh đất chôn rau cắt rốn sẽ trở thành tay trắng mà không được nhận một đồng bồi hoàn nào từ chính quyền và Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel); những nông dân nào không chịu di dời sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị chính quyền tổ chức cưỡng chế, thậm chí có thể dùng công an và quân đội đàn áp để tuyệt nọc mầm mống “khủng hoảng”.
“Khủng hoảng” lại là từ ngữ được phát ra trong bài nói chuyện ngày 7/7/2017 của Nguyễn Đức Chung. Từ ngữ hết sức đặc biệt và nhạy cảm này nằm trong cụm từ “khi xảy ra khủng hoảng” mà ông Chung đề cập khi nhắc lại sự kiện Đồng Tâm vào tháng Tư năm 2017.

Đảng thừa nhận “khủng hoảng”!

Cần lưu ý, cụm từ “khủng hoảng Đồng Tâm” chỉ được sử dụng chủ yếu trên một số trang mạng chính trị độc lập, thi thoảng được nói lướt qua trên vài tờ báo nhà nước, nhưng chưa từng được một quan chức nào từ nhỏ đến lớn thốt ra.
Hiện tượng lần đầu tiên một quan chức có trách nhiệm như Ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Đức Chung xác nhận về “khủng hoảng Đồng Tâm” cho thấy nhiều khả năng trong tâm não các cấp cao hơn của ông Chung - Ban Bí thư và Bộ Chính trị Đảng - vụ Đồng Tâm đã không còn đơn thuần là một vụ việc “khiếu kiện đông người”, “gây rối trật tự” hay “điểm nóng xã hội”, mà thậm chí đã vượt quá phạm trù “điểm nóng chính trị” để trở thành một cái gì đó ghê gớm mang tầm cỡ an ninh ninh quốc gia, để từ đó cụm từ “khủng hoảng Đồng Tâm” có thể đã được viết ra ngày càng dày đặc trong các văn bản nội bộ của các ngành, các cấp, cùng lúc được nói ra ngày càng công khai trong các cuộc họp của các ngành, các cấp.
“Khủng hoảng Đồng Tâm” cũng là một khái niệm mới trong chính trị nội bộ, hoàn toàn logic với tin tức ngoài lề cho biết trước khi Nguyễn Đức Chung về thôn Hoành để “đối thoại” với dân vào ngày 22/4/2017, Bộ Chính trị đã phải họp đến hai ngày liên tục để tìm ra phương cách “tháo ngòi nổ”.
Sau đó, thủ pháp “tháo ngòi nổ” đã mỹ mãn đến mức chính quyền Hà Nội không những giải cứu được gần bốn chục “con tin” là cảnh sát cơ động và cán bộ bị dân bắt giữ, mà Nguyễn Đức Chung còn được báo Đảng tôn vinh là “ngôi sao”, “người hùng”, trong lúc không ít người dân Đồng Tâm phấn khởi thật lòng khi bày tỏ “vẫn tin yêu Đảng” và “có Đảng là có tất cả”.

Có Đảng là có tất cả!

Duy có điều, nếu Đảng có được phép thuật “cho tất cả” như một số người dân vẫn tin tưởng, thì Đảng cũng rất dễ lấy đi tất cả. Mục tiêu chính yếu nhất của chiến dịch “hồi tố Đồng Tâm” vừa lộ rõ: trên danh nghĩa “đất quốc phòng” và chẳng cần phải minh bạch bất kỳ chi tiết nào về dự án của Tập đoàn Viettel, quân đội sẽ lấy sạch 59 ha đất của dân.
Không biết vô tình hay hữu ý, đúng vào ngày công bố dự thảo kết luận thanh tra tại huyện Mỹ Đức, Bộ trưởng quốc phòng Ngô Xuân Lịch đã “thăm và làm việc” tại Viettel với những chỉ đạo không thể vô tình: “trách nhiệm chính trị của Đảng bộ quân đội là phải phấn đấu có thêm nhiều doanh nghiệp như Viettel”, và “tham gia phát triển kinh tế, xây dựng kinh tế là chức năng, thể hiện được truyền thống của quân đội nhân dân Việt Nam”.
Ông Ngô Xuân Lịch - nhân vật mất hút tại kỳ họp quốc hội tháng 5 - 6 năm 2017 liên quan đến một cuộc khủng hoảng khác - “sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất” - đã bất thần lộ diện như thế, bất thần và như một cách lên tiếng phủ nhận phát biểu “quân đội sẽ không làm kinh tế nữa” và “đây là chủ trương của Bộ Quốc phòng” của Thứ trưởng quốc phòng Lê Chiêm chỉ mới vào cuối tháng 6/2017.
Trong bài phát biểu tại huyện Mỹ Đức vào ngày 7/7/2017, cựu điều tra viên công an Nguyễn Đức Chung lại nhiệt thành tôn cao vai trò của quân đội theo cách “ai là người đi bảo vệ đất nước, ai là người cho chúng ta sống trong bình yên?”, đồng thời nhắc đến vai trò của Cục Điều tra Hình sự thuộc Bộ Quốc phòng - một động tác có thể được hiểu là hàm ý đe dọa: quân đội sẽ vào cuộc đàn áp dân Đồng Tâm nếu dân ở xã này tiếp tục phản kháng.
Trong thực tế, đã có dấu hiệu quân đội tham gia vào chiến dịch “khủng bố” người dân Đồng Tâm. Sau vụ ông Lê Đình Kình - một trong những thủ lĩnh tinh thần của phong trào khiếu kiện thôn Hoành bị bắt cóc, trên mạng xã hội đã lan tỏa thông tin về một trong những kẻ bắt cóc ông Kình là sĩ quan quân đội.
Kết nối sự việc Thanh tra Hà Nội dự thảo kết luận “không có 59 ha đất nông nghiệp tại đồng Sênh” cùng khẩu khí đề cao vai trò quân đội của Nguyễn Đức Chung với một sự việc xảy ra ít ngày trước đó - Công an Hà Nội bất ngờ khởi tố vụ gây rối trật tự và bắt giữ người trái phép tại Đồng Tâm, khó mà hiểu khác hơn rằng “khởi tố” là một động tác nhằm gây sức ép tâm lý, tạo sự đe dọa đối với người Đồng Tâm, để rốt cuộc người dân ở đây sẽ phải chấp nhận thân phận đen đủi, để mặc cho Viettel và phía quân đội lấy sạch đất đồng Sênh.
Nhưng không chỉ có thế…

Từ “khoan hồng” đến “buộc tội”

Tháng 4/2017, vụ người dân Đồng Tâm đã dám bắt đến cả một trung đội cảnh sát cơ động trong cả thảy 38 cán bộ và nhân viên công lực để đưa vào quy chế “trao đổi tù binh” chính là một sự sỉ nhục chưa từng có đối với ngành công an - vốn chỉ biết lấy số đông đánh người mà chẳng mấy khi bị người đánh lại.
“Hồi tố” của chính quyền đối với dân Đồng Tâm cũng bởi thế đang biến diễn lạnh lẽo và tỉ mẩn thủ đoạn. “Xử quan trước, xử dân sau” đang là một phương châm được khẩu hiệu hóa trên hệ thống tuyên truyền một chiều của Đảng.
Nhưng thực chất là “xử quan nhỏ trước, xử dân sau”. Những quan chức bị đem ra xét xử chủ yếu là cấp xã. Tuyệt đối không liên đới gì trách nhiệm của những viên công an đã đánh ông Lê Đình Kình gãy xương đùi và sau đó bắt cóc ông.
Chỉ có điều, muốn “xử dân” lại không phải là chuyện dễ. Nếu trước đây chỉ cần công an huyện Mỹ Đức là đã tự cho họ cái quyền sách nhiễu, khủng bố và bắt cóc dân, thì sau vụ “bắt giữ con tin”, không quan chức nào từ thấp đến cao dám cam đoan là sẽ không bùng nổ một trận “rào làng chiến đấu” nữa ở Đồng Tâm.
Bởi thế mới có nội dung “Chính việc cơ quan khởi tố là điều kiện để cho mọi người chứng minh được đấy là giai đoạn thời gian, còn giai đoạn truy tố là giai đoạn đến tòa, viện, giai đoạn xét xử. Từ giai đoạn thời gian này mọi người sẽ tập hợp và cơ quan điều tra sẽ chứng minh tất cả những gì mọi người được hưởng khoan hồng” trong bài phát biểu ngày 7/7/2017 của cựu điều tra viên Nguyễn Đức Chung. Đáng chú ý, lý lẽ này của ông Chung là rất gần gũi với xảo biện của giới dư luận viên khi cố gắng thuyết mị “dân cứ hợp tác và thành khẩn với cơ quan điều tra rồi sẽ được khoan hồng”, nhưng sau đó lại trở mặt: “cam kết là không truy tố toàn thể nhân dân Đồng Tâm chứ có cam kết là không truy tố một số cá nhân đâu”.
Tương lai “sẽ truy tố một số cá nhân” đã được cụ thể hóa bằng từ “buộc tội” của ông Nguyễn Đức Chung trong bài hùng biện của mình: “Tôi xin nói với các cụ là ban đầu dân tự chia nhau, các cụ hiện nay đang tập hợp bảo lấy tài liệu chúng tôi vào mà tự chia nhau. Chính tài liệu đấy các cụ đòi quyền lợi và chính tài liệu đấy buộc tội các cụ lấn chiếm đất”.
Một lần nữa cần nhắc lại, ông Chung từng là điều tra viên công an có thâm niên, có trình độ luật học và do đó khá thường phải chính xác trong cách dùng từ ngữ luật. Không biết vô tình hay hữu ý, từ “buộc tội” của ông Chung đã khiến toát ra cả một chủ trương “trừng phạt” của chính quyền và một triển vọng có thể rất đen tối dành cho người dân Đồng Tâm.
Đen tối như thế nào?
Nếu “điều tra” là giai đoạn của công an, “truy tố” là giai đoạn của viện kiểm sát, thì “buộc tội” chính là tòa án. Sau đó sẽ là tù đày.
Vô tình hay hữu ý, trùng thời điểm với bài phát biểu hùng biện của ông Chung tại huyện Mỹ Đức, một lần nữa - sau vụ Công an Hà Nội khởi tố Đồng Tâm vào tháng 6/2017 - giới dư luận viên lại gào thét “Cho bọn khố rách áo ôm ở Đồng Tâm chết hết đi! Dám bắt công an hử? Dám làm loạn hử? Tống chúng nó vào tù hết đi!”.

Tái hiện “lốt” công an

Khác hẳn với thái độ như gà mắc tóc “tôi phải ký vì người dân ép tôi” khi bị ông Lê Đình Kình chất vấn vụ Công an Hà Nội thình lình khởi tố Đồng Tâm vào tháng Sáu, bài nói chuyện của Nguyễn Đức Chung vào tháng Bảy lại mang khẩu khí tự tin, quyết liệt và khá gãy gọn, trừ một đoạn sau có phần trùng lắp với nội dung đoạn trước.
Kể cả một đặc tính nữa: khẩu khí bài nói chuyện trên rất “công an”.
Hướng về phía luật sư Trần Vũ Hải, ông Chung đanh giọng: “Mà các anh không được phép hỏi, thậm chí cấp nào mới được biết chứ không phải giải thích cho các anh đất làm gì? Các anh không có quyền đó, bởi đó là an ninh quốc gia…”.
Cũng khác với tháng 4/2017 là lúc “tang gia bối rối’, nội bộ “năm cha bảy mẹ”, vào lần này hẳn ông Chung đã được Bộ Chính trị, mà có thể trực tiếp là TBT Trọng, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an bật đèn xanh để tỏ ra cứng rắn trước “bọn khố rách áo ôm”.
Tuy nhiên, khác rất nhiều những năm trước đây, Bộ Chính trị Đảng đang phải đối mặt với một khoảng cách lớn chưa từng có giữa “ý Đảng” với “lòng dân”. Thực tế cưỡng chế giải tỏa đất đai trong những năm gần đây lại chứng minh một sự thật trần như nhộng là chỉ cần dân “cương” một chút và đông đảo hơn lực lượng cưỡng chế, giới quan chức đành phải tự an ủi “nói thì cứ nói, nhưng làm thì phải từ từ”.
Cũng bởi thế, dự thảo thanh tra về Đồng Tâm được công bố vào tháng Bảy này chủ yếu mang mục đích thăm dò. Cứ công bố, xem thử phản ứng của dân thế nào, nếu dân yếu ớt thì làm tới luôn…
Thế nhưng ngay sau vụ Công an Hà Nội khởi tố Đồng Tâm vào tháng 6/2017, ông Lê Đình Kình đã bật ra “Vụ Đồng Tâm lại khủng hoảng rồi”.
Khủng hoảng Đồng Tâm, cũng vì thế, sẽ còn kéo dài - giai đoạn 2. Còn người dân có bị “hồi tố” theo ý chỉ của chính quyền, công an và cả quân đội hay không thì chỉ đến khi nhận ra “có Đảng là có tất cả” là một viễn tượng trên trời, người dân mới biết phương cách để tự quyết định số phận của mình “trước khi trời cứu”.Phạm Chí Dũng

Việt Nam sẽ phát triển bằng... ‘huy động’ và in tiền?

Nhà nước sẽ không lặp lại cách thức đổi tiền như năm 1985, mà ngược lại sử dụng kịch bản mang tính tinh vi hơn bằng cách dùng truyền thông và khả năng in tiền để tạo ra một cuộc lạm phát có chừng mực nhằm đẩy giá vàng lên cao nhất.
Câu chuyện phát triển thiếu bền vững của Việt Nam tiếp tục là câu chuyện dài hơi!
clip_image002
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từng phát biểu vào năm 2015 rằng, “Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: Nước… không chịu phát triển!”, và nay - nó ngày càng minh chứng cho tính sự… thật!

Trong tuần vừa qua, chủ lực tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam là dầu khí và ngành than (đóng góp lớn cho GDP) nhận tin đáng buồn! Trong khi ngành dầu khí đối diện với thực trạng giá dầu giảm - chỉ mức 40-50 đô la Mỹ/thùng, khiến bản thân lãnh đạo ngành phải thừa nhận “sẽ dẫn đến việc thu xếp tài chính rất khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN)” thì ngành than lại phải trong hoàn cảnh tồn kho lên mức 18,85 triệu tấn!
Năm 2015, than và dầu khí đứng thứ 3 trong nhóm yếu tố góp phần tăng trưởng GDP của Việt Nam!
Cùng lúc đó, phía Chính phủ đang đối diện với áp lực lớn liên quan đến chỉ số tăng trưởng, dẫn đến việc, trong suốt thời gian vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc liên tục nhắc lại quan điểm tăng trưởng Chính phủ là phải đạt tăng trưởng GDP 6,7% năm 2017, với 6 tháng đầu năm đạt 5,73% thì nhiệm vụ của 6 tháng còn lại phải là 7,42%.
Con số này rất lớn trong bối cảnh chung của nền kinh tế, buộc “cả hệ thống chính trị” phải gia tăng sức ép lên các thành phần trong nền kinh tế - xã hội. Kết quả, đề án chống đô-la hoá, vàng hoá ra đời; cũng như khi chủ trương huy động nguồn lực vàng trong dân chưa dứt thì yêu cầu 3 lần từ Chính phủ về việc huy động đô-la trong dân bắt đầu.

Việt Nam sẽ phát triển bằng... “huy động” và in tiền!?

Vấn đề đặt ra là, ngay cả khi đề nghị sự huy động này không chảy vào đại gia mà vào DN khởi nghiệp, sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng thì liệu điều này có hiện thực hay không?
Thứ nhất, mấu chốt của “huy động” nguồn lực trong dân chính nằm ở niềm tin của người dân đối với Chính phủ! Làm cách nào để huy động khi mà giá trị niềm tin về điều hành và hoạch định chính sách kinh tế của Chính phủ bung bét trong thời gian vừa qua. Chưa đề cập đến 12 dự án thua lỗ hàng nghìn tỉ đồng, thì ngay với tập đoàn EVN - vốn là DNNN độc quyền - vừa qua lại gánh 10.000 tỷ đồng lỗ tỷ giá, nhưng “đi xa hơn cả” là EVN lại muốn tính vào giá điện. Đối với PVN, thì trong nước chỉ tính riêng đợt nâng cấp Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã lỗ 85.000 tỷ đồng, bên ngoài thì đầu tư dầu khí tại nước “Xã hội chủ nghĩa Venuzuela” gây thiệt hại 11.500 tỷ đồng.
Dân nào sẽ can đảm thế chấp niềm tin rằng, nguồn tiền họ bỏ ra sẽ không tiếp tục “đài thọ” cho các tập đoàn này?
Nhà nước có lẽ đã hiểu sự sụp giảm niềm tin đó nên vừa qua, có liên tiếp các sự kiện liên quan đến chấn chỉnh tình hình kinh doanh của các tập đoàn nhà nước cũng như tìm cách tiến hành các hoạt động pháp lý đối với các sai phạm liên quan đến sử dụng nguồn ngân sách. Điển hình như, Bộ Công an và Thanh tra vào cuộc xử lý vụ 12 dự án thua lỗ nhằm chứng minh quyết tâm Chính phủ trong làm sạch nền kinh tế!
Và trong một diễn biến được cho liên quan, Bộ Tài chính đôn đốc trả nợ tiền vay dân trong 2 cuộc kháng chiến! Thực ra nếu nhìn vào đây, thì có thể nhận ra ý đồ đằng sau là “khẳng định tính uy tín” của Chính phủ trong vay-trả nợ; và gián tiếp khuyến khích người dân gửi tiền hoặc ủng hộ chính sách huy động trong dân!
Vấn đề tiếp tục nảy sinh là, làm cách nào để thu hồi nguồn tiền thất thoát do tham nhũng và khả năng điều hành kém cỏi mang lại, cũng như giữ chân được sự trượt giá của đồng tiền? Ngay cả đề án huy động của Chính phủ cũng tiếp tục gieo rắc một sự sợ hãi trong dân về hiện tình nền kinh tế bị vắt kiệt sữa, khả năng hạn chế chi tiếp tục suy giảm dẫn đến tăng cường nguồn thu. Bởi không đâu xa, bội chi thông qua con số biên số tăng nhanh tiếp tục là vấn đề nóng, và gần như không thể kiềm hãm được, theo thông tin vào tháng 5/2017 cho thấy, biên chế tiếp tục tăng 20.400 người chiếm 0,57 % thay vì giảm theo “quyết tâm đến năm 2021 giảm thêm 10%”.
Vậy Nhà nước sẽ làm bằng cách nào? Chỉ có một cách, đó là Nhà nước sẽ không lặp lại cách thức đổi tiền như năm 1985, nhưng sử dụng kịch bản tương tự mang tính tinh vi hơn, bằng cách dùng truyền thông và khả năng in tiền để tạo ra một cuộc lạm phát có chừng mực để đẩy giá vàng lên cao nhất (kết hợp với độc quyền vàng qua tín chỉ vàng), kích thích lòng tham trong dân, buộc họ bán ra (thậm chí là lướt sóng vàng, đô-la), để thu gom vàng, đô-la. Kết quả, người dân sẽ thu về tiền đồng với khả năng trượt giá vô hạn, lúc đó đồng tiền của Việt Nam là phiên bản của đồng tiền Zimbabwe.Anh Văn

Giá than thấp làm năng lượng tái tạo ở Việt Nam không phát triển


clip_image002
Nhà máy điện gió đầu tiên tại Việt Nam, tại Tuy Phong, Bình Thuận. Ảnh chụp tháng năm, 2014.
Trong hai năm qua, cụm nhà máy nhiệt điện chạy than Vĩnh Tân tại Bình Thuận gây ra nhiều vấn đề không tốt liên quan đến môi trường, từ việc biểu tình chống khói bụi của hàng ngàn người dân, cho đến lo lắng của doanh nghiệp và ngư dân Bình Thuận về việc dìm bùn nạo vét ngoài biển tỉnh này.

Trong khi đó tỉnh Bình Thuận, và Ninh Thuận gần kề lại được đánh giá là nơi có tiềm năng rất lớn trong việc sản xuất năng lượng từ gió và mặt trời, còn gọi là năng lượng tái tạo, không gây ô nhiễm.
Việc phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam bị trở ngại gì?
Vào năm 2015, ông Phạm Khánh Toàn, Viện trưởng Viện năng lượng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, có nói với chúng tôi về kế hoạch phát triển năng lượng của Việt Nam sắp tới đây:
“Hiện nay theo tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam đến năm 2030 thì nhiệt điện than sẽ chiếm tỷ trọng cao nhất, có thể đến 45%. Còn lại thủy điện, dầu khí đều giảm. Còn năng lượng mặt trời sẽ chiếm khoảng 6% vào năm 2030”.
Trong khi đó thì trên thế giới lại có xu hướng ngược lại. Tại Mỹ, quốc gia có nhiều mỏ than lớn, lượng điện sản xuất từ than đã giảm liên tục. Theo tạp chí kinh tế Economics của Anh, các nhà máy điện chạy than chiếm 51% sản lượng điện của Hoa Kỳ vào năm 2005, giảm xuống còn 39% vào năm 2014. Khuynh hướng này hiện vẫn tiếp tục.
Trong khi đó thì lượng điện sản xuất từ gió và năng lượng mặt trời, lại liên tục gia tăng. Năm 2014 hai nguồn này chiếm 4% lượng điện của nước Mỹ, thì đến đầu năm nay, 2017, báo chí Mỹ đưa tin là hai nguồn này chiếm 10% điện sản xuất từ Mỹ, và số nhân công sử dụng trong các nhà máy điện gió, điện mặt trời cao hơn số công nhân sử dụng trong các nhà máy điện chạy than, dầu, và hạt nhân cộng lại.
Trong việc phát triển năng lượng tái tạo, Mỹ hiện vẫn còn đứng đằng sau nhiều quốc gia phát triển khác.
Một quốc gia lớn khác là Trung Quốc, vốn từ trước đến nay được xem là nước gây ô nhiễm bậc nhất thế giới vì các nhà máy điện chạy bằng than, nay đã đóng cửa nhiều nhà máy điện chạy than, và sản lượng điện tái tạo từ sức gió và mặt trời của nước này đang gia tăng mạnh mẽ, cao hơn cả Mỹ. Theo kênh truyền hình CNN của Mỹ thì Bắc Kinh định rằng đến năm 2030, năng lượng gió và mặt trời sẽ chiếm 20% sản lượng điện của Trung quốc.

Giá than thấp cản trở năng lượng tái tạo

Trong khuynh hướng tiến tới sử dụng năng lượng tái tạo, Việt Nam cũng đặt ra cho mình một chương trình phát triển năng lượng, trong đó giảm bớt việc sử dụng than đá hay dầu mỏ.
Theo kỹ sư Nguyễn Khắc Nhẫn, từng làm việc cho công ty điện lực Pháp, thì vào năm 2015, Chính phủ Việt Nam cũng đã công bố dự án phát triển năng lượng sạch, theo đó vào năm 2050, tỉ lệ điện sản xuất từ năng lượng tái tạo sẽ chiếm 43%. Trích dẫn này được ông đưa ra trong một bài viết cho đài RFA về khả năng phát triển năng lượng tái tạo cho Việt Nam đến năm 2050, theo đó đến năm 2050, thì Việt Nam có khả năng sử dụng 100% nhu cầu năng lượng của mình từ các nguồn năng lượng tái tạo.
Nhưng trên thực tế, các kế hoạch xây dựng hàng loạt nhà máy điện chạy than từ nam ra bắc, trong đó có cụm 4 nhà máy Vĩnh Tân, Bình Thuận, lại dường như đang chứng tỏ rằng Việt Nam đi ngược lại với chương trình năng lượng tái tạo mà mình tự đề ra.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế sống ở Hà Nội cho rằng một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy công ty điện lực Việt Nam xây dựng rất nhiều nhà máy điện chạy bằng than là do giá than ở Việt Nam hiện nay rất rẻ.
Việt Nam đã ký các hiệp định thương mại tự do, thuế nhập khẩu than xuống thấp, Việt Nam không đánh thuế giá trị gia tăng đối với than như là đối với xăng dầu. Cho nên giá than tiếp tục giảm một cách bất ngờ. Đấy là cái động lực làm cho ngành điện tiếp tục đầu tư vào điện than”.
Mặt khác việc xây dựng khá tốn kém các nhà máy điện sử dụng năng lượng gió và mặt trời cũng là một trở ngại làm cho Việt Nam không thúc đẩy năng lượng tái tạo.
Tháng tư năm nay, báo chí Việt Nam đưa tin rằng một nhà máy sản xuất điện từ gió đã được khởi công tại Đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận. Công trình này sẽ có công suất 40 Mwatt, với vốn đầu tư là 80 triệu đô la Mỹ.
Nếu so sánh một cách tương đối với nhà máy điện chạy than Vĩnh Tân 1, công suất 1200 Mwatt, vốn đầu tư 1 tỉ 800 triệu đô la, thì nhà máy điện gió vẫn đắt hơn.
Một vấn đề nữa được Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nêu lên là giá điện ở Việt Nam rẻ, cho nên không khuyến khích nhà đầu tư bỏ tiền vào các công trình nhà máy điện sử dụng năng lượng tái tạo:
Ở Việt Nam thì Liên minh châu Âu đã có một dự án để thúc đẩy, và cũng có những dự án khác để xây dựng điện gió, nhưng giá điện gió hiện nay vẫn cao hơn giá điện của EVN, và nếu như Việt Nam chưa có một chính sách điều chỉnh giá điện nhất định, thì điện gió sẽ tiếp tục tăng, nhưng khó có thể phát triển đến mức có thể thay thế được điện than”.

Tính toán kinh tế không bao gồm chi phí môi trường

Nhưng khi các nhà máy phát điện gió và mặt trời hoạt động thì có hai điểm lợi, thứ nhất là không cần cung cấp nhiên liệu, và thứ hai là không gây ô nhiễm, như các nhà máy điện chạy bằng than.
Cuộc biểu tình lớn làng ngàn người ở Tuy Phong, Bình Thuận diễn ra vào năm 2015 chống ô nhiễm do nhà máy điện than Vĩnh Tân gây ra, là một ví dụ cho thấy việc tính toán kinh tế khi quyết định xây các nhà máy điện than, người ta đã không lường được những chi phí do bất ổn xã hội gây ra bởi ô nhiễm.
Trong cuộc biểu tình đó, nhiều xe cộ bị đập phá, giao thông đình trệ hàng giờ liền trên quốc lộ. Một số người dân nói với đài RFA sau cuộc biểu tình đó rằng họ còn dự định sẽ bỏ xứ ra đi vì không thể sinh sống và sản xuất trong vùng đất bị ô nhiễm.
Khi việc dìm 1 triệu mét khối bùn tại vùng biển Bình Thuận được nêu lên, các doanh nghiệp và ngư dân Bình Thuận rất lo lắng là việc sản xuất của mình sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Các chủ trại nuôi tôm giống ở Tuy Phong cho biết là việc xây cầu cảng phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện chạy than Vĩnh Tân, làm cho chi phí lọc nước của họ tăng lên nhiều lần. Khi được chúng tôi trình bày điều này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết:
Đấy là những chi phí mà người ta cần phải tính đến, khi tính về điện than. Người ta không tính đến điều đó và người ta chỉ tính những hiệu ứng về kinh tế thôi, và đó là cái điều méo mó của cái việc chỉ vận dụng những tính toán về kinh tế, mà không tính đến những tác động bền vững và môi trường”.
Bên cạnh việc giải quyết nạn ô nhiễm do điện than gây ra, nhiều nhà quan sát, trong đó có Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà hoạt động xã hội dân sự sống ở Hà Nội lo lắng rằng Việt Nam sẽ là bãi rác công nghệ cũ của Trung Quốc, khi nước này đóng cửa các nhà máy điện than của mình nhằm bảo vệ môi trường của Trung Quốc, nhưng đồng thời lại xuất khẩu các nhà máy cũ này sang Việt Nam.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh thì trích lời Chủ tịch Ngân hàng Thế giới nói rằng việc Việt Nam cho xây dựng hàng loạt nhà máy điện chạy than là một thảm họa của nhân loại, và của chính Việt Nam.
Kính Hòa, phóng viên RFA

No comments:

Post a Comment