Sunday, July 23, 2017

Bài viết hay(5208)

Sáng nay tui đã hỏi anh tư bản đỏ một câu ngu vô cùng: Làm sao mấy anh có thể chuyển cả triệu đô qua Mỹ? Thực ra tiền Mỹ đâu có chạy ra khỏi Mỹ. Dịch vụ gửi tiền vẫn sống phây phây suốt 42 năm qua cho dù biết bao người Việt ở Mỹ đã chuyển tiền qua ngả không chính thức. Hàng vạn du học sinh đang là đầu cầu lý tưởng trong khi các thương gia, di dân qua kêt hôn, EB-5 đều là cáo gìa trong việc gửi tiền và quà về VN kia mà. Tui hỏi xong mới biết mình ngu khi anh tư bản đỏ tỉnh bơ, coi như chưa hề nghe, cứ ngó ngực giả của cô chủ quán cà phê. Ly dị chồng, về VN kết hôn với một đại gia là có tiền mở tiệm ngay; chưa kể vốn trời cho. VC khôn lắm chớ.

Vấn đề quân đội làm kinh tế


Vấn đề quân đội làm kinh tế những ngày gần đây đang trở thành “điểm nóng”, được dư luận cả nước rất quan tâm, với nhiều ý kiến rất khác nhau, kể cả trong các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ hưu trí và trong nhân dân. Không kể động cơ, thì ý kiến khác nhau ấy có thể xuất phát từ góc nhìn, từ quan niệm, quan điểm và cách tư duy khác nhau. Mặt khác, chứng tỏ chuyện quân đội làm kinh tế đang là vấn đề quan trọng, cần có sự thống nhất về nhận thức trên cơ sở kết luận rõ ràng và khoa học của các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Phần tôi chỉ xin góp vài ý kiến nhỏ để bạn đọc tham khảo.
Trước tiên, cần phân biệt quan điểm “Kinh tế gắn với quốc phòng” và vấn đề “Quân đội làm kinh tế”. Đó là hai việc khác nhau, không thể và không nên đồng nhất. Kinh tế phải gắn với quốc phòng là rất đúng, nhiều nước (nếu không nói là tất cả) đều làm như thế. Nước ta, với vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử trước đây cũng như bây giờ, càng nhất thiết phải vậy, không được lơ là mất cảnh giác. Nhưng đó là việc mà cả hệ thống chính trị, tất cả các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và toàn dân phải quan tâm, cùng thực hiện. Từ việc quy hoạch bố trí lực lượng sản xuất trên địa bàn cả nước đến việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước nào, nhất là nước dễ gây nguy cơ cho ta, kể cả tài chính-tiền tệ, xuất nhập khẩu hàng hóa và các sản phẩm kỹ thuật đặc thù; phát triển các ngành, các cơ sở và hạ tầng lưỡng dụng về công nghiệp và kỹ thuật… Gắn kinh tế với quốc phòng là một phạm trù rộng, cần bàn chuyên đề riêng. Còn quân đội làm kinh tế là việc khác, không phải là gắn kinh tế với quốc phòng.

Thế nào là “làm kinh tế”? Thời xa xưa, hoạt động kinh tế của con người là tự cấp tự túc, sau đó mới có kinh tế hàng hóa và kinh tế hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định thì có kinh tế thị trường. Trước đây, trong thời chiến tranh, nhiều đơn vị quân đội đã phải sản xuất để tự túc thêm lương thực, thực phẩm. Sau khi chấm dứt chiến tranh, quân đội đã được giao nhiệm vụ tham gia sản xuất khôi phục kinh tế. Trong hoàn cảnh cụ thể lúc ấy, tôi nghĩ đó là chủ trương cần thiết. Đến nay, sau nhiều chục năm, tình hình đã có nhiều điểm khác trước, việc phải bàn kỹ lại vấn đề quân đội làm kinh tế cũng là cần thiết, sao cho tốt hơn đối với xây dựng quân đội, công việc quốc phòng và phát triển đất nước.
Khái niệm “làm kinh tế” thời nay là khái niệm gắn với kinh tế thị trường, chứ không phải tự cấp tự túc như ngày xưa, với mục tiêu chủ yếu là tạo ra lợi nhuận, trong điều kiện và môi trường bình đẳng, không có độc quyền doanh nghiệp. “Làm kinh tế” ngày nay là hoạt động kinh doanh, theo các quy luật đầy đủ của thị trường, do yêu cầu của thị trường, trên cơ sở luật pháp quy định, thực hiện đầy đủ các loại thuế cho nhà nước, tự cân đối tài chính và tự trả lương.
Quân đội ta là đội quân để chiến đấu và công tác, không phải đội quân kinh doanh. Nhiệm vụ chính của quân đội là chăm lo, chuyên trách công việc quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, kể cả cho trước mắt và lâu dài - một trong hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất của đất nước. Với nhiệm vụ ấy, công việc của quân đội đã hết sức quan trọng và nặng nề, nhất là trong điều kiện và tình hình mới, với những tiến bộ vượt bậc và thần kỳ của khoa học-kỹ thuật quân sự, với tình hình phức tạp về Biển Đông - hải đảo và biên giới. Cần tạo điều kiện để quân đội tập trung cao về thời gian, tư duy và sức lực, cho công việc xây dựng lực lượng tinh nhuệ có năng lực chiến đấu cao và chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Không nên giao thêm cho quân đội nhiệm vụ làm kinh tế nhằm tạo ra lợi nhuận. Đó là công việc của các ngành và các thành phần kinh tế. Ấy là chưa kể việc “làm kinh tế” khi có sai lầm khuyết điểm (thực tế cho thấy đã không tránh khỏi) thì lợi bất cập hại, ảnh hưởng không tốt đến uy tín của quân đội và ảnh hưởng đến đất nước, gây phân tâm trong nội bộ và suy giảm lòng tin của nhân dân. Đó là những giá trị cao đẹp mà anh Bộ đội cụ Hồ đã tạo dựng được bằng nhiều công đức và máu xương, không thể hạch toán bằng tiền. Lòng tin của nhân dân mới là sức mạnh bền vững và nền tảng quan trọng nhất để bảo vệ Tổ quốc. Trong lịch sử nước ta kể từ đầu công nguyên đã có vài lần ta thua quân xâm lược vì lòng dân phân tâm, ly tán, dẫn đến mất nước một thời gian dài và sau đó phải tốn nhiều máu xương mới giành lại được nền độc lập.
Nhiều người, trong đó có tôi, nghĩ và tin rằng, khi không phải làm kinh tế thì quân đội ta sẽ mạnh hơn, chuyên tâm nhiều hơn cho công việc quốc phòng, không bị phân tâm bởi sự phức tạp của các quan hệ thị trường. Ngày trước, thời chiến tranh vệ quốc, quân đội không làm kinh tế như bây giờ, và ngày ấy quân đội ta rất mạnh, lừng danh thiên hạ, đã tạo nên nhiều kỳ tích để các thế hệ hôm nay và mai sau cảm phục và tự hào, dù khi ấy ta nghèo hơn rất nhiều so với ngày nay. Theo chỗ tôi biết, các quân đội mạnh của nhiều nước đều không làm kinh tế. Quân đội Trung Quốc trước đây có làm kinh tế, nay đã bỏ, đã cấm, nhằm tập trung cho việc xây dựng một quân đội mạnh để phục vụ cho các ý đồ chiến lược mới của họ.
Còn một số công việc cần quân đội thực hiện ở hải đảo, biên giới, sản xuất giúp dân, sản xuất quân dụng, vũ khí, tạo các sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật đặc thù cho quốc phòng, hậu cần quân đội… thì đó chủ yếu vẫn là công việc có tính chất và ý nghĩa quốc phòng, chứ không phải là làm kinh tế để tìm kiếm lợi nhuận. Có ý kiến gọi các loại công việc đó là “kinh tế quốc phòng”. Gọi vậy cũng không sao, coi như tạm mượn cụm từ đó, mặc dù khoa học không có phân ngành như vậy (mà chỉ có kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp…). Tôi nghĩ, về bản chất thì đó vẫn là việc quốc phòng, loại công việc rất cần thiết để bảo vệ Tổ quốc, tạo ra các giá trị văn hóa trong mối quan hệ máu thịt quân-dân, chứ không phải là để kiếm tiền. Việc tận dụng những năng lực-kỹ thuật sẵn có của quân đội trong điều kiện hòa bình chưa sử dụng đến thì mục đích chính vẫn là tạo thêm điều kiện để phục vụ quốc phòng, chứ không phải mục tiêu chính là kinh doanhKhông nên giao thêm nhiệm vụ cho những người cầm súng phải đi buôn, phải quản lý đất đai và kinh doanh bất động sản...
Vừa qua, sau ý kiến của hai thượng tướng thứ trưởng Bộ quốc phòng là Lê Chiêm và Nguyễn Chí Vịnh, không biết có đúng hay không nhưng nhiều người nghĩ rằng Đảng ủy Quân sự TW đã có chủ trương phù hợp về việc quân đội không làm kinh tế (đơn thuần) để tìm kiếm lợi nhuận, đồng thời được biết ý kiến và thái độ đúng đắn của Đảng ủy Quân sự TW và Bộ Quốc phòng đối với vấn đề sân golf và sân bay Tân Sơn Nhất, nhiều cán bộ đảng viên và nhân dân phấn khởi, hoan nghênh Ban lãnh đạo quân đội hiện nay. Nhưng đồng thời lập tức lại nghe các ý kiến nói theo hướng khác, cũng từ phía tướng lĩnh đương chức. Chúng tôi nghĩ rằng, có ý kiến khác nhau trong quá trình thảo luận dân chủ là việc rất bình thường, chỉ lo là có sự không thống nhất trong sĩ quan cao cấp của quân đội ta vì một lý do nào đó không phải do nhận thức khác nhau.
Với các lẽ nêu trên, tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm “quân đội không làm kinh tế”! Và tất nhiên tôi hiểu mọi sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác đều có quá trình và bước đi, mặc dù phải chủ động và tích cực. Trong quá trình đó, một số doanh nghiệp của quân đội đang làm kinh tế hiệu quả cao cần được tiếp tục phát huy tốt năng lực bất kể thuộc bộ nào quản lý. Khi nói về quân đội làm kinh tế, tôi hiểu đây là nói chung cho lực lượng vũ trang chứ không phải chỉ riêng cho quân đội.Vũ Ngọc Hoàng
Đà Nẵng tháng 7.2017

LẠI BÀN VỀ GIÁ ĐIỆN Ở VIỆT NAM

Năng lượng nói chung trong đó nhu cầu cung cấp và sử dụng điện năng là một phần quan trọng trong hoạt động công nghiệp của nền kinh tế mỗi quốc gia. Thời kỳ đầu của chính quyền Xô Viết Lê-nin đã nhấn mạnh tầm quan trọng: Chủ nghĩa cộng sản = Chính quyền Xô Viết + Điện khí hóa toàn quốc. Đến nay, trong kinh tế thị trường chính sách phát triển và giá điện là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến chiến lược và mục tiêu phát triển kinh tế.
Nhân đọc bài của Ts Vũ Quang Việt viết đăng trên Kinh tế Sài gòn tiêu đề “Không nên duy trì giá điện rẻ” nhóm chuyên gia thuộc AITAA chúng tôi có cuộc thảo luận về bài báo nói trên, xin tổng hợp và phân tích bổ sung thêm về yêu cầu cần điều chỉnh giá điện để chia sẻ với bạn đọc.
TS Nguyễn Xuân Quang nhận xét vấn đề mà TS. Vũ Quang Việt phân tích về duy trì giá điện rẻ không hợp lý cũng được nhiều nhà khoa học ở trong nước trăn trở đã lâu rồi. Giá điện ở mỗi nước, ngoài yêu cầu để duy trì và phát triển nguồn điện, còn chi phối bởi các lĩnh vực tiêu thụ: Cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Với các nước có nền kinh tế thị trường thì giá điện phụ thuộc khả năng sản xuất điện năng, quyết định bởi sự thỏa thuận giữa cung và cầu, sự tác động/ảnh hưởng của giá điện với các lĩnh vực kinh tế khác.

Hiện nay, giá điện còn là nguồn tài chính cho phát triển năng lượng tái tạo và chống phát thải khí nhà kính gây biến đổi khí hậu. Vì vậy, giá điện ở mỗi nước tùy thuộc điều kiện kinh tế và mức sống ở từng giai đoạn sẽ khác nhau. Ở Việt Nam cho đến nay, do mức thu nhập còn thấp nên giá điện so với các nước phát triển là quá rẻ. Vì định nghĩa chế độ của chúng ta là “xã hội chủ nghĩa” nên thông thường chúng ta hay hướng tới chủ nghĩa dân túy theo kiểu “hợp lòng dân”. Các chính phủ ở các nước đang phát triển thường hay lấy lòng dân bằng việc giảm giá các chi phí cơ bản như điện, nước, hạ tầng cơ sở.
Tuy nhiên, mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế bao gồm điện năng phải tuân thủ quy luật kinh tế thị trường. Định luật bảo toàn là định luật rõ ràng. Để duy trì phát triển phải bảo đảm cân bằng cung và cầu hợp lý. Nếu anh muốn bồi đắp cho chỗ này thì phải lấy ở chỗ khác và sự bảo đảm cân bằng là một bài toán kinh tế nhiều biến với mối quan hệ giữa các ẩn số vô cùng phức tạp. Giải quyết bài toán đó bằng những giải pháp đơn lẻ từng ngành dễ sa vào sự vòng vo rắc rối không hồi kết gây lãng phí và cản trở phát triển.
Ví dụ nhiệt điện than là nguồn điện chính hiện nay. Để giá điện rẻ thì nhà nước yêu cầu than bán cho điện với giá rẻ, lờ đi các bài toán môi trường của ngành điện cho đến khi hậu quả của nó không còn chối cãi bị phản ứng kịch liệt từ môi trường sống gần nhà máy thì bài toán trở nên không có lời giải. Bởi vì than muốn bán được giá rẻ thì lại tìm cách đưa than xấu cho sản xuất điện còn than tốt thì để xuất khẩu. Than xấu sử dụng cho điện thì lò hơi nhanh xuống cấp, khó điều chỉnh và lượng tro thải ra môi trường sẽ cao hơn. Ở đây, rõ ràng phải cân nhắc chọn điện hay than trong điều kiện cụ thể.
Bài toán thứ 2 là đầu tư cho ngành điện không thể tránh khỏi nhiệt điện than vì giá rẻ nhất mà không tính đến chi phí khắc phục ảnh hưởng môi trường, không tạo điều kiện để phát triển các nguồn năng lượng sạch tái tạo. Tôi đã viết một số bài về nhiệt điện than và bất cập của nó, đặc biệt ảnh hưởng xấu đến môi trường (Tô Văn Trường).
Một sự bất cập của giá nhiệt điện than do đầu tư mong chờ thu hồi vốn nhanh nên tìm cách lấy thiết bị giá rẻ từ Trung Quốc. Ở đây lưu ý là nhìn chung các thiết bị chính như lò hơi và tua bin thì thường là từ G7 nhưng trang bị phụ nhiều khi cũng quan trọng thì lại lấy từ Trung Quốc và có những hậu quả rõ rệt là khi vận hành bị trục trặc, nhiều thể hiện ở các nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Cẩm Phả, Cao Ngạn v.v.
Giá điện rẻ khiến cho nhiệt điện sạch sản xuất từ năng lượng tái tạo và nhiệt điện khí ở giai đoạn đầu không có cửa để đầu tư có lãi. Và để thu hút đầu tư thì ngành điện đã thực hiện cơ chế mua điện cũng khá lòng vòng với các nhà máy điện đốt khí và năng lượng tái tạo và bù đắp nó bằng giá điện từ thủy điện vốn ngày xưa được nhà nước đầu tư và ít hoặc không tính toán chi phí đầu tư vào giá điện.
Như vậy, giá điện rẻ từ nhiên liệu hóa thạch chưa tính đến chi phí khắc phục môi trường và tạo điều kiện cho phát triển năng lượng sạch tái tạo là một sự lợi trước mắt bất cập hại cho kinh tế và cản trở phát triển năng lượng sạch về lâu dài.
Bài toán thứ 3 cho thấy sự vòng vo bất cập như tác giả Vũ Quang Việt đã nêu là giá điện rẻ sẽ thấy lợi trước mắt thu hút đầu tư nhưng lại bất lợi bởi hấp dẫn với những ngành sản xuất tiêu thụ nhiều năng lượng như xi măng, sắt thép và sử dụng các trang thiết bị đời cũ tiêu hao nhiều năng lượng và kém hiệu quả. Giá điện rẻ khiến cho các trang thiết bị giúp tiết kiệm năng lượng như biến tần, đèn chiếu sáng tiết kiệm năng lượng, các phương án tiết kiệm năng lượng như sản xuất đồng phát nhiệt điện không có cửa thực hiện vì thời gian thu hồi vốn rất lâu.
Và bài toán thứ 4 bất cập bởi chính sách dùng giá điện thấp với mục tiêu là hỗ trợ cho các hộ nghèo, vùng xa, vùng sâu có điều kiện tiếp cận với điện và qua đó nâng cao mức sống và sự phát triển của người dân nhưng rút cục nó lại làm tăng phụ tải do khu vực đô thị sử dụng lãng phí, ít để ý đến tiết kiệm năng lượng hơn và gánh nặng đầu tư phát triển nguồn điện lại tăng lên quá mức cần thiết.
Ở Việt Nam, hiệu quả sử dụng điện tính bằng 1 đơn vị GDP trên 1 đơn vị điện năng thấp nhất so với các nước trong khu vực, cơ hội tiết kiệm năng lượng có rất nhiều trong kiến trúc, trong việc sử dụng trang thiết bị năng lượng, trong ý thức của người dân. Bài học từ các nước để nâng cao hiệu quả sử dụng điện là đánh vào túi tiền của họ, họ sẽ tiết kiệm. Việc tuyên truyền chỉ có giá trị một phần nào đó thôi.
Xin lưu ý, giá điện tăng lên tức khắc nhu cầu đòi hỏi minh bạch sẽ tăng theo. Đó là bài toán “con gà và quả trứng”! Khi giá thấp thì người ta sử dụng mọi thủ đoạn đi lòng vòng và không có cách nào minh bạch được. Khi giá đã phù hợp rồi thì không phải anh này bù cho anh khác và khi đó sự minh bạch mới hình thành và nó biến thành bài toán đơn giản hơn. Trong bài toán năng lượng thì chúng ta rất lẫn lộn về giá. Giá điện của thủy điện là rẻ nhất vì sao? đơn giản ta không phải tính hoặc tính qua loa chi phí đầu tư cho những nhà máy thủy điện được xây từ thời bao cấp. Việc hình thành giá điện của thủy điện có phần rất quan trọng là chi phí đầu tư vì chi phí nhiên liệu gần như không có, chi phí vận hành và bảo dưỡng khá thấp. Lúc đầu tư thì không tính đủ các tác hại môi trường của thủy điện như sử dụng nhiều đất, tái định cư chưa thỏa mãn, mất rừng v.v. với điều kiện tự nhiên và mật độ dân cư cao ở Việt Nam thì phần chi phí vô hình này không hề thấp.
Tất cả những cái đó tạo ra cái giá điện tổng thể rẻ một cách hình thức, ngăn chặn quá trình tăng giá tự nhiên khi ta không còn nguồn thủy điện nữa. Về bản chất thì ta không tăng giá điện được vì một giai đoạn dài ta giữ giá thấp và nếu tăng giá đột ngột thì gây biến động xã hội lớn ảnh hưởng tới sản xuất, tới GDP và tới người dân. Cái giai đoạn dài giữ giá điện thấp đó là giai đoạn thủy điện chiếm tỉ trọng lớn và do nhà nước đầu tư. Từ nay trở đi ta không còn điều kiện đó nữa rồi nhưng vẫn mang những tư duy bao cấp, không chịu đưa ra quyết sách, lời giải bài toán thích hợp trên các luận cứ kinh tế.
Để kết luận, xin trích dẫn câu nói của Tony Blair, cựu thủ tướng của Anh là : “Nếu anh ra một chính sách mà không có sự phản đối nào thì đơn giản nó là một chính sách vô vị chẳng có tác động gì”.
Trong nền kinh tế thị trường giá điện là một tham số của bài toán kinh tế chứ không phải là công cụ của chính sách nhân đạo. Giá điện rẻ có lợi cho người nghèo chỉ là một mục tiêu nhỏ, cản trở phát triển kinh tế gây thiệt hại lớn. Giá điện hợp lý khi giá trị một đơn vị GDP trên một đơn vị tiêu thụ điện phải luôn tăng trưởng cao hơn ngang bằng với các nền kinh tế tương tự trong khu vực.
Điều băn khoăn duy nhất của người viết bài này là những giải pháp cải cách chính ngành điện nhằm hạ giá thành, giảm hao tổn, cải tiến công nghệ, tạo khung pháp lý cho cạnh tranh lành mạnh là chính đáng nhưng nếu đặt lòng tin vào việc giá điện cao sẽ dẫn tới sự minh bạch trong khi chậm cải cách thể chế thì e rằng hơi bị lạc quan sớm.Tô Văn Trường

Những mâu thuẫn giữa Campuchia và Việt Nam

clip_image002
Hôm nay Ô. Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư của Đảng CSVN, chính thức viếng thăm Campuchia trong ba ngày theo lời mời của Thủ tướng Hun Sen nhân dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai quốc gia (1967-2017). Mục đích của chuyến viếng thăm này là để duyệt lại lộ trình đã đi qua và nâng cấp quan hệ song phương lên mức cao hơn trong giai đoạn tới.

Trong thời gian gần đây người ta đã chứng kiến nhiều hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia như những dấu hiệu cho thấy hai bên đang cố gắng thật sự để giảm bớt những tranh chấp giữa hai nước láng giềng. Như vậy, đây phải là những vấn đề hệ trọng cho cả hai quốc gia.
- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trong viếng thăm Campuchia lần thứ hai, tháng 7, 2017.
- Chủ tịch Quốc hội Campuchia Heng Samrin viếng thăm Việt Nam, tháng 6, 2017.
- Thủ tướng Hun Sen viếng thăm tỉnh Bình Phước, tháng 6, 2017.
- Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc viếng thăm Campuchia, tháng 4, 2017
- Thủ tướng Hun Sen đã viếng thăm Việt Nam, tháng 12, 2016.
- Chủ tịch nước Trần Đại Quang viếng thăm Campuchia, tháng 6, 2016.
- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viếng thăm Campuchia, tháng 12, 2014.
- Thủ tướng Hun Sen và các nhà lãnh đạo Lào và Thái Lan tham dự Ủy hội Mê Kông tại Việt Nam, tháng 4, 2014.
- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Campuchia, tháng 1, 2014.
- Thủ tướng Hun Sen viếng thăm Việt Nam, tháng 12, 2013.
- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Campuchia để dự tang lễ của thân phụ của Thủ tướng Hun Sen, tháng 7, 2013.
- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự Hội nghị ASEAN, tháng 11, 2012.
- Vua Norodom Sihamoni viếng thăm Việt Nam, tháng 9, 2012.
- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trong viếng thăm Campuchia lần đầu tiên, tháng 12, 2011.
- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Campuchia, tháng 4, 2011.

Mâu thuẫn về Biển Đông

Giữa Việt Nam và Campuchia có một số mâu thuẫn. Quan trọng nhất là chánh sách của Campuchia đối với vấn đề Biển Đông. Trung Quốc đỏi hỏi chủ quyền trên 90% của Biển Đông theo như bản đồ chín đoạn. Campuchia đã công khai ủng hộ lập trường này của Trung Quốc vào 2016. Hội nghị của các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) họp tại Vientian vào tháng 7, 2016 đã phải mất nhiều ngày để soạn tuyên cáo chung vì Campuchia phản đối việc đưa phán quyết về Biển Đông của Tòa án Quốc tế ở Haque, Hòa Lan vào thông cáo. Sau cùng, Phi Luật Tân phải đồng ý bỏ đòi hỏi này và thông cáo chung mới được hoàn tất. Vào 2012, Campuchia cũng đã ngăn chặn thông cáo chung của ASEAN cũng vì vấn đề Biển Đông.
Trước đây Campuchia, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Hun Sen, từng chống lại Trung Quốc vì nước này từng ủng hộ Khmer Đỏ và Norodom Sihanouk chống lại Việt Nam và Hun Sen. Vào 1988, Hun Sen từng tuyên bố Trung Quốc là “gốc rễ của mọi xấu xa” tại Campuchia. Khoảng 10 năm sau ông ta tuyên bố Trung Quốc là “người bạn đáng tin cậy nhất” của Campuchia. Sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Hiệp định Hòa bình Paris 1991 được ký kết, quốc gia này trên danh nghĩa trở thành một nước dân chủ với nhiều đảng phái chính trị và bầu cử tự do dưới quyền kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Trung Quốc nhận thấy Hun Sen là người sáng giá nhất, nên long trọng mời Hun Sen viếng thăm Bắc Kinh vào 1996. Sau đó, Trung Quốc viện trợ, đầu tư vào Campuchia rất nhiều và thực hiện những dự án xây cất hạ tầng như đập nước, xa lộ và cơ xưởng kỹ nghệ như hầm mỏ, dệt may, và giếng dầu. Quan hệ giữa Bắc Kinh và Nam Vang cải thiện mạnh mẽ. Hoa Kỳ là thị trường xuất cảng lớn nhất của Campuchia, nhưng Trung Quốc là nước đứng đầu về ngoại viện.
Trong cuộc viếng thăm Bắc Kinh của Hun Sen gần đây nhất vào tháng 5, 2017, Trung Quốc đã quyết định viện trợ cho Campuchia 1,200 tỉ Yuan để xây trường học, phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn, và đào giếng nước; 450 triệu Yuan để xây bệnh viện, đồng thời đặt mua 300,000 tấn gạo của Campuchia vào 2018.
Hun Sen, một người thông thạo tiếng Việt, tiếp tục là một bạn trung thành với Hà Nội vì Hun Sen không bao giờ quên Việt Nam đã là nơi ông ta nương thân khi từ bỏ Khmer Đỏ. Vào ngày 21-6-2017 vừa qua, Thủ tướng Hen Sen đã trở lại Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (Bình Long và Phước Long) nơi ông đã vượt biên giới Campuchia qua Việt Nam, chạy trốn chế độ Pol Pot 40 năm trước. Khi tình hình nội bộ rối ren, Hun Sen luôn luôn quay về Việt Nam để nghỉ ngơi. Trong cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội vào 2013, Đảng Nhân dân (Cambodian People’s Party) của Hun Sen thắng 68 ghế. Đảng Cứu quốc Đối lập (Cambodia National Rescue Party) chiếm được 55 ghế. Theo RFA, khoảng nửa triệu người biểu tình chống lại kết quả của bầu cử mà đảng đối lập cho rằng có sự gian lận và nhiều dấu hiệu bất thường. CNRP đòi tổ chức bầu cử lại nhưng Hun Sen bác bỏ yêu cầu này. Trong không khí căng thẳng, Hun Sen tuyên bố sẽ viếng thăm Việt Nam vào cuối năm. Phe đối lập cho rằng Hun Sen đi Việt Nam để tìm hậu thuẫn từ bên ngoài khi gặp khó khăn nội bộ. Vì sự trợ giúp của Trung Quốc quá lớn, dễ gì Hun Sen có thể thay đổi quan điểm về Biển Đông để bênh vực Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương và Brunei.
Dù sao, Việt Nam sẽ phải tiếp tục cải thiện ngoại giao với Campuchia, Lào, và Thái Lan để tìm hỗ trợ. Lập trường chính trị thay đổi bất ngờ, như trường hợp của Hun Sen và Trung Quốc. Việt Nam phải hợp tác mạnh mẽ với Nhật, Ấn Độ, Úc, và Hoa Kỳ cùng các cường quốc Tây phương. Không nên xem thường sự hỗ trợ dành cho Trung Quốc của của 39 nước Châu Phi, 23 nước châu Á, 3 nước Nam Mỹ, 2 nước châu Đại Dương, và 4 nước châu Âu kể cả Nga. Việt Nam phải cương quyết giữ vững lập trường về Biển Đông, không thể để mất thêm một tất đất một tấc biển cho thực dân đỏ.
Trong lần viếng thăm Nam Vang của Chủ tịch nước Trần Đại Quang vào tháng 6, 2016, phái đoàn Việt Nam đã thành công đưa vào thông cáo chung một khuyến cáo thi hành Qui ước của LHQ về Luật Biển (United Nations convention on the Law of the Sea - UNCLOS) để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông.

Mâu thuẫn về biên giới

clip_image004
Việt Nam và Campuchia chia sẻ 1,137 km biên giới. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, không có cuộc đụng độ nào giữa hai nước liên quan đến tranh chấp biên giới. Nhưng từ khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt vào 30-4-1975, nhiều cuộc giao tranh đã xẩy ra ở biên giới và sau cùng đã đưa đến cuộc can thiệp quân sự quy mô của Việt Nam vào lãnh thổ Campuchia và lật đổ chế độ Pol Pot vào 1978.
Trong thập niên 1980, Việt Nam và Campuchia đã đồng ý về một số vấn đề biên giới. Thỏa hiệp về lãnh hải lịch sử (Historic Waters) trong Vịnh Thái Lan được ký vào ngày 7-7-1982. Thỏa hiệp về lãnh thổ (Treaty on the Delimitation of Vietnam - Kampuchea Frontier) được ký vào ngày 27-12-1985 và được Quốc hội hai nước phê chuẩn vào đầu năm 1986. Hai thỏa hiệp này đều dựa trên một nguyên tắc căn bản là tôn trọng ranh giới hiện hữu có từ khi hai nước độc lập (present demarcation line specified as the line that was in existence at the time of independence). Biên giới trên đất và ở biển dựa vào bản đồ 1/100,000 được dùng trước và cho tới 1954.
Sau khi Việt Nam rút khỏi Campuchia vào 1989 và Hiệp định Hòa bình Paris được ký kết vào 1991, Chính phủ Quốc gia Lâm thời Campuchia (Provisional National Government of Cambodia - PNGC) ra đời vào năm 1993. Kể từ thời điểm này đến nay, tình trạng của hai thỏa hiệp biên giới đã ký trong thập niên 1980 trở nên không rõ ràng.
Campuchia nhiều lần tố cáo Việt Nam lấn đất ở biên giới. Việt Nam luôn luôn phủ nhận những lời tố cáo này. Chính Vua Norodom Sihanouk vào tháng 5, 1994 cũng lên tiếng phản đối Việt Nam “gậm nhấm” đất của Campuchia bằng cách di chuyển cột mốc biên giới.
Vào năm 1996, Hoàng tử Norodom Ranariddh, Thủ tướng thứ nhất của Campuchia, công khai lên án nông dân Việt Nam với sự yểm trợ của quân đội đã xâm phạm lãnh thổ của nước này tại ba tỉnh Svay Rieng, Prey Veng, và Kompong Cham.
Hai bên liên tục cử phái đoàn qua lại để giải quyết những tranh chấp biên giới. Những nhà lãnh đạo cao cấp của hai nước cũng thường xuyên gặp gỡ. Chủ tịch nước Lê Đức Anh từng thăm viếng Nam Vang và Vua Sihanouk viếng thăm Hà Nội. Ủy ban Hỗn hợp Biên giới (Joint Border Committee) được thành lập. Mỗi lần hội họp hai bên đều lập lại nguyên tắc giải quyết tranh chấp biên giới một cách công bằng và ôn hòa. Nhưng những tranh chấp vẫn xẩy ra. Campuchia than phiền rằng Việt Nam tiếp tục xây cất cơ sở trên những phần đất gần biên giới đã được chỉ định bỏ trống (white zone) vì chưa ấn định được ranh giới. Việt Nam phủ nhận tin này nhưng hứa sẽ xem xét lại than phiền của Campuchia.
Cán bộ của đảng đối lập CNRP can thiệp vào vụ ấn định biên giới, tố cáo nhân viên Campuchia trong Ủy ban Hỗn hợp Biên giới thông đồng với nhân viên Việt Nam. CNRP đòi hủy bỏ công việc đang làm dở dang để bắt đầu lại và kiện Việt Nam ra trước Tòa án Quốc tế (International Court of Justice để nhờ làm trọng tài. Lập trường của Chính phủ Hun Sen ôn hòa hơn.
CNRP cho rằng Việt Nam đã vẽ lại bản đồ của Campuchia khi Việt Nam xâm chiếm Campuchia vào năm 1979. Chính phủ Hun Sen đã yêu cầu Liên Hiệp Quốc giúp đỡ để tìm kiếm bản đồ do Pháp soạn vào những năm 1933-1953. CNRP lợi dụng cơ hội này, dùng chiêu bài bài ngoại để lấy lòng dân Campuchia và chống lại Chính phủ Hun Sen. Trước đây, CNRP còn hứa hẹn sẽ lấy lại đảo Phú Quốc hay còn gọi là Koh Tral Island theo tiếng Khmer, nếu đắc cử. Đảo Phú Quốc do Việt Nam quản trị trên 150 năm. Sam Rainsy, Chủ tịch CNRP, hiện đang sống lưu vong ở Pháp và sẽ phải thi hành án tù hai năm vì tội nhỏ mốc biên giới vào 2009 nếu trở về nước.
Ô. Ramses Amer thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách An ninh và Phát triển, một tổ chức vô vụ lợi tại Stockholm, Thụy Điện, nhận xét rằng đối với Việt Nam, Đảng CSVN và Chính phủ hoạch định chính sách ngoại giao. Tại Campuchia, tình trạng khác vì xung khắc giữa các phe phái chính trị. Điểm quan trọng thứ hai ô. Amer nêu ra là một số quan chức Campuchia địa phương cho nông dân Việt Nam thuê đất làm ruộng trong nhiều năm, khiến cho một số quan chức ở Nam Vang tưởng lầm là người Việt chiếm đất của Campuchia. Báo chí Campuchia đã tường thuật hiện tượng này ở các tỉnh như Kandal, Takeo, và Svay Rieng.
Cho tới thời điểm hiện nay, hai nước đã hoàn tất 84% công việc đặt mốc biên giới sau 40 năm khởi công. Vì lợi ích chung của hai nước, việc xác định biên giới cần sự hợp tác của đôi bên để hoàn tất sớm.

Cư dân Việt trên đất Khmer

Theo RFA, có khoảng 156,000 người gốc Việt sinh sống tại Campuchia vào năm 2016 tại các tỉnh phía Đông giáp với Việt Nam, tỉnh Siam Reap và thủ đô Nam Vang. Mặc dù sống tại Campuchia nhiều đời, nhưng họ vẫn bị chính quyền và dân Campuchia ngược đãi. Họ không có giấy tờ tùy thân, không được sở hữu ruộng đất. Phần lớn sống trên thuyền bè và sinh nhai bằng nghề chài lưới. Trẻ em không được đi học, người lớn không có quyền đi bầu.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, một số người Việt được tuyển mộ qua Campuchia làm tại các đồn điền cao su và phục vụ trong guồng máy chính quyền của Pháp tại đây. Ngược lại, người Pháp cũng đưa một số người Campuchia qua Việt Nam làm việc. Kể từ khi Campuchia dành được độc lập, dưới thời Vua Norodom Sihanouk, cư dân gốc Việt bắt đầu bị ngược đãi. Sau khi Lon Nol đảo chánh, lật đổ Vua Sihanouk vào năm 1970, cư dân gốc Việt ngày càng bị ngược đãi nhiều hơn. Một số người Việt bị tàn sát. Một số bị ép buộc trở về Việt Nam. Người Việt bị cấm làm một số nghề. Khi Khmer Đỏ lên nắm chính quyền, chính sách đàn áp cư dân gốc Việt tiếp tục như dưới thời Lon Nol. Sau cuộc Tổng tuyển cử 1993 do Liên Hiệp Quốc bảo trợ, Vương quốc Campuchia được thành lập, cho tới nay, việc kỳ thị cư dân bớt đi phần nào so với thời gian Lon Nol - Pol Pot.
Đảng đối lập Cứu quốc Campuchia (Cambodia National Rescue Party) dưới sự lãnh đạo của Sam Rainsy chống cộng sản nhưng chủ trương bài Việt rõ rệt như trường hợp Lon Nol. Đảng này thường dùng chiêu bài chống người Việt để khích động và lấy phiếu của cử tri.
Trong những dịp phái đoàn hai nước hội họp để giải quyết những mâu thuẫn hoặc các nhà lãnh đạo thăm viếng xã giao, Việt Nam đều có đề cập đến quyền lợi và sự an toàn của cư dân Việt trên đất Campuchia. Trong một số thông cáo chung có ghi vấn đề này. Nhưng người Việt vẫn bị ngược đãi. Đây là điều đáng mừng.
clip_image006
Mâu thuẫn về biên giới giữa Việt Nam và Campuchia bắt nguồn từ vài trăm năm trước. Hành trình Nam tiến của dân Việt bắt đầu từ thời Lý vào đầu thế kỷ XI qua đời nhà Trần, nhà Hồ và hậu Lê. Đến thời nhà Nguyễn, sau 700 năm, lãnh thổ của Việt Nam đã mở rộng xuống đồng bằng sông Cửu Long vốn là đất của người Khmer vào giữa thế kỷ XVIII. Khi lập Liên bang Đông Dương, người Pháp cắt một số đất của nhà Nguyễn trả lại cho Campuchia mà ngày nay là hai tỉnh Takeo và Kampot.
Mâu thuẫn về đất đai là gốc rễ của sự oán thù giữa hai dân Việt và Khmer. Do đó, một khi việc đặt mốc biên giới hoàn tất, mâu thuẫn giữa hai sắc dân sẽ bớt đi. Ngoài ra, chính quyền Việt Nam nên dành mọi dễ dàng và cung cấp phương tiện cho những cư dân gốc Việt trở về Việt Nam sinh sống, nếu họ muốn. Trong hoàn cảnh nghèo khổ, đời sống không an toàn, chắc hẳn sẽ có nhiều người tình nguyện trở về. Một khi ô. Hun Sen không còn ở vị thế một nhà lãnh đạo của Campuchia, cư dân gốc Việt sẽ có thể bị điêu đứng như thời Lon Nol - Pol Pot. Phe Cứu quốc Campuchia (CNRP) hay phe Bảo hoàng (Front Uni National pour un Cambodge Indépendant, Neutre, Pacifique, et Coopératif - FUNCINPEC) đều chủ trương bài Việt.

Kết luận

Tóm lại Việt Nam có ba vấn đề nhức nhối phải giải quyết với nước láng giềng phía Tây: Biển Đông, biên giới, và cư dân gốc Việt sinh sống lâu đời tại Campuchia. Một nghĩa vụ quan trọng mà chính quyền Việt Nam cũng cần phải làm là tìm kiếm những binh sĩ mất tích hay đã tử trận nhưng không tìm thấy xác trong chiến tranh Việt Nam - Campuchia. Rất đáng khiển trách là Việt Nam chiếm đóng Campuchia suốt hơn 10 năm từ 1978 - 1989 đã không hoàn tất công việc này.Nguyễn Quốc Khải

No comments:

Post a Comment