Sunday, July 23, 2017

Bài viết hay(5211)


Nắm tay nhau xây dựng nền dân chủ: Giấc mộng Việt Nam!

Trong những năm qua, khi đi vào nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề Dân chủ, xây dựng thể chế dân chủ, trong đầu tôi luôn có một câu hỏi: có một thể chế dân chủ nào có thể áp dụng cho mọi quốc gia (trong trạng thái bình thường, tức là không có chiến tranh), đều đem đến kết quả tốt đẹp không? Làm thế nào để có được một thể chế dân chủ, để xây dựng được một thể chế dân chủ như vậy?
     Những nỗ lực nghiên cứu đã được đền đáp, tôi tin là tôi đã tìm ra được một thể chế dân chủ có thể áp dụng cho mọi quốc gia đạt tới đích cuối cùng: tự do của người dân. Không những vậy, thể chế dân chủ này sẽ chỉ đường và đưa các quốc gia hòa hợp vào một thể chế lớn hơn, thể chế dân chủ toàn cầu, mà chúng ta thường được nghe dưới cái tên Toàn cầu hóa.
     Sẽ có một câu hỏi đặt ra ngay lập tức, vậy thể chế dân chủ này so sánh với thể chế dân chủ Hoa Kỳ có điều gì giống và khác nhau? Xin trả lời, giống ở những nguyên lý cơ bản, nhưng khác ở cách thức xây dựng một hệ thống đồng bộ ngay từ ban đầu. Thể chế dân chủ Hoa Kỳ, thể chế dân chủ ưu việt nhất hiện nay, là một quá trình tìm tòi, sáng tạo trong xây dựng quốc gia Hoa Kỳ, cũng là quá trình xây dựng thể chế dân chủ Hoa Kỳ. Đó là quá trình thử và sai vô cùng vất vả của người dân Hoa Kỳ trong suốt mấy trăm năm. Đến nay, về cơ bản, đó là thể chế khá hoàn thiện, tuy nhiên, chưa phải là hoàn hảo.
     Thể chế dân chủ mà tôi sắp trình bày, dựa trên việc rút ra được những nguyên lý cơ bản nhất của thế chế dân chủ Hoa Kỳ, nhưng việc áp dụng là hoàn toàn chủ động và đồng bộ trong hệ thống các mối liên hệ hữu cơ ở tất cả các lĩnh vực. Về cơ bản, những nguyên lý đã được trình bày trong cuốn sách Dân Chủ của tôi. Tuy nhiên, bài viết này, sẽ giải thích và trình bày các nguyên lý đó, dưới một khía cạnh khác về thể chế dân chủ. Đó là một cấu trúc tự hoàn thiện bao gồm hệ thống các cơ chế tự điều chỉnh ở tất cả các lĩnh vực.
     I/ Thể chế Dân chủ - cấu trúc tự hoàn thiện bao gồm hệ thống các cơ chế tự điều chỉnh ở tất cả các lĩnh vực
     1/ Một số vấn đề lý luận
     Trước khi đi sâu tìm hiểu thể chế dân chủ, chúng ta cần tìm hiểu lý thuyết và lý luận về cấu trúc tự hoàn thiện, và cơ chế tự điều chỉnh. Một thể chế dân chủ có thể áp dụng cho tất cả các quốc gia thì bản thân nó phải có sự tự hoàn thiện bên trong cấu trúc của nó. Chính vì vậy, chúng ta cần phải hiểu được, thế nào là một cấu trúc tự hoàn thiện.
     Cấu trúc tự hoàn thiện là một hệ thống các yếu tố tương tác lẫn nhau luôn  luôn dẫn tới sự phát triển cả về phẩm và lượng của hệ thống hay cấu trúc đó.
     Cấu trúc tự hoàn thiện nào cũng bao hàm bên trong các yếu tố sau:
     - Động lực nội tại của cấu trúc (hệ thống)
     - Cơ chế thực thi, phát huy, phát triển động lực đó
     - Tính đồng bộ của hệ thống
     Khi chúng ta nói tới cấu trúc tự hoàn thiện, là nói tới cấu trúc xã hội trong đó con người tương tác lẫn nhau. Vậy các yếu tố của cấu trúc tự hoàn thiện sẽ được hiểu như thế nào về mặt xã hội?
     - Động lực nội tại của cấu trúc, đó chính là nhu cầu chung nhất, quan trọng nhất của con người, chúng ta cần tìm ra nhu cầu này. 
     - Cơ chế thực thi, phát huy, phát triển động lực chính là cơ chế, cách thức để con người thực hiện nhu cầu chung, quan trọng nhất đó.
     - Tính đồng bộ của hệ thống xuất phát từ nhu cầu đa dạng của con người, cũng như yêu cầu vận hành của hệ thống.
     Bởi vì nhu cầu (chung) của con người là tự nhiên, nên điều quan trọng nhất là cơ chế thực thi, thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Cơ chế này chính là hạt nhân trong cả một hệ thống các yếu tố tương tác lẫn nhau của hệ thống.
     Khi chúng ta tìm ra được nhu cầu chung, quan trọng nhất, động lực cho toàn hệ thống, và chúng ta tìm ra, xây dựng được cơ chế thực thi hiện thực hóa nhu cầu này, cùng với các yếu tố tương tác đồng bộ thì hệ thống, cấu trúc đó sẽ tự vận hành đưa lại những điều tốt đẹp nhất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cá nhân hoặc tập thể nào. Đó gọi là cấu trúc tự hoàn thiện.
     Cơ chế tự điều chỉnh: Có hai khía cạnh để  nói về cơ chế tự điều chỉnh, một là sự sắp đặt các thành tố theo một lo-gic tương tác thúc đẩy và kiểm soát lẫn nhau giúp cho các thành tố đều phát triển không bị thiên lệch và mất kiểm soát. Ví dụ rõ nhất là cơ chế Tam quyền phân lập. Hai là, cơ chế tự điều chỉnh là sự vận hành của hệ thống các quy định về kết quả và hậu quả mà chủ thể có thể lựa chọn đem lại lợi ích cho bản thân và công việc. Đây là hệ thống các quy định cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ về sự thưởng phạt, những lợi ích, hậu quả ở tất cả các khía cạnh, lĩnh vực của đời sống con người. Mỗi một cá nhân, trong toàn bộ tương tác với xã hội, từ công việc đến sinh hoạt xã hội đều cần tự điều chỉnh hành vi phù hợp với các quy định trong từng khía cạnh, lĩnh vực của đời sống. Cơ chế tự điều chỉnh sẽ giúp nâng cao hiệu lực và hiệu quả của cấu trúc tự hoàn thiện, đồng thời ngăn chặn ngay từ đầu những khiếm khuyết và lệch lạc có thể dẫn tới sự phá hủy cấu trúc tự hoàn thiện của thể chế dân chủ.
     Như vậy, cấu trúc tự hoàn thiện là hệ thống các yếu tố, trong đó có yếu tố hạt nhân, tương tác dẫn tới sự phát triển của hệ thống. Cơ chế tự điều chỉnh giúp nâng cao hiệu lực và hiệu quả của cấu trúc tự hoàn thiện...2/ Diễn giải thể chế Dân chủ dưới góc độ cấu trúc tự hoàn thiện
     a- Như phần trên có đề cập, điều quan trọng đầu tiên của cấu trúc tự hoàn thiện là tìm ra được động lực bên trong cấu trúc. Thể chế dân chủ có bộ khung cấu trúc là toàn thể xã hội con người trong một quốc gia. Tìm động lực của xã hội chính là tìm hiểu nhu cầu cơ bản, quan trọng nhất của con người sống trong xã hội. Tìm đúng nhu cầu nội tại, cơ bản, quan trọng nhất của con người là bước quan trọng đi tới cơ chế quan trọng nhất, là hạt nhân của cấu trúc tự hoàn thiện, của thế chế dân chủ. Đó là cơ chế bảo đảm phát huy, phát triển động lực, nhu cầu cơ bản đó.
     Từ trước tới nay, đã có nhiều sách báo, tài liệu nói về nhu cầu quan trọng nhất của con người nói chung, nhưng có khá nhiều sự lầm lẫn. Ví dụ, có người nhận định, nhu cầu quan trọng nhất của con người là mong muốn được mọi người cho mình là quan trọng. Điều này nghe qua thì có vẻ hợp lý, tuy nhiên nó không phải là tất cả. Có rất nhiều người không đi tìm kiếm sự đánh giá của người khác về bản thân mình, họ đi tìm sự đặc biệt, sự khác biệt của bản thân với mọi người. Cũng như vậy, việc nỗ lực tạo ra nhiều tiền, để thỏa mãn nhiều nhu cầu khác nhau của con người là một nhu cầu quan trọng mà nhiều người theo đuổi, tuy nhiên, vẫn có những người không theo đuổi việc kiếm tiền trong xã hội. Vậy thì điều gì là chung nhất, bao hàm tất cả các nhu cầu khác biệt (mà quan trọng đối với mỗi cá nhân) đối với con người nói chung? Đó là nhu cầu tự thể hiện bản thân của con người. Anh này muốn tự thể hiện bản thân bằng việc kiếm được nhiều tiền, chị kia muốn tự thể hiện bản thân bằng việc có nhiều quyền lực. Người khác muốn tự thể hiện bản thân thông qua sự khác biệt trọng hội họa...vv... Nhu cầu tự thể hiện bản thân là nhu cầu tối quan trọng, chung nhất và không thể thiếu ở mỗi một con người. Như vậy, bất kỳ một xã hội nào cũng hàm chứa một động lực nội tại cho sự phát triển và tự hoàn thiện như nhau, bởi nhu cầu quan trọng nhất của con người là giống nhau ở tất cả các chủng tộc, sắc tộc và các quốc gia.
     b- Vậy điều gì có thể giúp cho con người thỏa mãn, thực hiện được nhu cầu tối quan trọng đó? Đó chính là sự Tự do! Tự do là yếu tố quan trọng nhất để con người nói chung và mỗi cá nhân nói riêng có thể thõa mãn nhu cầu tự thể hiện bản thân. Chúng ta cần xây dựng được cơ chế bảo đảm tự do của con người, thì xã hội sẽ phát triển và tự hoàn thiện.
     Tiếp đến, yếu tố nào là quan trọng nhất bảo đảm tự do của con người trong xã hội? Chúng ta đều biết rằng, một xã hội dân chủ phải bao hàm nhiều yếu tố, định chế quan trọng như: tam quyền phân lập, cơ chế tản quyền (nhà nước liên bang), đa nguyên đa đảng, các quyền cơ bản của con người, các quyền dân sự, quyền công dân,…vv. Nhưng khi có tất cả các yếu tố này thì yếu tố nào là quan trọng nhất, là hạt nhân cần tập trung và nhấn mạnh. Đó là yếu tố đã từng nêu ở các cuốn sách và bài viết trước đây: khả năng tự bảo vệ các quyền con người của mỗi cá nhân là hạt nhân quan trọng nhất của cơ chế dân chủ, của thể chế dân chủ.
     Như vậy, cơ chế để bảo đảm khả năng tự bảo vệ quyền con người của mỗi cá nhân là cơ chế hạt nhân, quan trọng nhất trong cấu trúc tự hoàn thiện của thể chế dân chủ
     c- Để bảo đảm, thực thi được cơ chế hạt nhân này, cần có một loạt các điều kiện và yếu tố được thực hiện. Đây chính là yêu cầu về tính đồng bộ của hệ thống, cấu trúc tự hoàn thiện. Có nhiều định chế liên quan tới việc bảo đảm các quyền con người về mặt luật pháp và cơ chế thực hiện. Nhưng quan trọng nhất trong cơ chế hạt nhân (khả năng tự bảo vệ quyền con người của mỗi cá nhân) là TÒA ÁN NHÂN QUYỀN để mỗi một cá nhân có thể tự bảo vệ các quyền con người của mình. Tòa án Nhân quyền chính là định chế quan trọng nhất để thực hiện khả năng tự bảo vệ các quyền con người của mỗi cá nhân.
     Tòa án Nhân quyền là nơi các cá nhân có thể tự bảo vệ các quyền con người của mình, nhưng trong trường hợp cá nhân là người nghèo, không có tiền để thuê luật sư và tham gia tố tụng thì sao?  Đây chính là nơi thể hiện tính đồng bộ và ưu việt của thế chế dân chủ lấy con người làm trung tâm, tất cả tập trung cho tự do của con người. Đó là, tất cả các công dân đều được miễn phí khi tham gia tự bảo vệ các quyền con người của mình tại các Tòa án Nhân quyền ở tất cả các cấp. Hệ thống chính quyền các cấp sẽ phải có nguồn kinh phí cho việc này. Nếu chúng ta chỉ nêu ra những cơ chế, định chế tốt đẹp bảo vệ quyền con người mà không đi tới cùng các yêu cầu, điều kiện để bảo đảm cơ chế đó vận hành đúng và đem lại lợi ích cao nhất cho người dân thì chúng ta không bao giờ có được sự tự do thực sự của người dân và một nền dân chủ hiệu quả.
     II/ Phương thức xây dựng thể chế dân chủ của quốc gia
     Có một điều cần lưu ý, phương thức xây dựng thể chế dân chủ của quốc gia được nêu ra ở đây không phải là sự khác biệt hoặc mới mẻ hoàn toàn. Thực tế, đó cũng chính là việc xây dựng các định chế cần thiết của bất kỳ nên dân chủ nào trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên, có sự nhấn mạnh, tập trung đặc biệt vào một số định chế, đồng thời cũng có sự bổ sung, hoàn thiện ở nhiều khía cạnh.
     Trước hết, chúng ta cần khẳng định, việc xây dựng thể chế dân chủ của quốc gia bao hàm việc xây dựng các định chế cần thiết sau: Hiến pháp Dân chủ, hay còn gọi là đạo luật cơ bản của quốc gia; cơ chế tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp và tư pháp); hình thành, thành lập các đảng chính trị (đa nguyên, đa đảng); cơ chế tản quyền, chế độ liên bang; các quyền tự do cơ bản của con người; các quyền tự do dân sự chính trị, hay quyền công dân,…vv…Trong quá trình xây dựng toàn bộ các định chế đó, cần chú trọng hoàn thiện và xây dựng thêm một số định chế và nội dung quan trọng.
     1/ Tập trung xây dựng thể chế dân chủ cơ sở, là đơn vị hành chính mà người dân trực tiếp tham gia
     Đây là điều khác biệt với phần lớn cách thức xây dựng thể chế dân chủ hiện nay trên thế giới. Trọng tâm của thể chế dân chủ cần phải đặt ở đơn vị cơ sở, là nơi người dân có thể tham gia trực tiếp nên việc xây dựng các điều luật bảo đảm các quyền con người trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của họ (để hiểu rõ hơn phần này, xin đọc cuốn sách Dân Chủ, chương IV, hiện thực hóa dân chủ). Một khuynh hướng quan trọng của thế giới là toàn cầu hóa đã giúp giảm bớt các gánh nặng vai trò quốc gia, cũng có nghĩa là giảm bớt sự tập trung quyền lực và nguồn lực của trung ương trong xây dựng thể chế dân chủ. Như vậy, thời điểm để xây dựng thể chế dân chủ tập trung trên bình diện cơ sở là rất thuận lợi đối với các quốc gia...
— nguyenvubinh       (còn nữa)
Hà Nội, ngày 21/7/2017

Những đóa hoa đời

Sinh ra ở một miền quê nghèo, không thích ồn ào, xô bồ, TP sầm uất hoa lệ vốn không phải là nơi để tôi chọn bởi một số lý do cá nhân.à rồi lâu nay câu hỏi cứ loanh quanh trong đầu: “Sài Gòn, có nên thương?” cũng đã có phần nào câu trả lời.
TP.HCM vừa tuyên dương 138 tấm gương điển hình trong phong trào thi đua yêu nước. Tác nghiệp tại buổi lễ, những “đóa hoa” trong “rừng hoa” người tốt việc tốt ấy, như sáng rực cả khán phòng, mà chính tôi cũng ngạc nhiên, và ngộ một điều: Sài Gòn vẫn rất đáng sống, vẫn rất tình người, mềm mỏng và đáng yêu làm sao!
“Một tấm gương sống có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền” - Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh nhắc lại lời dạy của Bác trong buổi lễ, quả thật đúng và ý nghĩa. Họ là những cụ ông, cụ bà đã về hưu nhưng vẫn cháy mình với công tác từ thiện, những đoàn viên thanh niên tình nguyện, những chiến sĩ lực lượng vũ trang ngày đêm bảo vệ bình yên cho TP, những công nhân sớm hôm quét rác, những người thầy tận tụy, những người lao động nghèo nhưng dạt dào tình cảm yêu thương…và còn rất nhiều hình ảnh tốt có trái tim thiện nguyện, nhiệt thành, vô tư nhất
Hằng ngày đọc báo, hôm nay có vụ án này chưa kịp khô giấy mực thì ngày mai lại có vụ án khác. Quả thật, nhiều lúc không riêng gì tôi mà cũng không ít người, cũng mất niềm tin vào cuộc sống…Và nhìn về những tấm gương tốt, không ngờ rằng quẩn quanh đâu đó, những con người tự nguyện đóng góp một cách thầm lặng cho TP văn minh, nghĩa tình…
Và tôi gọi đó là những “đóa hoa đời" tỏa ngát hương thơm…
Và tôi, thế hệ người làm báo non, trẻ, sẽ luôn giữ lửa nghề, với trái tim nhiệt thành, vô ưu nhất, tích cực hòa mình vào dòng người, vào những “rừng hoa” để phát hiện những tấm gương tốt, việc làm tốt, gieo hạt mầm xanh cho những bông hoa đẹp của TP mang tên Bác.Thảo Thương

Báo chí, Facebook và trách nhiệm công dân

Nếu chúng ta không chủ động thông tin, những đồn thổi sẽ lan truyền trên mạng xã hội cả ngày, cả tuần, đến khi có thông tin chính thức cả nước đã bị ảnh hưởng bởi thông tin sai lệch (nếu có) trên mạng.

Hôm 10.6, khi chia sẻ với sinh viên- những phóng viên trẻ tương lai của làng báo tại Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Bộ trưởng Thông tin Truyền thông Trương Minh Tuấn đặt vấn đề: "Ngày xưa, học hành không được nhiều nhưng lại có nhiều cây bút giỏi. Phải chăng xưa những người làm báo gắn rất chặt với thực tiễn đời sống, không có làm báo bàn phím, không có làm báo trong phòng lạnh? Họ hoạt động trong thực tiễn, sáng tạo tác phẩm báo chí từ thực tiễn và đem lại giá trị thực tiễn bằng tác phẩm của mình". 
Cũng tại buổi gặp gỡ, ông Trương Minh Tuấn cũng tỏ ra băn khoăn: "Bây giờ, rất nhiều nhà báo lũ lụt không phải xuống, chỉ ngồi ở nhà nhờ chụp ảnh rồi cũng thành một bài báo, đó là điều thiếu và xa rời thực tiễn".
Nói cho đúng, cũng không phải trong thời đại này, kiểu làm báo thiếu thực tiễn, ngồi nhà moi thông tin rồi viết "tường thuật" mới xuất hiện.
Cánh sinh viên ngành Văn, khoá 18 (1973-1977), Khoa ngữ văn (trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) chúng tôi không thể nào quên được thời khắc lịch sử của giai đoạn đất nước đang Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Ngày Huế được giải phóng 25.3, chúng tôi đang học năm thứ 2. Tôi là dạng sinh viên trẻ nhất lớp vì từ trường phổ thông lên. Lớp tôi có đến trên hai chục sinh viên là bộ đội, thương binh xuất ngũ về học dù đất nước vẫn chưa im tiếng súng. Các anh trở về học nhưng chân, tay, mắt... đâu còn lành lặn bởi đã gửi lại nơi chiến trường ác liệt. Nhiều bạn gái lớp tôi thầm yêu trộm nhớ các anh bởi sự mất mát thiêng liêng đó. Ngay từ lúc học, thơ văn của các anh sáng tác đã được gửi đăng ở nhiều tờ báo. Chúng tôi nể phục các anh ghê gớm cũng là vậy.
Nhưng cái lần nhà thơ L. lớp tôi viết bài bút ký về ngày Huế được giải phóng, rồi được đăng trên báo (chỉ sau ngày giải phóng độ 3-4 hôm gì đó) thì "thần tượng" là anh ngày nào đã khiến tôi hoài nghi. Tại sao anh ngồi học với mình tại ký túc xá Mễ Trì, Hà Nội và có bỏ một buổi học nào đâu mà lại viết được cái bút ký hừng hực tính thời sự ở vùng chiến sự Huế sau giải phóng hay đến vậy?
Nếu ai đã đọc bài bút ký đó thì thấy không khí thành Huế sau ngày giải phóng cũng "hừng hực" thật. Cũng có đầy đủ các nhân vật đời thường phát biểu, từ anh chiến sĩ giải phóng đến ông đạp xích lô, ông xe ôm, chị bán bún bò và bà bán bánh nậm trong bài. Nghe mà cứ như thực bởi chỉ toàn cảm xúc chứ đâu có gì khác…
Bây giờ, người ta vẫn có thể làm như thế nhưng chắc chắn toà soạn sẽ không chấp nhận. Bởi thông tin bây giờ cập nhật đến độ kinh khủng. Chỉ một hiện tượng xảy ra ở đâu đó trên mảnh đất Việt Nam thì chỉ vài chục giây sau, cộng đồng mạng đã chia sẻ búa xua.
Ngày ấy, báo nếu có muốn nhờ ai viết cũng sẽ mất cả ngày tìm cách điện đóm cho ai đấy. Khi xong thì lại đánh điện tín bài viết về toà soạn. Dù có ưu tiên nào đó, chắc củng phải 3-4 ngày mới đến tay người biên tập vì công nghệ ngày đó chỉ có vậy.
Còn hôm nay, trong bối cảnh báo chí truyền thông số, Việt Nam chúng ta giờ đã có hơn 18.000 nhà báo được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp thẻ. Dân số Việt Nam 92 triệu người thì có tới 48 triệu người dùng Facebook, mạng xã hội. Vậy có thể coi 48 triệu người đó cũng chính là những người làm báo nghiệp dư. Mỗi tài khoản Facebook cá nhân đều là một "tòa soạn" và mỗi người dùng Facebook đều có thể trở thành một nhà báo công dân, tự do bình luận trên chính tờ báo của mình.
Báo chí chính thống làm thế nào để định hướng đúng khi đất nước có tới 48 triệu người có gì đăng nấy, và tất nhiên sẽ có khi sai, khi đúng. Sai thì đã mấy ai chịu phạt, chịu trách nhiệm? Còn báo chí chính thống chỉ được phép đưa đúng. Thậm chí đúng đấy nhưng không phải đã cho đăng lên cả vì còn cân nhắc có lợi hay không.
Bộ trưởng Trương Minh Tuấn không phải không lo lắng khi ông nêu rằng: "Báo chí trong thời đại mới gắn chặt với truyền thông số, nhất là trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Nếu chúng ta không tiến kịp, chính báo chí sẽ đi sau mạng xã hội và nguy cơ tụt hậu với mạng xã hội là một nguy cơ hiện hữu...".
Tôi cũng nghĩ vậy và cho rằng, khó thì khó thật đấy nhưng báo chính thống cần được chủ động thông tin, tránh hết sức đặt mình ở thế bị động một cách không đáng có, ví như một vụ rơi máy bay hay nổ kho đạn, một yếu nhân qua đời, nhất là những trường hợp đột ngột, dễ đồn đại linh tinh... Nếu chúng ta không chủ động thông tin, những đồn thổi sẽ lan truyền trên mạng xã hội cả ngày, cả tuần, đến khi có thông tin chính thức cả nước đã bị ảnh hưởng bởi thông tin sai lệch (nếu có) trên mạng.
Phải thừa nhận mạng xã hội rất hữu hiệu cho báo chí. Đó là kênh thông tin được cập nhật từng phút để các nhà báo tham khảo, đi sâu tìm hiểu, khai thác để củng cố cho bài viết. Trong xã hội ngày nay , cần xem những thông tin muôn mặt, đa chiều trên mạng xã hội là chuyện bình thường. 
Thay cho lời kết của bài viết về mối quan hệ giữa báo chí với Facebook trong thời kỳ bùng nổ thông tin hôm nay, tôi muốn đưa lại phát biểu của một nữ doanh nhân luôn quan tâm đến hoạt động cộng đồng và đã góp sức mình cho nó. Chị là Đỗ Thuỳ Dương, ĐB HĐND TP Hà Nội, Tổng giám đốc Công ty Hội tụ nhân tài, phó Chủ tịch Hội nữ Doanh nhân Hà Nội chia sẻ với cộng đồng mạng: "Thay vì ngồi gõ phím bình luận chuyện thế giới như đang làm thì chúng ta có thể xắn tay áo rủ hàng xóm cùng dọn con ngõ nhỏ. Xa hơn nữa là chúng ta có thể chủ động phản biện, đóng góp ý kiến, cùng làm hoặc giám sát triển khai nhằm giúp tổ dân phố, chính quyền thôn, xóm, xã, phường, quận mình đang sống có được những sáng kiến thay đổi chất lượng đời sống"...Hành Thiện
Một lần được đứng rất gần nhà vua Nhật Bản
Nhà vua, hoàng hậu Nhật Bản thăm hỏi gia đình bà Xuân /// Reuters
Nhà vua, hoàng hậu Nhật Bản thăm hỏi gia đình bà Xuân.REUTERS
Trưa 2.3, tôi là một trong số rất đông phóng viên các hãng thông tấn Việt Nam, Nhật Bản và nhiều quốc gia tác nghiệp tại buổi nhà vua và hoàng hậu Nhật Bản gặp gỡ các gia đình Việt - Nhật.ọ là vợ, con, cháu của những người lính Nhật, sau năm 1945, Cách mạng tháng 8 thành công đã gia nhập Việt Minh, hỗ trợ bộ đội Việt Nam sử dụng vũ khí, khám chữa bệnh..., sau đó lấy vợ Việt Nam.
Hoàn cảnh lịch sử buộc những gia đình Việt - Nhật ấy phải ly biệt sau năm 1954 và 1960, khi những người đàn ông Nhật Bản hồi hương. Nhiều người phụ nữ không được sang Nhật cùng chồng, đành ôm con, ôm nỗi thương nhớ chồng biền biệt hàng chục năm, có người đến lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn chưa được nhìn thấy chồng lần cuối.
Nhà vua, hoàng hậu Nhật Bản, trong chuyến thăm Việt Nam (diễn ra từ 28.2 đến 5.3.2017) với nhiều hoạt động ý nghĩa, đã dành một buổi trưa thân mật để lắng nghe, chuyện trò cùng những vợ, con, cháu của những gia đình này.
Một lần được đứng rất gần nhà vua Nhật Bản - ảnh 1
Bà Xuân (bìa phải) cúi người chào nhà vua, hoàng hậu Nhật Bản REUTERS
Buổi gặp gỡ không ồn ào, không phô trương. Các thành viên của đoàn Nhật Bản cũng như các phóng viên đến từ xứ sở hoa anh đào rất lịch thiệp. Họ nguyên tắc, đúng giờ, trật tự nhưng không hề gây ra sự khó chịu cho những người bên cạnh.
Trong hội trường được trải thảm của khách sạn Sheraton ven hồ Tây, Hà Nội, không có micro, không giàn âm thanh, không có những chiếc ghế, bàn ngăn cách và xa lạ, nhà vua và hoàng hậu đến tận bên thân nhân những người đàn ông Nhật Bản năm nào, cúi đầu chào và khẽ khàng thăm hỏi.
Tôi là một phóng viên may mắn được đứng sát bên cụ bà Nguyễn Thị Xuân, 94 tuổi và được lắng nghe toàn bộ cuộc hội thoại giữa hai người phụ nữ, một người vợ của người lính Nhật và một người vợ của người đứng đầu hoàng gia Nhật Bản.
“Tôi biết đến câu chuyện của bà trước khi sang Việt Nam. Bà thật vất vả quá. Tôi mong bà luôn mạnh khỏe”, hoàng hậu Michiko, năm nay 82 tuổi, quỳ hẳn xuống thảm, cúi đầu chào bà Nguyễn Thị Xuân đang ngồi trên ghế tựa, đôi tay hoàng hậu nắm chặt đôi tay người nông dân lam lũ.Hoàng hậu vẫn quỳ gối trên thảm, ân cần thăm hỏi cuộc sống của bà Xuân và các con sau khi chồng bà trở về nước Nhật. Bà Xuân rưng rưng kể lại chuyện đời mình, mòn mỏi nuôi 3 con và đợi chồng suốt 52 năm, bên cạnh bà, các con trai và con gái lấy vạt áo chấm nước mắt.
“Tôi cũng là một phụ nữ, tôi rất đồng cảm và chia sẻ với bà về những tháng ngày cay đắng mà bà từng trải qua. Tôi cảm phục nghị lực của bà để vượt qua những khó khăn ấy”, hoàng hậu Michiko đáp lời và rơi lệ.
Cũng như người vợ của mình, nhà vua Akihito, 83 tuổi, khi đứng trước những người vợ, con, cháu của những người lính Nhật năm xưa đều cúi đầu chào trang trọng. Ông nắm tay những người già, hỏi thăm những người trẻ, luôn luôn lắng nghe chăm chú những nhắn gửi, những lời chúc của người đối diện. Trước một người đàn ông tuổi đã cao nhưng có thể nói và thăm hỏi mình cùng hoàng hậu bằng tiếng Nhật trực tiếp không qua thông dịch viên, nhà vua tỏ vẻ rất vui mừng, xúc động.
Một lần được đứng rất gần nhà vua Nhật Bản - ảnh 3
Các phóng viên Việt Nam, nước ngoài tác nghiệp tại sự kiện trưa 2.3THÚY HẰNG
Buổi gặp gỡ, trò chuyện diễn ra trong khoảng hơn 30 phút, ấm áp, thân tình như những người ở xa lâu ngày gặp lại trong một gia đình. Tôi nhìn thấy những nụ cười tỏ ý ngưỡng mộ của những phóng viên các hãng thông tấn Anh, Mỹ, cả những cái gật đầu trầm trồ của những đồng nghiệp Việt Nam đứng bên cạnh mình: “Người Nhật luôn lịch thiệp và trang trọng, dù là ai, ở đâu, trong hoàn cảnh nào. Họ sẵn sàng chấp nhận và đối mặt với quá khứ”.
Lịch sử luôn là lịch sử, đối mặt với nó là những câu chuyện của tình người, sự nhân văn và bao dung. Những gia đình mang trong mình hai dòng máu Việt Nam - Nhật Bản đến hôm nay luôn tự hào và mãn nguyện khi mối quan hệ giữa hai quốc gia ngày càng thân thiết và tốt đẹp.
Như con trai của một người lính Nhật nói với chúng tôi trước khi rời Sheraton để trở về nhà: “Mẹ tôi ốm nặng, không thể di chuyển. Giá như hôm nay mẹ tôi được đến đây. Tôi sẽ về kể cho mẹ nghe, hoàng hậu đã khóc khi nghe một bà vợ Việt Nam kể chuyện chờ đợi chồng suốt 52 năm, và bà luôn khâm phục những người phụ nữ Việt Nam, như mẹ”.Thúy Hằng

No comments:

Post a Comment