Thursday, July 27, 2017

Bài viết hay(5223)

Khu cư xá Thanh Bình II của tui ngày xưa có nhiều tên tuổi rất nổi tiếng như nhạc sĩ Lê Dinh, thẩm phán Tôn Thất Hiệp, nhà báo Huyền Vũ và con trai là thủ môn Quốc Bảo, nghệ sĩ Văn Hường, Tùng Lâm, Trang Thanh Lan và Quang Bình... Chưa kể là từ ngã tư Xóm Gà qua chùa Già Lam xuống tới sân banh Lê Văn Duyệt, chợ Cây Thị còn có biết bao nhân vật văn nghệ sĩ và anh chị đại ca giang hồ tứ chiếng. Nhà thơ Tản Đà, Bùi Giáng cũng có dạo lạc vô xóm tui. Sau 1975, tui mới biết Xóm Gà ở phường 11 quận Bình Thạnh của tui có nhiều tên tuổi có tiếng khác nữa.

Đảng và sự hiểu lầm của người Việt?

Tôi thấy có một cách suy nghĩ tương đối mâu thuẩn của Người Việt, ngay cả những người đấu tranh DC. Họ muốn lật đổ ĐCSVN nhưng họ lại muốn đảng này tốt hơn? Cả nước gần như có một ý nghĩ giống nhau, đảng phải có người giỏi, người tài đức để đưa đất nước này tiến lên. Một mặt họ muốn lật đổ đảng nhưng mặt khác họ lại nghĩ rằng nếu có người lãnh đạo giỏi ngang tầm khu vực, đảng sẽ mạnh lên, thay đổi, đem lại ấm no hạnh phúc cho dân tộc. Họ quên rằng mục tiêu của đảng độc tài và ước mơ của người dân khác nhau.
Đảng luôn luôn xác định kiên trì chủ nghĩa Max Lenin, tiến lên CNXH, sự tồn vong của chế độ là sự tồn vong của đảng, đảng là chế độ, quyền lực là thống nhất, đảng lãnh đạo tuyệt đối, đảng phải kiểm soát toàn bộ cuộc sống của người dân. Đảng sẽ cho người dân tất cả mọi quyền, miễn sao đừng đụng đến đảng, trong khi quyền người dân mong mõi quyền làm chủ, chỉ nói quyền làm chủ cá nhân thôi mà cũng chưa đạt được đừng nói chi đến quyền làm chủ đất nước. Bởi vì quyền làm chủ cá nhân như quyền tự do quan điểm, tự do ngôn luận vẫn đụng đến đảng, cho nên theo cách nghĩ của đảng như vậy, đảng và nhân dân luôn mâu thuẩn lẫn nhau. Tự do của người dân khác tự do của đảng, dân chủ của người dân khác dân chủ của đảng.
Người dân có vẻ lầm tưởng giữa 2 vấn đề: Đảng tốt hơn xã hội sẽ tốt hơn, nhân sự đảng giỏi hơn, xã hội sẽ phát triển.
Đó là một sai lầm của người Việt.
1- Đảng tốt hơn là tốt cho ai? Họ không bao giờ xác định rằng đảng tốt hơn là tốt cho ai, tốt cho đảng hay tốt cho đất nước, họ vẫn còn nhập nhằng giữa đảng và đất nước, đảng tốt lên thì đất nước tốt lên. Vì vậy, vô tình trong ý thức hệ họ vẫn chấp nhận đảng lãnh đạo, hoặc quên mất đảng là ai, chỉ cần xã hội có dân chủ là xong. Mà chuyện này làm sao xảy ra? Cái ý nghĩ đảng lảnh đạo nó vẫn mặc định nằm sâu đâu đó trong tiềm thức của họ, giống như nhà vua, họ vẫn muốn xã hội tốt lên nhưng từ đảng ban ra, từ vua chiếu chỉ, từ sự thay đổi của đảng chứ không phải từ người dân kiến tạo nên.
Vấn đề này có lẽ xuất phát từ nguồn gốc lịch sử, chúng ta chưa thoát khỏi nhận thức của chế độ phong kiến, người dân vẫn dưới ông vua, nhà vua quyết định tất cả, xã hội tốt đẹp hay không, phụ thuộc vào triều đình. Nhưng trong chế độ phong kiến triều đình và thần dân có cùng chung nhau một mục đích, "thanh bình quốc thái dân an", mục đích của vua là dân, là lo cho dân, dân tin vua cùng nhau xây dựng đất nước.
Trong khi đó, chế độ độc tài, chính quyền là nhóm lợi ích, thu vén cá nhân, đục khoét tài nguyên đất nước, đứng trên luật pháp, đàn áp người dân, mị dân bằng những khẩu hiệu lừa bịp và đẩy người dân đứng ngoài rìa xã hội, độc quyền sở hữu đất nước.
Trong chế đô độc tài, phát triển đất nước chỉ là hình thức, mục đích bản chất bên trong là thỏa mãn một ý thức hệ nào đó của riêng họ mà không cùng với ý nguyện của người dân như chủ nghĩa Phát xít. Hoặc hô hào một mô hình xã hội riêng nào đó mà đem người dân làm những con cừu tế lễ thí nghiệm như xã hội TQ. Trong chế độ độc tài người dân chỉ là nô lệ. Đảng CSVN cũng vậy, mục đích của đảng là muôn đời cai trị, dù đất nước thụt lùi lạc hậu đảng vẫn cai trị, đảng kèm hãm sự phát triển, trong khi mục đích của người dân là tự do và phát triển.
Đảng ngược với dân, đảng vì lợi ích của đảng, đảng thay đổi nhân sự, hội nghị, đại hội, bầu bán chỉ vì sự tồn vong của đảng, còn chuyện đất nước là một phạm trù khác. Cho nên dù đảng có tốt hơn hay tệ hơn, đất nước vẫn không phát triển, hoặc có phát triển, nhưng người dân sẽ không bao giờ có tự do dân chủ đúng nghĩa.
2- Có thể đất nước phát triển nhưng có dân chủ hay không? Họ phê bình cái đảng này tồi tệ, quái thai, khốn nạn, họ muốn phải thay đổi ông này mới lãnh đạo được đất nước, thay đổi ông kia kinh tế mới phát triển, điều này chỉ đúng trong xã hội phong kiến, không đúng trong chế độ độc tài. Có thể phát triển một giai đoạn nhưng người dân có hạnh phúc hay không? Chính cái quyền lực độc tài kèm hãm phát triển kinh tế đồng thời tiêu diệt luôn quyền tự do của dân tộc. Như vậy, dù thay ai đi nữa cái đảng đó vẫn còn, bản chất của nó không thay đổi. Vô tình chúng ta ủng hộ cho nó tồn tại thêm, mạnh thêm, chứ đâu phải lật đổ CS hay tốt thêm cho xã hội.
Nhìn bên cạnh theo như ước muốn của dân Việt, xã hội TQ, thành phần lãnh đạo rất bài bản, có trình độ, bằng cấp, nhìn xa trông rộng, nhưng mục đích của họ là gì? Vẫn là chủ nghĩa dân tộc đại Hán, sẵn sàng hy sinh quyền tự do cá nhân để phát triển kinh tế, đất đai vẫn sở hữu toàn dân, xây dựng nền dân chủ phương đông theo giá tri Châu Á chống lại phương Tây, phủ nhận quyền tự do báo chí trong khi nó là lực lượng thứ tư kiểm soát xã hội ngoài tam quyền phân lập, xã hội đầy tham nhũng. Tất cả những xã hội kiểu này đều là mị dân, phục vụ cho một mục đích nhóm lợi ích cầm quyền, độc tôn quyền lực, chống lại những quy luật tự nhiên của xã hội, muốn áp đặt quy luật đảng vào xã hội, họ muốn áp đặt chủ nghĩa dân tộc cực đoan để bảo vệ chính quyền và lừa dối người dân, trong khi người dân chỉ muốn an cư lạc nghiệp, ấm no hạnh phúc, tự do tư tưởng. Phát triển kinh tế để làm gì khi người dân không được hưởng lợi từ nó, khi quyền công dân bị chà đạp, đi ngoài những quy luật tự nhiên, tự ngụy biện kiểu phát triển riêng nhưng thực chất đó là chủ nghĩa toàn trị trá hình, lạm dụng quyền lực để bóp méo dân chủ của người dân, quy định một kiểu dân chủ theo kiểu của đảng. Bất cứ một chế độ nào phủ nhận quyền tự do ngôn luận đều là chế độ độc tài.
CS là vua tập thể, khác với độc tài cá nhân. Tất cả đảng viên khi chọn con đường vào đảng đều luồn lách vì quyền lợi cá nhân của mình, đều là những thành phần lưu manh thỏa hiệp với cái xấu dù trình độ học vấn của họ có đến đâu. Dù anh có tốt mấy khi vào đảng dù yêu nước hay cơ hội, hết Trung tâm bồi dưỡng chính trị mà quận nào cũng có, đến Trường đảng mà tỉnh nào cũng có, đến Trường đảng Nguyễn Ái Quốc, đến Viện Triết học Max Lê nin,…đến mức này đều là những con người "máy đảng" như nhau. Chịu đựng được mức độ nhồi sọ cở này, họ hoàn toàn là nhũng con người lý luận mù quán, suy nghĩ một chiều, chủ nghĩa Max Lê là ưu việt, đấu tranh giai cấp là nhiệm vụ, vơ vét là bản năng. Vì là thành phần lưu manh cơ hội nên quyền lợi cá nhân, quyền lợi phe cánh, quyền lợi đảng, còn đảng còn mình là tuyệt đối. Quyền lợi đó chia đều rộng khắp trải dài từ BCT xuống chủ tịch phường , dân phòng, cho nên họ ra sức bảo vệ, sống chết với nó.
Cũng có thể có những người CS yêu nước, hoặc giữa đường thay đổi nhận thức, nhưng trong một guồng máy cấu kết đan xen lẫn nhau, quyền lợi chia đều họ khó vùng dậy và trước sau gì cũng bị phe cánh kia nghiền nát, như Trần Xuân Bách (1990), Tướng Trần Độ (1999), Giáo sư Triết Hoàng Minh Chính (1967)…… Chắc chắn không phải 3 triệu đảng viên kia là CS gian xảo hết nhưng đã leo lên đến BCHTU chắc chắn khg ai tốt đẹp cả, hoặc vào đến BCT đó là thành phần CS chuyên nghiệp, lưu manh, xảo trá, giả dối, tuyệt đối tuân theo luật chơi của đảng và tìm cách vơ vét cho lòng tham của mình. Họ chỉ tốt sau khi đã về hưu.
Lịch sử đã chứng minh, một chế độ độc tài sẽ không bao giờ thay đổi nếu không có lực tác động từ quốc tế cùng người dân. Áp lực chọn lựa giữa tồn tại và mất hết buộc họ phải thay đổi. Gorbachov kêu gọi cải tổ 1991 khi Cách Mạng Đông Âu đã thành dây chuyền rộng khắp bắt đầu từ Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc, sụp đổ bức tường Berlin 1989-1990. Thein Sein chấp nhận bầu cử tự do, trả quyền lực về cho nhân dân khi cuộc đấu tranh của quần chúng và đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi đã lên quá cao độ, 5000 tù nhân chính trị bị bắt, bên cạnh nền kinh tế kiệt quệ và lệnh cấm vận của các nước Tây phương. Không có áp lực độc tài không thay đổi, độc tài dù có tốt đến mấy nó cũng không tự chuyển thành dân chủ. Muốn có dân chủ phải lật đổ độc tài, lật đổ toàn bộ hệ thống cấu trúc chính trị của nó, đó là cách duy nhất, đừng tin vào những thay đổi mị dân của đảng.
3- Đảng không phải nhà vua? Nhà vua có thể nói:" Trẩm tha chết cho khanh", điếu này là sự thật, nhưng Nguyễn Phú Trọng lên TV nói đất nước sẽ có dân chủ, điều này là mị dân. Bởi vì ông Trọng không phải nhà vua mà là đảng trưởng của đảng độc tài. Khác nhau??? Hai mục đích khác nhau.
Người dân tin vua vì vua là thiên tử không làm điều sai trái, nhưng không tin vào độc tài, độc tài là lừa dối, là quyền lợi. Đất nước phải có luật pháp công minh, chỉ khi nào có chỉ thị, nghị quyết, nghị định, luật lệ ban hành rõ ràng không vi hiến, báo chí được quyền tự do, công nhân có quyền lập hội, đất đai thuộc quyền sở hữu tư nhân… khi đó mới gọi là đảng có nhã ý thay đổi. Hãy xem lại đất nước ta, từ trước đến giờ có cái nghị định nào tôn trọng quyền lợi của người dân chưa, hay chỉ là những ngôn ngữ mờ mịt dồn dân vào chân tường trong khi hiến pháp đầy thơm tho. Nghĩa là lâu nay chúng ta sống trong lừa bịp hoàn toàn mà vẫn tin ở đảng sẽ làm điều tốt đẹp.
Chính điều ngộ nhận này, người dân vẫn mơ ngủ tưởng rằng đảng sẽ thay đổi, đảng có uy tín, tin ngay vào những câu phát biểu phù phím mị dân, hoặc thay đổi vài nhân sự mà quên rằng nó vẫn là chế độ độc tài, cho dù nó mạnh lên hay yếu xuống, nó vẫn còn tệ hơn vua. May mắn núp bóng trong ý thức hệ này đảng đã lừa bịp dân chúng lâu nay. Đây chính là lúc chúng ta cần phải sáng suốt nhìn nhận lại vấn đề này để đưa ra những phương án đấu tranh đúng đắn thích hợp hơn, đập tan luận điệu tuyên truyền của đảng. Đảng vừa đấm vừa xoa, vừa bóp vừa thả, tung hỏa mù, gieo rắt sợ hải, triệt để chuyên chính vô sản. Người dân vừa muốn lật đổ đảng, vừa muốn đảng thay đổi, vừa muốn đảng mạnh lên, vừa muốn xã hội phát triển, cho nên mờ mịt không nhận ra đúng bản chất của đảng, để đảng lừa bịp dẫn đi hết chặng này đến chặn khác.
Sài Gòn 6/2/2016
Trần Duy Sơn

Biển Đông Lại Dậy Sóng: Kêu cứu hay Ngày tận số?

Cách đây 2 năm, vào đầu tháng 5/2014, Trung Quốc bất ngờ kéo dàn khoan HD981 vào Biển Đông với hơn 100 chiếc tàu lớn nhỏ đi theo hộ tống, làm Biển Đông dậy sóng và Bình Dương đỏ lửa. Không biết Trung Quốc hay Việt Nam có định kỷ niệm ngày này hay không. Một sự kiện quan trọng như vậy mà không kỷ niệm thì thật uổng (dù mỗi bên có một lý do khác nhau). Nhưng muốn nói gì thì nói, đó là một bước ngoặt lớn đối với quan hệ Trung-Việt (từ “đồng sàng” bỗng biến thành “dị mộng”) và quan hệ Mỹ-Việt (từ “dị mộng” bỗng biến thành “đồng sàng”), và Biển Đông bỗng biến thành “thùng thuốc súng”.
Điều đáng nói là câu chuyện Biển Đông vẫn chưa dừng lại, như một ván cờ còn đang chơi dở, và câu chuyện Trung-Việt và Mỹ-Việt vẫn còn ngổn ngang, trong một tam giác bất cân xứng mà hình thù của nó vẫn còn đang chuyển động, như một bài toán hình học chưa có lời giải. Hầu hết những nhà phân tích như thày bói sờ voi, hoặc xem lá chè tươi để đoán sự kiện (vì quả cầu pha lê của phương Tây có lẽ không hợp với phương Đông).
Trong khi cái dàn khoan HD981 vẫn đang lởn vởn đâu đó, thì Biển Đông lại sắp dậy sóng, với những đồn đoán về bước leo thang quân sự hóa mới của trung Quốc. Hãy điểm nhanh những sự kiện đang diễn ra xem tháng Năm tới có điều gì bất ổn.
Quan điểm của John McCain
Trước hết, ai cũng biết cuối tháng 5 này, Tổng thống Obanma sẽ thăm chính thức Việt Nam (trước khi hết nhiệm kỳ). Đây là một cơ hội quan trọng hiếm có để hai nước nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược, vào thời điểm nhạy cảm khi Trung Quốc vẫn tiếp tục quân sự hóa Biển Đông, và bức tranh kinh tế - chính trị của Việt Nam có nhiều dấu hiệu bất ổn. Nhưng đáng tiếc là đúng lúc này Tổng thống “vịt què” Mỹ và chính phủ “lầm thời” VN dường như chưa thực sự thấy hết tình thế nguy hiểm tại Biển Đông (và Việt Nam), nên chưa thật sự sẵn sàng tháo gỡ hai vấn đề quan trọng nhất còn gây ách tắc cho việc xoay trục là nhân quyền và Cam Ranh. Hay nói cách khác, trong khi Trung Quốc đang nhảy “rock n roll” thì cặp đôi Mỹ-Việt vẫn đang nhảy điệu “slow waltz”. Việt Nam đang tách xa Trung Quốc, nhưng “không quá xa”, và đang nhích lại gần Mỹ, nhưng “không quá gần”. (Alexander Vuving).
Cái chết là ở chỗ đó! Lúc này hành động quá ít và quá chậm (too little too late) là thảm họa. Đó là cơ hội quá tốt cho Trung Quốc, nhưng là bi kịch cho Việt Nam. Lúc này mà không hành động quyết đoán để đột phá, thì còn lúc nào. Không phải ngẫu nhiên thượng nghị sỹ John McCain (Chủ tịch Tiểu ban Quân lực Thượng viện Mỹ) sốt ruột lên tiếng, “Mỹ cần hành động mạnh hơn là cử chỉ tượng trưng tại Biển Đông” (Americda Needs More than Symbolic Gestures in the South China Sea, John McCain, Financial Times, April 12, 2016).
Tại sao ông McCain kêu gọi Mỹ “chuyển hướng” (change course), để đối phó với Trung Quốc quyết liệt vào lúc này? Tại sao ông ấy nhấn mạnh hai tháng tới là thời điểm “kịch tính” (critical two-month period)? Phải chăng ông ấy biết điều gì mà chúng ta không biết? Trong bài báo đó, ông McCain viết, “Bất chấp quan điểm ‘ba không’ của chính quyền Obama (không được bồi đắp đảo, không được quân sự hóa, không được cưỡng chế) Bắc Kinh vẫn cứ xúc tiến cả ba. Việc chính quyền Obama tránh né rủi ro đã dẫn đến chính sách không răn đe được Trung Quốc theo đuổi bá chủ Biển Đông, trong khi làm các đồng minh và đối tác của Mỹ trong khu vực bối rối và hoang mang. Đã đến lúc chúng ta phải chuyển hướng, trong giai đoạn hai tháng tới đầy kịch tính đối với chính sách của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương…”
Ông McCain nhận định, “Trong mấy tháng tới, Trung Quốc có thể củng cố những gì họ đã giành được hoặc triển khai những cách thức cưỡng chế mới để mở rộng thêm. Điều này có thể bao gồm tiếp tục bồi đắp và quân sự hóa những vị trí chiến lược khác như Scarborough Shoal, nhằm đuổi nước khác ra khỏi khu vực tranh chấp, hoặc tuyên bố Khu vực Nhận dạng Phòng không đối với toàn bộ hoặc từng phần của Biển Đông…”
Ông nhấn mạnh, “Những đe dọa tiềm ẩn của Trung Quốc tại Biển Đông trong mấy tháng tới đòi hỏi Mỹ phải chuyển hướng để làm cho khu vực này yên tâm vào cam kết của Mỹ, và chứng tỏ với Bắc Kinh rằng nếu họ theo đuổi bá quyền tại Biển Đông thì sẽ gặp phải phản ứng quyết liệt… Như Báo cáo của CSIS tại Quốc hội gần đây đã khuyến nghị… ”
Tại sao phải tập trung đối phó với Trung Quốc trong mấy tháng tới? Ngoài sự kiện Tổng thống Obama sẽ thăm Việt Nam (cuối tháng 5) còn một sự kiện quan trọng khác mà Trung Quốc chắc quan tâm. Đó là việc Tòa án Quốc tế (Permanent Court of Arbitration) sẽ phán quyết (đầu tháng 6) về đơn kiện của Philippines đối với Trung Quốc. Để đối phó với phán quyết bất lợi, Trung Quốc chắc sẽ chạy đua với thời gian để thay đổi thực địa (changing facts on the ground/waters) bằng hành động phòng ngừa quyết liệt (preemptive and decisive action), để một khi Tòa công bố phán quyết, thì đã trở thành chuyện đã rồi (fait accompli).
Gần đây Trung Quốc đã tăng cường cho đảo Phú Lâm (Woody Island) thành một cứ điểm mạnh với quân cảng và sân bay hiện đại (đường băng dài 3000m). Hiện nay trên đảo có 10 máy bay quân sự, bao gồm 2 tiêm kích đa năng J-11 có tầm hoạt động 3.500km (tương tự như Su-27) và nhiều cường kích JH-7; có 8 dàn tên lửa đất đối không HQ-9 có tầm bắn 220km (4 cái đã sẵn sàng hoạt động); hệ thống radar AESA có thể theo dõi nhiều mục tiêu cùng một lúc, trong phạm vi 220km. Từ căn cứ Phú Lâm (Hoàng Sa), Trung Quốc có thể khống chế phần lớn không phận và hải phận Biển Đông, làm tăng rủi ro cho máy bay và tàu chiến Mỹ.
Trong vòng 2 năm nay, Trung Quốc đã san lấp 7 đảo nửa chìm nửa nổi (tại Trường Sa), thành các đảo nhân tạo và xây dựng trên đó nhiều công trình quân sự, bao gồm quân cảng và 3 sân bay tại các đảo Chữ Thập, Su Bi, Vành Khăn (có đường băng dài 3000m). Từ đảo Phú Lâm, Trung Quốc có thể dễ dàng mở rộng phạm vi hoạt động của máy bay và tàu chiến ra khắp Biển Đông, dựa vào chuỗi các căn cứ quân sự này, hình thành một tổ hợp quân sự liên hoàn trên Biển Đông, đe dọa hoạt động tự do hàng hải của Mỹ và các nước.
Bước tiếp theo của Trung Quốc.
Ngoài ra, Trung Quốc từ lâu đã có ý đồ chiếm Scarborough Shaoh, có vị trí chiến lược trong khu vực bắc Trường Sa (tranh chấp với Philippines). Trong sự kiện “Scarborough Shoal Standoff” (4/2012), Trung Quốc đã lợi dụng thái độ dè dặt của Mỹ, để chiếm đóng trái phép đảo này của PLP. Theo các nguồn tin tình báo Mỹ và Úc (Australia’s Defense Intelligence Organization & the Office of National Assessments), Trung Quốc có ý định biến Scarborough Shoal thành một đảo nhân tạo, để xây dựng một căn cứ quân sự quan trọng tại đây, và tuyên bố Khu vực Nhận diện Phòng không (ADIZ). Theo các chuyên gia quân sự, nếu Trung Quốc lắp đặt trạm radar tầm xa và các dàn tên lửa đất đối không và đất đối hạm tầm xa tại Scarborough Shoal, thì họ có thể theo dõi và uy hiếp hoạt động của Hạm đội 7 tại căn cứ Subic.
Nếu Trung Quốc ra tay hành động quyết liệt để củng cố vị trí chiến lược đã chiếm được tại Scarborough Shoal như “chuyện đã rồi”, trước khi Tòa Trọng tài đưa ra phán quyết, thì Tòa sẽ bất lực không cưỡng chế được Trung Quốc. “Hành động phòng ngừa” (preemptive) của Trung Quốc có thể làm “trật đường ray” (derail) các cố gắng chung của cộng đồng quốc tế muốn gây sức ép ngoại giao để buộc Trung Quốc phải chấp nhận phán quyết của Tòa. Bước quân sự hóa mới của Trung Quốc có thể làm vô hiệu hóa luật quốc tế.
Theo ông Carl Thayer, có mấy lý do khiếnTrung Quốc phản ứng. Thứ nhất là “Hiêp định Hợp tác Tăng cường Quốc phòng” giữa Mỹ và Philippines, theo đó quân đội Mỹ sẽ luân phiên sử dụng 4 căn cứ không quân và một căn cứ lục quân của PLP. Thứ hai là các cuộc tập trận chung của hải quân và không quân 2 nước tại Biển Đông, đặc biệt là cuộc tập trân chung “Balikatan” (vai kề vai) với sự tham gia của quân đội Philippines, Mỹ và Úc (4/4/2016). Trong bối cảnh đó, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã tới thăm Philippines (9/4/2016). Thứ ba là Mỹ đã thông báo cuộc tuần tra tự do hàng hải (FONOP) sẽ diễn ra tại Biển Đông (trong tháng 4/2016), tiếp theo 2 cuộc tuần tra trước (tháng 10/2015 và tháng 1/2016). Thứ tư là hội nghị ngoại trưởng các nước G7 (10/4/2016) đã ra tuyên bố đặc biệt về an ninh hàng hải, lên án Trung Quốc tại Biển Đông và Biển Hoa Đông. Trung Quốc đã kịch liệt phản đối, và đưa thêm máy bay chiến đấu và radar đến đảo Phú Lâm (Diplomat, April 15, 2016).
Theo tôi, đó không phải là những lý do chính, mà chỉ là những cái cớ trực tiếp để Trung Quốc tiếp tục leo thang quân sự hóa Biển Đông. Lý do chính là tham vọng (nhất quán) của Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông và thách thức vai trò cầm đầu của Mỹ, vì “Giấc mộng Trung Hoa”. Ngoài ra, còn một lý do quan trọng nữa thúc đẩy Tập Cận Bình phải hành động cứng rắn hơn bên ngoài lúc này là do tình hình bên trong đang ngày càng bất ổn, do tình hình kinh tế và chính trị đang xấu đi, như “màn chót” của chế độ. Nói cách khác, Tập Cận Bình đã đâm lao phải theo lao, đã leo lên lưng hổ thì không thể dừng lại. Cưỡi hổ hay săn hổ là một việc rất nguy hiểm, như chơi một canh bạc lớn (gambit), được ăn cả ngã về không!
Một yếu tố nữa cũng đáng lưu ý là hoạt động tích cực của cộng đồng người Hoa ở nước ngoài, như “tay trong” của Bắc Kinh để gây áp lực đối với chính sách và dư luận của nước sở tại. Đây không phải là điều gì mới lạ, nhưng yếu tố “ngoại giao nhân dân” này có thể tăng lên, do dòng người Trung Quốc di dân ra nước ngoài gần đây đã tăng vọt lên (như quá trình “Hán hóa”). Ví dụ, trước chuyến thăm Trung Quốc của thủ tướng Úc Malcolm Turnbull (9/4/2016), thì cộng đồng người Hoa tại Úc đã họp và ra tuyên bố, “Giới tinh hoa chính trị Úc cần hiểu rõ và xử lý thận trọng những vấn đề nhạy cảm như Biển Đông. Họ không nên gửi những thông điệp vô lý và sai lầm cho cộng đồng quốc tế”, và tuyên bố đó còn kêu gọi chính giới Úc phải “chuẩn bị thích đáng cho ‘tình hình khủng hoảng’ có thể xảy ra”. (Diplomat, April 9, 2016).
Luận điệu này rất giống với luận điệu răn đe trên báo “China Daily” khi Turnbull đến thăm Thượng Hải, “Tranh chấp tại Biển Đông sẽ phủ bóng đen lên sự hợp tác kinh tế đầy triển vọng nếu xu hướng này tiếp tục”. Rõ ràng đây là thái độ “rằn mặt” để ngăn ngừa chính phủ Úc có thể chuyển hướng ngả theo chính sách của Mỹ ngăn chặn Trung Quốc tại Biển Đông. Sở dĩ Trung Quốc có thái độ trịch thượng như vậy, vì chính phủ Abbott trước đây đã tỏ ra quá vồ vập đối với Tập Cận Bình để đánh đổi lấy Hiệp định Tự do Thương mại.
Lời cuối
Muốn ngăn chặn Trung Quốc tại Biển Đông, phải đối phó quyết liệt với hoạt động lấn chiếm và quân sự hóa trên thực địa của họ. Nhưng tử huyệt của họ có lẽ không phải ở Biển Đông (nơi họ đang ở thế “thượng phong”), mà là ở trong nước (nơi họ đang bộc lộ thế yếu đi xuống). Muốn thắng Achilles thì phải tìm ra cái tử huyệt ở gót chân. Trung Quốc đang xây “Vạn lý Trường thành bằng cát” trên Biển Đông. Kết cục thắng bại tại Biển Đông không phải chỉ do cục diện diễn ra trên biển đảo quyết định, mà còn do cục diện diễn ra trong nước quyết định. Bàn cờ Biển Đông sẽ thay đổi nếu bàn cờ trong nước thay đổi. Hay nói cách khác, chiến tranh chỉ là sự tiếp nối của chính trị (và kinh tế/tài chính). Đã đến lúc Mỹ và đồng minh phải thoát khỏi “cái bẫy phụ thuộc kinh tế lẫn nhau” (economic co-dependency trap) để có thể trừng phạt kinh tế thì chủ trương “xoay trục” và “ngăn chặn” mới thực sự có hiệu quả.Nguyễn Quang Dy
Tham Khảo
1. “America needs more than symbolic gestures in the South China Sea”, John McCain, Financial Times, April 12, 2016
2. “China Poised to Take Decisive and Provocative Action in the South China Sea”, Carl Thayer, Diplomat, April 15, 2016
3. “How China Upstaged U.S. With a Great Wall of Sand”, Andrew Browne, Wall Street Journal, April 12, 2015
Tác giả gửi viet-studies ngày 18-4-16

Lịch sử trong phận người

Tôi gặp những người lính Vị Xuyên lần đầu vào năm 2014, khi họ vừa trở về sau ngày giỗ trận 12/7 ở Hà Giang.
Một ngày sau, họ được tiếp kiến Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Hà Nội. Sau cuộc gặp, Vị Xuyên bắt đầu được nhắc đến nhiều, như một từ khoá, gợi ý cho thêm nhiều người tìm kiếm thông tin về chiến tranh biên giới Việt - Trung.
Nghe các cựu binh kể về những trận đánh giữ cao điểm, tôi đã sốc. Khi đó tôi mới biết cuối thập kỷ 1980, chiến tranh còn khốc liệt đến vậy. Còn họ chỉ đáp: “Sau khi chúng tôi trở về, nhiều người nghe chuyện cũng không tin còn đánh nhau dữ dội thế”.
Thế hệ 8X đời cuối như tôi biết đến chiến tranh biên giới phía Bắc qua vài dòng trong sách giáo khoa. Dù có muốn nhiều hơn cũng khó mà tìm thấy trong một cuốn chính sử được thừa nhận nào đó.
Thời còn đi học, tôi nhớ nằm lòng những năm tháng, con số trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhưng hầu như không biết, hoặc rất mù mờ về cuộc chiến 20 ngày dọc sáu tỉnh biên giới tháng 2/1979, về cuộc chiến dai dẳng ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tuyên… suốt 10 năm, nhất là Vị Xuyên. Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên tham mưu trưởng mặt trận Vị Xuyên thời kỳ 1985 - 1989, có lần nói với tôi: “Có đại tá quân đội còn hỏi tôi Vị Xuyên là ở đâu?”.
Tôi thấy thế hệ mình thiệt thòi, khi không được sớm biết những thông tin đó.
Nhưng tôi không tin rằng người Việt trẻ không quan tâm đến lịch sử nước nhà. Trong chặng đường làm báo, tôi biết nhiều câu chuyện về những người trẻ muốn tìm hiểu kỹ những năm tháng cha mẹ họ đã sống, những năm tháng họ chưa hoặc mới chỉ sắp ra đời. Ví dụ, cô học trò Hà Nội-Amsterdam Trần Ngọc Phương Minh cùng sáu bạn học lớp 11 từng dành tiền ăn sáng mua vé tàu vào Quảng Trị. Bảy cô cậu đến gặp 27 nạn nhân chiến tranh và gia đình, chụp 1.000 bức ảnh về cuộc sống và những khó khăn họ gặp phải, để rồi cuối năm 2014 cho ra đời triển lãm Đi qua chiến tranh.
Tôi biết rất nhiều người trẻ tha thiết với lịch sử, với định danh của dân tộc. Vấn đề cốt yếu của họ, là tiếp cận bằng cách nào và thông tin được minh bạch ra sao.
Khi thông tin chưa được công khai, chưa minh bạch, thì họ có thể tìm đến nguồn kiến thức vô tận chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội. Có người chọn được thông tin chất lượng, nhưng cũng có nhiều thứ xuyên tạc sự thật. Khi ấy, đúng - sai là rất khó phân biệt.
Đi, gặp và trò chuyện với những con người trên mảnh đất từng nóng hổi bom mìn, tôi nhận ra rằng có một phần “sử sách” đồ sộ nằm trong đầu những người lính cũ. Đó là những con người mà dù sách giáo khoa chưa nhắc, chính sử chưa ghi một dòng, thì nhiều năm qua họ vẫn về Vị Xuyên vào tháng 7. Năm nay, mưa rừng không ngớt nhắc họ nhớ đến ngày đau thương đã đóng đinh trong ký ức: 12/7 - ngày mở màn chiến dịch giành lại cao điểm, cũng là giỗ chung của hơn một nghìn người.
Họ sống thay phần người nằm xuống, góp tiền xây đài tưởng niệm trên nền đất xưa kia đặt sở chỉ huy tiền phương, mua dê tặng người dân nơi này làm kế sinh nhai, chia sẻ khi đồng đội vướng vòng lao lý làm cháu bé thiệt mạng vì tấm tôn… Với họ, cuộc chiến trong lòng chưa bao giờ kết thúc.
Những người còn sống ấy vẫn dặn tôi rằng, có một phần gương mặt của lịch sử in hằn trên những nghĩa trang. Trên cung đường đi qua nghĩa trang ấy, nếu từ thành phố Hà Giang rẽ theo Quốc lộ 2 hơn 20 cây số sẽ vào đến chiến trường ác liệt năm xưa; chạy xe qua Phương Thiện, Phương Độ, Phương Tiến, qua ngã ba Thanh Thủy sẽ thấy đài tưởng niệm; lên cao điểm 468 sẽ thấy một đài hương - nơi hội quân của người còn sống, và cả những người nằm xuống.
Đứng ở đó trông ra xa, sẽ thấy các cao điểm 685, 772, 1509, thung lũng Nậm Ngặt... phủ một màu xanh ngắt như không còn dấu tích gì của những trận chiến, xung đột suốt 10 năm. Dưới màu xanh ấy, những vết sẹo chiến tranh còn hằn rất rõ, chằng chịt như vết dao ngang dọc trên mặt người.
Ngày 27/7 này, ở bất kỳ đâu, bạn sẽ gặp một người lính cũ. Mỗi con người ấy là một pho chính sử, cho dù phần chính sử ấy chỉ có được bao nhiêu dòng trong sách giáo khoa.

'Lộ phí' 1.300 tỷ

Nhà ông trẻ tôi ở Thanh Thủy, Phú Thọ.
20 năm trước, mỗi lần về thăm ông, tôi thường qua phà Đá Chông trên con đường đất đỏ bụi mù, lác đác mấy mái nhà heo hút. Xã Đồng Luận nằm trên con đường ấy, giờ đã khác xưa nhiều lắm rồi. Dân làng ấy đưa nhau đi xuất khẩu lao động. Nhờ vậy, nhà cửa mọc lên dày đặc hơn, cũng khang trang hơn nhiều.
Cơn bão xuất khẩu lao động đang lan dần ra làng quê Thanh Thủy. Cậu em họ tôi vừa đi xuất khẩu Đài Loan về năm trước, thì năm nay cô em họ sang Nhật Bản. Đằng vợ, cũng ở Thanh Thủy, có ông anh họ vừa sang Nhật tháng 6, thì tháng 10, cô em họ cũng chuẩn bị ra sân bay.
Thay vì bất lực chứng kiến người thân của mình ăn không ngồi rỗi, nhàn cư vi bất thiện, tôi ủng hộ việc đưa người đi xuất khẩu lao động. Về mặt vĩ mô, xuất khẩu lao động mang về ngoại tệ cho quốc gia. Với cá nhân người lao động, họ không chỉ có thu nhập tốt hơn, mà còn được tiếp xúc với một nền văn hóa mới, những phương pháp làm việc mới. Khi trở về, họ sẽ có thể trở thành những lao động chất lượng cao hơn, với nhận thức tốt hơn.
Nhưng mọi chuyện chủ yếu diễn ra với lao động giản đơn. Gần đây, bộ Lao động Thương binh Xã hội đề xuất đưa cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp đi xuất khẩu lao động - đó lại là một câu chuyện hoàn toàn mới. Anh họ tôi - một kỹ sư - khi sang Nhật làm việc, kiếm được 30 triệu/tháng, trừ chi phí, tiết kiệm được 20 triệu - trong khi ở Việt Nam xoay ngang xoay dọc cũng chỉ được 5-7 triệu/tháng. Nhưng không phải mọi kỹ sư thu nhập 5 – 7 triệu đồng ở Việt Nam đều có thể nhận về con số gấp 4 - 5 lần như thế ở thị trường nước ngoài. Liệu 54.000 cử nhân mà Bộ định xuất khẩu có đủ năng lực làm việc, khi họ còn không thể xin việc ở thị trường Việt Nam?
Một cách khách quan, thị trường Việt Nam tương đối "dễ tính" về chất lượng nguồn nhân lực. Là một quốc gia đang phát triển, chúng ta có rất nhiều khoảng trống về sản phẩm và dịch vụ, nên cơ hội việc làm cũng rộng rãi hơn. Những kỹ sư có năng lực ở Việt Nam đều có thể kiếm được công việc tốt. Trong khi đó, ở các quốc gia phát triển như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc - những nơi thu hút nhân lực từ khắp nơi trên thế giới - cuộc cạnh tranh giữa phân khúc nhân sự chất lượng cao là rất lớn. Do đó, cơ hội việc làm cũng tương đối khó khăn. Các quốc gia này có thể thuê người Việt Nam làm các công việc chân tay vì người bản địa không muốn làm những công việc có giá trị gia tăng thấp. Liệu người lao động Việt Nam với những hạn chế về ngoại ngữ, tay nghề, hay thậm chí là cả văn hóa ứng xử, có thể làm tốt công việc phức tạp ở một quốc gia phát triển? Liệu những khóa học ngắn hạn của Bộ có giúp họ đáp ứng được những yêu cầu làm việc gắt gao khi mà bốn năm đào tạo trên giảng đường đại học đã không đủ trang trải kiến thức và kinh nghiệm cho họ kiếm một công việc dù là đơn giản ở quê nhà?
Xuất khẩu lao động là tốt, cả vĩ mô lẫn vi mô. Theo tôi, chúng ta đã làm đúng hướng khi xuất khẩu lao động phổ thông ra nước ngoài. Nhưng việc xuất khẩu cử nhân, kỹ sư thất nghiệp sang các nước phát triển phải được tính toán một cách thận trọng. Nếu thật sự có một thị trường lao động cho các kỹ sư Việt Nam, cơ hội đó nên được trao cho những người phù hợp nhất - chứ không chỉ là những người thất nghiệp. Nếu cần thiết, chúng ta có thể đưa các chương trình đào tạo vào hệ thống trường đại học, đào tạo nhân lực chỉ cho nhiệm vụ xuất khẩu lao động. Chỉ bằng cách tạo ra con người mới, có năng lực cạnh tranh, chúng ta mới có cơ hội trên sân khách.
Tôi mong người Việt Nam có thể trở thành công dân toàn cầu. Cùng một năng lực, một kỹ sư có thể kiếm gấp 10 lần, 20 lần khi làm việc ở nước ngoài. Nhưng để biến triển vọng đó thành sự thực, chúng ta cần một kế hoạch chi tiết, khoa học chứ không chỉ là 1.300 tỷ “lộ phí” đưa họ đi đường.Nguyễn Xuân Quang

Cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động là trách nhiệm và nghĩa vụ của chúng ta

Cảnh giác là vấn đề hết sức quan trọng, quyết định sự thành bại trong quá trình dựng nước và giữ nước. Lịch sử đã có nhiều ví dụ chứng minh, chỉ vì nhẹ dạ, cả tin, mất cảnh giác mà nước mất, nhà tan.
Ngày nay, đất nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các thế lực thù địch, phản động ráo riết thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trong đó chú trọng tác động vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Sở dĩ đây được coi là một trong những hướng tấn công chủ yếu đối với cách mạng nước ta, vì nếu thực hiện thành công “diễn biến hòa bình” trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật sẽ làm thay đổi chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh theo hướng tư sản. Vì vậy, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung và chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói riêng là cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản của cách mạng Việt Nam.
Đáng tiếc, thời gian qua, trong nội bộ ta, vẫn có những người chủ quan, mất cảnh giác, thậm chí mất cảnh giác nghiêm trọng trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch, phản động; có người còn không tỉnh táo, bị mắc mưu, phụ họa, cổ súy cho những luận điệu của địch, đòi đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi tam quyền phân lập, xây dựng “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây; đòi “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”; đòi “chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa”… Trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật, có những người hằn học, phê phán, phủ nhận những thành quả của đất nước và nhân dân ta trên lĩnh vực này; đòi áp dụng rập khuôn những quy định, mô hình pháp luật của các nước với thể chế chính trị tư sản vào Việt Nam… Rõ ràng, đó là những biểu hiện của sự giảm sút ý chí cách mạng, mất cảnh giác, không nhận rõ tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn cách mạng mới, không phân biệt rõ đâu là địch, đâu là ta, mơ hồ về tư tưởng chính trị.
Lịch sử đã chứng tỏ quy luật vận động và phát triển của nước ta là dựng nước đi đôi với giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, quy luật này vẫn giữ nguyên giá trị thời sự. Chúng ta không cường điệu, đánh giá quá cao kẻ địch, nhưng thực tế đã dạy chúng ta rằng, trong đấu tranh, tuyệt nhiên không bao giờ được lơi lỏng mất cảnh giác. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao cảnh giác, nhận thức đúng và đầy đủ tính chất gay gắt và phức tạp của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”; âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, phản động; kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi gây phương hại đến sự ổn định, vững mạnh và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân./.Khổng Minh Trí

No comments:

Post a Comment