Friday, July 28, 2017

Bài viết hay(5224)

Giá xe hơi tại VN mắc hơn Mỹ nhiều cho dù chất lượng từ trong ra ngoài kém xa trừ xe nhập từ châu Âu và Mỹ. Thuế cao như vậy mà dân VN vẫn có tiền để mua thì bái phục. Vậy mà khi tui nói VC giàu hơn VK thì mấy bác Bolsa chửi tui là VC ngu nên mới nghĩ vậy. Hàng năm VK vẫn gửi về VN hàng tỷ dollars tiền và quà nên VN hổng thiếu thứ gì, có tiền là tha hồ xài hàng ngoại trong khi nhiều ông bà già ở Bolsa vẫn phải xài food stamp, bông sữa, xin bác sĩ cho dầu gió xanh và thuốc gửi về VN. Hàng ngày đọc báo mạng từ VN, tui thấy lắm người quá giàu như Cường dollar, Hà Hồ, Mr Đàm và biết bao đại gia, chân dài xài tiền theo kiểu "công tử Bạc Liêu đốt tiền" trong khi có bà mẹ phải bán máu, có ông già phải còng lưng đạp cyclo, có bà cụ bán rau ớt bên vệ đường để nuôi cháu; tự dưng tui phải buột miệng chửi thề cho dù tui hiểu Life's not fair. Tiên sư cha những đứa vô cảm khi chúng đẻ bọc điều mà chẳng biết sống như Bill hay Mark khi cứ hợm hĩnh theo kiểu trưởng giả học làm sang.12985459_10153445921952371_3088218910243123490_n

Chết vì ngu và tham là cái chết tức tưởi nhất

Xin được lẩy đôi câu Kiều: Bài hay, rõ thật là hay - Đọc xong, sao cứ đắng cay thế này?
Bauxite Việt Nam
Có lẽ viết, nói và nghệ thuật ngôn từ thì Việt Nam ta là cường quốc số 1 trên thế giới. Cũng chẳng biết từ bao giờ và từ đâu mà các cụm từ có tiếp đầu ngữ "an ninh" xuất hiện và được sử dụng nhiều đến thế? Nhưng phải công nhận chính những cụm từ ấy, tiêu biểu như "an ninh năng lượng" đã "giải vây", tạo lối thoát và đường rút cho nhiều chủ trương, chương trình, dự án... khi gặp bế tắc, thua lỗ. Suy cho cùng thì "giải vây" trong nhiều trường hợp cũng chính là "giải ngân" cho những khoản chi vô tội vạ của các nhóm lợi ích mà thôi.
Trong bài báo mới đây - "Lại bàn về giá điện ở Việt Nam" - tôi đã viết "những giải pháp cải cách chính ngành điện nhằm hạ giá thành, giảm hao tổn, cải tiến công nghệ, tạo khung pháp lí cho cạnh tranh lành mạnh"... ngẫm suy có thể áp dụng cho bất kì ngành kinh tế nào của Việt Nam.

Doanh nghiệp nhà nước phần lớn làm ăn thua lỗ
Hầu hết các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước hoặc dùng vốn nhà nước (như các công trình giao thông...) đều lỗ nặng hoặc suất đầu tư cao vọt (như 1 km đường đắt gấp mấy lần công trình cùng loại ở các nước khác). Kiểu làm ăn này đâu chỉ ở ngành năng lượng và giao thông mà ở hầu hết các ngành mà doanh nghiệp nhà nước mưu chiếm lĩnh đỉnh cao, nhưng thua lỗ kéo dài.
Doanh nghiệp nhà nước sử dụng phần lớn tài sản của kinh tế nội địa và cả tài nguyên quan trọng nhất của quốc gia, nhất là hầm mỏ, không dành cho dân - dù dân là chủ. Cứ tưởng kinh tế công hữu sẽ có CNXH... nên cố làm bằng mọi giá. Cuối cùng, lại ảnh hưởng đến toàn nền kinh tế. Ngay Nghị quyết phát triển kinh tế tư nhân cũng cố nèo hợp tác xã và kinh tế nhà nước cùng là... nền tảng. Toàn say sưa với câu chữ cho tròn, "sáo rỗng" mà không đi vào thực chất. Nguồn gốc là ở chỗ kinh doanh mà nếu lỗ, đều do nhà nước chịu (tức là dân chịu) thì tránh sao khỏi tính toán sai, làm ẩu, thậm chí như vậy mới dễ kiếm lợi riêng.
Trên các phương tiện thông tin đại chúng đang rộ lên thông tin "2 tỉ USD bù lỗ cho Lọc dầu Nghi Sơn" làm tôi lại trạnh lòng nghĩ đến Singapore. Họ chủ yếu nhập dầu thô về tinh luyện rồi xuất khẩu thành phẩm kiếm lời, trị giá hàng mấy chục tỉ USD mỗi năm, tạo ra khoảng 5% GDP, thuộc hàng 1 trong 3 trung tâm lọc dầu lớn nhất thế giới. Còn Việt Nam dùng dầu thô của chính mình để tinh luyện, được hưởng rất nhiều ưu đãi về thuế, chưa đáp ứng nổi 100% nhu cầu xăng dầu trong nước, thế mà ngay cả chuyên gia WB cũng thấy lạ: hết Dung Quất rồi Nghi Sơn lại có vấn đề về tài chính, bù lỗ triền miên, càng đẩy đất nước lún sâu vào nguy cơ "vỡ trận tài chính".
Ngẫm suy, người dân có quyền đặt câu hỏi vì sao Nhà nước phải bỏ ra hàng núi tiền (cũng là tiền thuế của dân) xây nhà máy lọc dầu để chịu lỗ lại tác động xấu đến môi trường, thay vào đó cứ nhập xăng dầu như trước mà dùng, để số tiền đó đầu tư cách nào khác cho sinh lời, thì có lợi hơn cho đất nước không?
Việt Nam không cần làm nhà máy lọc dầu
Ngay từ đầu những năm 1990, nhiều chuyên gia ngành dầu khí đã khuyên cáo chưa nên xây dựng nhà máy lọc dầu nhưng lãnh đạo cấp cao chỉ đạo phải bảo đảm tự chủ an ninh năng lượng, lỗ cũng phải làm! Ngẫm suy, tư duy bảo đảm an ninh năng lượng ở thời điểm trước 2000 dù có ấu trĩ nhưng có lẽ khi ấy các nhà quản lí các cấp vẫn còn "trong sáng". Bây giờ thì chắc chẳng ai nói đến "an ninh" gì nữa, chỉ cần làm mọi cách để lôi kéo được dự án khủng, vay được nhiều tiền cho "chi tiêu" trước mắt, tội vạ con cháu chịu.
Theo tôi hiểu, các điểm chính, chưa nên xây dựng nhà máy lọc dầu ở Việt Nam là:
1. Ở thời điểm năm 1990, các nhà máy lọc dầu ở Singapore có tổng công suất bảo đảm cung cấp đủ nguồn xăng dầu cần thiết cho Việt Nam kể cả tính đến tương lai sau 2010, đồng thời tất cả các nhà máy owe Sing đều đã hết thời gian khấu hao, do đó giá bán sản phẩm có thể linh động điều chỉnh mà vẫn có lãi.
2. Singapore nằm ở vị trí đắc địa về trung chuyển, lại có cảng nước sâu. Nó cũng nằm ở vị trí quan trọng trong khu vực có mỏ dầu: lớn nhất là Indonesia, sau đó là Malaysia, Brunei.
3. Thuế lợi tức ở Singapore thấp nhất thế giới - khoảng 17%, chỉ cao hơn Hong Kong một chút là 16,5%, trong khi ở Mỹ là 35%, ở châu Âu còn cao hơn. Thái Lan là 30%, Việt Nam 32-50% (cho hoạt động dầu khí). Thuế cá nhân ở Việt Nam cho người nước ngoài là 20% nhưng cho người trong nước là 35%. Thuế ở Singapore thấp hơn nhiều.
Về giảm giá dầu thô, theo nguyên tắc không ảnh hưởng gì đến Dung Quất. Giá giảm thì giá đầu vào của Dung Quất cũng giảm. Dung Quất chỉ cần cộng thêm phí dịch vụ gia công dầu thô thành xăng. Dung Quất lỗ vì phí dịch vụ gia công và phí chuyên chở từ nơi có dầu thô tới nhà máy lọc dầu và từ Dung Quất đến người tiêu thụ chủ yếu ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cao.
4. Kịch bản lạc quan nhất cho trường hợp nhà máy lọc dầu ở Việt Nam sử dụng toàn nguyên liệu dầu thô của Việt Nam thì IRR là 7%, tức là nhà máy hết khấu hao sau 15 năm. Trong khi chúng ta đang "mơ" giá sản phẩm ổn định suốt 15 năm để bảo đảm hòa vốn thì các nhà máy ở Singapore ung dung bán được đồng nào là đút túi đồng ấy.
Thực tế trường hợp sử dụng toàn nguyên liệu dầu thô của Việt Nam chỉ được vài năm đầu cho nhà máy lọc dầu vì nguồn dầu của Việt Nam không đủ nhiều, chưa kể mấy năm nay tính ra bán dầu thô còn có lãi hơn, Chính phủ đang cần tiền. Đấy là chưa kể "kịch bản lạc quan" không thể xảy ra ở Việt Nam với cung cách quản lí "định hướng XHCN". Ngay cả kịch bản giá dầu đang từ 100 đô/thùng rớt xuống 40 đô/thùng (thậm chí dưới 40 đô) thì thời điểm cuối năm 1990 không nhà kinh tế nào trên thế giới có thể tưởng tượng được.
5. Trong khi đó, từ giữa năm 1990 (khi PVN bắt đầu nghiên cứu khả thi cho dự án Lọc dầu Dung Quất) đến năm 2004 (dự án bắt đầu giai đoạn thiết kế tổng thể) giá thành thiết bị công nghệ lọc dầu tăng gần gấp đôi, vị trí đặt nhà máy không thích hợp. Sai từ tổng thể xác định các tiêu chí ban đầu, thế nên không lỗ mới là lạ.
Chính vì thế mà Dung Quất và Nghi Sơn không có tương lai. Làm sao có thể cạnh tranh với Singapore và Malaysia. Ngay hiện nay, Singapore đã bắt đầu gặp khó vì phải cạnh tranh với Malaysia, dù thuế lợi nhuận của Malaysia là 25% cao hơn Singgapore. Malaysia có dầu, lại có giá lao động và mọi thứ rẻ hơn.
6. Tư duy bảo đảm an ninh năng lượng chứng tỏ ở thời điểm 1990-2000 lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa hiểu muốn phát triển thì phải tham gia toàn cầu hóa và các hiệp định kinh tế đa phương (năm 2007 Việt Nam mới gia nhập WTO). Bây giờ thì lại mua điện của Trung Quốc, nhập thiết bị, công nghệ nhiệt điện thế hệ cũ từ Trung Quốc, chắc tin ông bạn "16 chữ vàng" giúp Việt Nam ổn định an ninh năng lượng.
Dân gian có câu: "Ngu thì chết chứ bệnh tật gì đâu!". Quá đúng! Việt Nam bấn loạn về đại vấn đề nợ công, nợ xấu vì không biết tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tức là thấy thiên hạ có gì thì Việt Nam cũng phải có nấy, mà không tính đến quy luật của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã, sự phục vụ…
Lời kết
Nghĩ lại, nếu không bỏ ra hàng núi tiền để đầu tư, bất chấp rủi ro thì lấy đâu ra tiền bỏ vào cái "túi tham nhũng không đáy"!  Định hướng lớn của chúng ta sai từ lâu rồi và ngày càng lún sâu vào cái sai đó mà không muốn rút ra.  Nguyên nhân của cái ngu này là tham!
Lọc dầu Dung Quất do Việt Nam tự đầu tư, được ưu đãi nhiều vì là dự án lọc dầu đầu tiên, lỗ thì đổ cho chúng ta chưa có kinh nghiệm. Lọc dầu Nghi Sơn, ta đã có kinh nghiệm hơn, liên doanh với Kuwait, Nhật Bản để lợi dụng vốn và kinh nghiệm của họ nhưng rồi vẫn kêu lỗ, mà là ta lỗ do "bạn" quá khôn, chỗ nào khó nhằn thì đẩy sang chủ nhà, chứ chắc chắn là "bạn" đời nào chịu lỗ.
Tôi vẫn nhớ câu Thánh Anthony trả lời một người mù: "Trí tuệ mẫn tiệp như ngài có phải chịu khổ điều gì không?`. Ngài chỉ thọ 36 tuổi, nhưng xem ra, câu trả lời của vị Thánh nổi tiếng của Thiên chúa giáo vẫn còn linh nghiệm đến muôn đời "Khổ nhất là khi ta định hướng sai".
Dầu nhiều, chẳng thấy giầu đâu?
Đường sai, hướng lạc khoét sâu cái nghèo.
Khéo múa mép, vụng tay chèo
"Quất – Sơn"* dùng chuột bắt mèo mới hay?
* Dung Quất và Nghi Sơn là 2 nhà máy lọc dầu làm ăn thua lỗ.Tô Văn Trường

Vì lịch sử và công lý, chúng tôi lên tiếng

BVN vừa đăng lại một bài viết của ông Lê Minh Nghĩa và nhắc về ông được mấy hôm thì văn bản này xuất hiện. Với sự kính trọng sâu sắc các nạn nhân của "Vụ Xét lại chống Đảng", BVN xin được góp phần chuyển nó tới mọi người Việt Nam.
Bauxite Việt Nam
Chúng tôi, những nạn nhân còn sống và thân nhân những nạn nhân đã qua đời trong một vụ án không được xét xử cách nay vừa tròn 50 năm được gọi tắt là "Vụ án Xét lại chống Đảng", một lần nữa phải lên tiếng vì sự thật và công lý, vì lương tâm và nghĩa vụ, vì một đất nước thượng tôn pháp luật.

BỐI CẢNH LỊCH SỬ.
Năm 1956, tại Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, Bí thư thứ nhất Nikita Khrushev đã đọc báo cáo quan trọng về chống tệ sùng bái cá nhân Stalin và chủ trương "cùng tồn tại trong hoà bình" giữa hai hệ thống cộng sản và tư bản. Đường lối mới đã được hầu hết các đoàn đại biểu tán đồng tại Đại hội các đảng cộng sản và công nhân quốc tế họp tại Moskva với 81 thành viên tham dự năm 1960.
Đoàn đại biểu Đảng Lao động (Cộng sản) Việt Nam (viết tắt theo tên mới ĐCSVN) do Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh cùng với Bí thư thứ nhất Lê Duẩn và các ủy viên Bộ Chính trị Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh tham dự đã ký vào bản Tuyên bố chung Hội nghị trên. Đường lối mới này đã bị Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) kịch liệt lên án, gọi là "Chủ nghĩa xét lại hiện đại".
Sự thay đổi trong nhận định về quan hệ quốc tế đã phân hoá nội bộ một số đảng cộng sản. Trong ĐCSVN cũng xuất hiện hai luồng quan điểm khác nhau. Một bên ủng hộ "cùng tồn tại trong hoà bình", phản đối sự rập khuôn đường lối giáo điều tả khuynh của ĐCSTQ, mở rộng dân chủ trong đảng cũng như trong xã hội, chủ trương hòa bình thống nhất đất nước, phát triển kinh tế đa thành phần.
Bên kia, theo đường lối của ĐCSTQ, chủ trương chống "chủ nghĩa xét lại hiện đại", duy trì xã hội chuyên chính phi dân chủ, đẩy mạnh cải cách xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ hoàn toàn cơ chế kinh tế thị trường, kiên định chủ trương thống nhất đất nước bằng bạo lực.
Cuộc đấu tranh trong nội bộ diễn ra âm thầm nhưng căng thẳng đã kết thúc bằng nghị quyết của Hội nghị Trung ương 9 ĐCSVN họp năm 1963, đi ngược lại Tuyên bố chung Maskva 1960 đã được đoàn đại biểu Việt Nam long trọng ký kết. Nghị quyết 9 (phần đối ngoại), về thực chất là bản sao đường lối của ĐCSTQ đã khởi đầu cho cuộc trấn áp những đảng viên bất đồng chính kiến bị chụp mũ "chủ nghĩa xét lại hiện đại". Cần lưu ý là Chủ tịch Hồ Chí Minh không tham gia biểu quyết nghị quyết này.
Toàn văn Nghị quyết 9 được giữ trong tình trạng tuyệt mật, nhưng nội dung tinh thần được phổ biến cho các đảng viên và trí thức. Vì có quá nhiều tranh cãi nội bộ nên Đảng tuyên bố cho phép bảo lưu ý kiến khác biệt. Thái độ cởi mở này chỉ là biện pháp để phát hiện những người không tán thành.
Nhiều ý kiến bất đồng được biểu lộ công khai như những bài viết của các ông Hoàng Minh Chính - Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin, ông Trần Minh Việt, Phó Bí thư Thành ủy kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội. Những tâm thư của nhiều đảng viên lão thành gửi đến Bộ Chính trị, phản đối đường lối đối ngoại thân Trung Quốc, tranh luận về đường lối giải phóng miền Nam bằng bạo lực, nóng vội trong cải tạo kinh tế xã hội chủ nghĩa và tất cả các ý kiến phát biểu trái chiều tại các cuộc học tập đều được thu thập để rồi trấn áp khốc liệt vào cuối năm 1967.
DIỄN BIẾN SỰ KIỆN
ĐCSVN gọi tắt vụ án này là "Vụ Xét lại chống Đảng" diễn ra năm 1967, nhưng đến tháng 3 năm 1971 mới báo cáo Bộ Chính trị, tháng 1 năm 1972 mới đưa ra Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 20 (khóa III). Theo ông Nguyễn Trung Thành (Vụ trưởng Vụ Bảo vệ đảng thuộc Ban Tổ chức Trung ương) là người trực tiếp thi hành thì Bí thư thứ nhất Lê Duẩn và Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Lê Đức Thọ nhân danh Bộ Chính trị chỉ đạo việc bắt giữ và giam cầm.
Chiến dịch khủng bố đã bắt đầu vào ngày 27 tháng 7 năm 1967 và kéo dài bằng các cuộc bắt bớ, giam cầm, quản chế nhiều năm các cán bộ trung cao cấp mà không hề xét xử hay tuyên án.
Những người bị giam cầm nhiều năm gồm có:
- Hoàng Minh Chính, Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam, Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Viện trưởng Viện Triết học.
- Đặng Kim Giang, Thiếu tướng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần quân đội, Thứ trưởng Bộ Nông trường.
- Vũ Đình Huỳnh, Bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vụ trưởng Vụ Lễ tân - Bộ Ngoại giao, Vụ trưởng Ban thanh tra Chính phủ .
- Lê Trọng Nghĩa, Cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội).
- Lê Minh Nghĩa, Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng.
- Đỗ Đức Kiên, Đại tá, Cục trưởng Cục Tác chiến.
- Hoàng Thế Dũng, Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân.
- Đinh Chân, nhà báo, Báo Quân đội Nhân dân.
- Nguyễn Kiến Giang, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Bình, Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự Thật.
- Trần Minh Việt, Phó bí thư Thành ủy Hà Nội, Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, Vụ trưởng Vụ Tài vụ - Bộ Công nghiệp nhẹ.
- Phạm Viết, Phó tổng biên tập Báo Thời Mới (sau sáp nhập vào tờ Thủ đô Hà Nội thành tờ Hà Nội Mới).
- Nguyễn Thị Ngọc Lan, giảng viên tiếng Anh, Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, vợ ông Phạm Viết.
- Phạm Kỳ Vân, Phó tổng biên tập Tạp chí Học tập.
- Trần Thư, Tổng thư ký Báo Quân đội Nhân dân.
- Hồng Sĩ, Trung tá Công an, đặc trách công tác phản gián, Hải Phòng.
- Trần Châu, nhà báo, Việt Nam Thông tấn xã.
- Lưu Động nhà báo, Trưởng ban Nông nghiệp - Báo Nhân Dân.
- Vũ Thư Hiên, nhà báo, báo Ảnh Việt Nam (con trai cả ông Vũ Đình Huỳnh, không đảng).
- Huy Vân, đạo diễn điện ảnh.
- Phan Thế Vấn, bác sĩ, nguyên cán bộ nội thành Hà Nội.
- Vũ Huy Cương biên kịch điện ảnh (không đảng).
- Nguyễn Gia Lộc, cán bộ nghiên cứu, Viện Triết học.
- Phùng Văn Mỹ, cán bộ nghiên cứu, Viện Triết học.
- Bùi Ngọc Tấn, nhà báo (không đảng).
Và nhiều người khác không phải đảng viên cũng bị ĐCSVN trấn áp với nhiều mức độ khác nhau.
Những cán bộ cấp cao không bị bắt nhưng bị khai trừ Đảng là:
- Ung Văn Khiêm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
- Bùi Công Trừng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước.
- Nguyễn Văn Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
- Lê Liêm, Thứ trưởng Bộ Văn hóa.
- Minh Tranh, Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự Thật.
Một số người đang học tập, công tác ở Liên Xô đã ở lại tỵ nạn như:
- Lê Vinh Quốc, Đại tá, Chính ủy Sư đoàn 308.
- Nguyễn Minh Cần, Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội.
- Đỗ Văn Doãn, Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân.
Nhiều người không bị bắt giam đã bị đày ải, trù dập như các ông:
- Minh Tranh, Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự Thật,
- Các nhà báo Đặng Đình Cẩn, Mai Hiến, Trần Đĩnh, Mai Luân… và rất nhiều người khác nữa.
Trong cuộc trấn áp được mở rộng, bất kỳ người nào có quan điểm ít nhiều khác với đường lối của Đảng, đều bị quy kết là "xét lại" và bị trừng phạt với những mức độ khác nhau.
Sự trừng phạt nặng nề còn tiếp diễn vào cuối thập niên 90 đối với ông Nguyễn Trung Thành, người trực tiếp thụ lý vụ này khi ông cùng ông Lê Hồng Hà (Chánh văn phòng Bộ Công an) viết kiến nghị đề nghị Bộ Chính trị xem xét giải oan cho các nạn nhân.
NHỮNG NĂM THÁNG TÙ ĐẦY OAN ỨC VÀ HỆ LỤY
Người được coi là "đầu vụ" là ông Hoàng Minh Chính. Ông bị quy tội vì đã gửi cho Hội nghị Trung ương hai bản kiến nghị, bản thứ nhất phê phán Bộ Chính trị đã từ bỏ nguyên tắc đồng thuận với bản Tuyên bố Moskva 1960, bản thứ hai phê phán đường lối quốc tế sai trái của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Lần đầu, ông bị bắt tù 6 năm rồi quản chế tại gia. Lần thứ hai ông bị bắt giam từ năm 1981 đến 1987. Lần thứ ba từ năm 1995 đến 1996. Tổng cộng ông bị 12 năm tù giam và 8 năm quản chế. Là một sĩ quan thương binh, trong thời gian đó, ông phải chịu nhục hình và những hành vi xúc phạm nhân phẩm.
Các ông Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh bị quy là hai người trong "ba kẻ đầu vụ". Cả hai cùng với ông Trần Minh Việt… bị giam 6 năm và chịu thêm 3 năm lưu đầy biệt xứ, ở những địa phương khác nhau. Khi bị bắt, họ bị giam tại xà-lim Hỏa Lò, bị cùm chân và trong phòng giam không có ánh sáng. Nơi giam cầm các ông trong nhiều năm đều là các khu biệt giam, không được giao tiếp với bất kỳ ai.
Ông Đặng Kim Giang cũng bị bắt lần thứ hai năm 1981, trên đường đi đến khu biệt giam ở Nam Định thì lên cơn nhồi máu cơ tim, phải đưa thẳng vào bệnh viện công an và bị giam giữ tại đây cho đến khi bệnh tình nguy kịch, trả về nhà một thời gian thì mất.
Người bị giam lâu thứ hai là ông Vũ Thư Hiên, với 9 năm giam liên tục trong các nhà tù và trại tập trung, có những năm bị giam chung với tù hình sự.
Ông Phạm Viết, năm 1967 đang nghỉ công tác dài hạn để điều trị bệnh tim thì bị bắt, giam vào xà-lim Hỏa Lò. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, vợ ông Viết, người từng bị bắt 3 lần khi hoạt động nội thành Hà Nội trong kháng chiến chống Pháp, là người phụ nữ duy nhất trong vụ này đã bị tù 2 năm rưỡi vì tội không giao nộp bản luận văn phó tiến sĩ "Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam" của ông Trần Minh Việt viết tại Trường đảng Liên Xô. Bản này lúc đó bị vu cho là "bản cương lĩnh chính trị của tổ chức chống Đảng".
Thương tâm nhất trong vụ này là ông Phạm Kỳ Vân, Phó tổng biên tập Tạp chí Học tập. Ông Kỳ Vân bị bắt khi đang điều trị sơ gan cổ chướng, bệnh tình trở nên trầm trọng, ông được tha về để chết. Vợ ông bị chết đuối, con gái đi Thanh niên xung phong hy sinh trên đường Trường Sơn, con gái khác chết khi sinh nở. Người con trai út tuyệt vọng treo cổ tự vẫn. Cả gia đình không một người nào còn sống.
Còn rất nhiều người khác bị trấn áp theo nhiều cách khác nhau mà chúng tôi không thể kể ra hết: bị quản thúc với những cấm đoán ngặt nghèo, bị đưa đi cải tạo lao động, bị tước quyền công dân, tước bỏ các chính sách đãi ngộ. Họ bị đuổi khỏi cơ quan, đơn vị công tác và còn bị cấm làm cả những nghề kiếm sống thông thường như sửa chữa máy thu thanh, làm việc trong các cơ sở in ấn, sửa chữa đồng hồ, kể cả chữa xe đạp hay cắt tóc.
Ban Tổ chức Trung ương còn có chủ trương phân biệt đối xử với con em, gia đình những người bị đàn áp: không được kết nạp vào đảng, không được đề bạt lên vị trí quản lý, không được học các trường đại học được coi là quan trọng, ngoài các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thư viện…, không được cử đi công tác, học tập nước ngoài, không được phân công về công tác tại Hà Nội và làm việc tại các bộ ngành trung ương, cơ quan quan trọng.
Hàng trăm lá đơn khiếu oan, về thực chất là những thư tố cáo đã được gửi tới các cơ quan công quyền cao nhất của Nhà nước và Đảng Cộng sản trong suốt 50 năm qua, yêu cầu xét xử trước một phiên tòa công minh, đòi công khai vụ việc trước dư luận, bồi thường cho những thiệt hại về vật chất, tổn thương về tinh thần, phục hồi danh dự cho các nạn nhân… Tất cả những đòi hỏi chính đáng ấy chỉ được trả lời bằng sự im lặng.
NHẬN ĐỊNH CỦA NHỮNG NẠN NHÂN CÒN SỐNG VÀ THẾ HỆ KẾ TIẾP
50 năm đã trôi qua kể từ khi những nạn nhân đầu tiên của vụ "Xét lại chống Đảng" bị bắt ngày 27 tháng 7 năm 1967. Các ông Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm, Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang và nhiều người khác đã qua đời, mang theo đau thương và uất hận. Những người gây ra tấn thảm kịch lớn nhất trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn, Trường Chinh… - cũng đã chết.
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã tan rã. Trung Quốc và Việt Nam tuy danh xưng là xã hội chủ nghĩa nhưng trong thực tế đang đương đầu với các thách thức của giai đoạn tư bản bán khai, trước mọi tệ nạn như hối mại quyền thế, tham nhũng, lạm dụng luật pháp, chênh lệch giàu nghèo, vi phạm quyền dân chủ… chưa từng có.
Vụ "Xét lại chống Đảng" cũng như nhiều vụ án oan đã xảy ra trong quá khứ như: Cải cách ruộng đất, Nhân văn - Giai phẩm, Cải tạo tư bản tư doanh, Hợp tác hóa, tập trung cải tạo những người tham gia quân lực và chính quyền Việt Nam Cộng hòa… chưa được các thế hệ cầm quyền kế tiếp chính thức sửa sai và nghiễm nhiên cho rằng việc xử lý trước đây là đúng.
50 năm là một thời gian quá dài cho những oan ức và bất công. Khi sự kiện này xảy ra, những người cầm quyền hiện nay còn quá trẻ, thậm chí có người còn chưa ra đời, hiển nhiên không phải là thủ phạm nhưng họ không thể phủi tay cho rằng mình không có trách nhiệm giải quyết những vụ việc xảy ra trong quá khứ. Là chính quyền kế thừa, họ phải có trách nhiệm với những việc còn tồn tại theo đúng pháp luật, sòng phẳng với lịch sử. Đó là điều phải làm nếu họ còn có ý muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền và lấy lại niềm tin của nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Mỹ, phu nhân ông Đặng Kim Giang, bà Lê Hồng Ngọc, phu nhân ông Hoàng Minh Chính, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, phu nhân ông Phạm Viết, người phụ nữ duy nhất bị tù trong vụ này, ông Vũ Thư Hiên, ông Phan Thế Vấn và nhiều nhân chứng khác còn sống trong vụ này hiện đều đã ở tuổi gần đất xa trời. Những nhân chứng cuối cùng rồi cũng sẽ không còn, nhưng ký ức về vụ trấn áp sẽ còn sống mãi với thời gian.
Lịch sử không thể bị tẩy xoá.
Con cháu những nạn nhân đó dù chỉ là những đứa trẻ khi cha anh bị bắt, chẳng biết "xét lại" là gì, nhưng cũng nếm đủ những khổ cực của cuộc trấn áp tàn bạo nhắm vào thành viên gia đình những người không chịu cúi đầu. Đến nay, họ cũng đã về già nhưng mãi mãi không thể nào quên được những năm tháng đau thương ấy.
Cho tới nay, chúng tôi vẫn còn như thấy trước mắt hình ảnh tướng Đặng Kim Giang, chỉ huy hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ, nằm trong chiếc quan tài hở hoác dưới ngôi nhà tranh dột nát ở ngõ Chùa Liên Phái. Bà vợ ông vừa khóc vừa giã gạch non trộn với cơm nếp, trát kín những kẽ hở của chiếc quan tài ấy.
Chúng tôi không thể quên hình ảnh ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên Bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành viên Việt Nam Cách mạng Đồng chí hội từ năm 1925, trước khi ĐCSVN ra đời, bị công an dùng dây thừng trói giật cánh khuỷu khi còng sắt bập vào cổ tay ứa máu mà không vừa. Khi đó ông đã về hưu được vài năm.
Chúng tôi không thể quên nấm mồ của ông Phạm Viết nằm cô quạnh trên sườn đồi heo hút ở cạnh nhà tù Phú Sơn - Thái Nguyên. Ông là người sỹ quan thương binh đã chiến đấu nhiều năm quên mình trong nội thành Hà Nội. Ở tuổi 44, ông lìa đời mà không được có một người thân bên cạnh dù vợ con đã khẩn thiết yêu cầu được chăm sóc ông những ngày cuối đời.
Chúng tôi mãi mãi không thể quên những gì đã thấy, đã biết, đã ghi nhớ.
Và nhân đây chúng tôi cũng muốn gửi tới rất nhiều người đã đồng cảm và giúp đỡ chúng tôi trong suốt nửa thế kỷ qua lời cảm ơn chân thành. Sự chia sẻ trong tình người dù âm thầm hay công khai đã giúp chúng tôi có thêm nghị lực sống.
Bản lên tiếng này cũng là một nén hương muộn cho những nạn nhân đã khuất. Nhưng máu thịt của họ, tinh thần của họ vẫn còn đây, trong chúng tôi.
Chúng tôi cũng gửi bản lên tiếng này tới các vị đứng đầu Đảng và Nhà nước để nói rằng những thế hệ nối tiếp của các nạn nhân trong "Vụ Xét lại chống Đảng" sẽ còn tiếp tục lên tiếng cho tới khi vụ này được công khai trước toàn dân, cho tới khi lẽ công bằng được lập lại cho những nạn nhân còn sống và đã khuất.
Trước sau, lịch sử sẽ phán xét một cách công bằng.
Hà Nội, ngày 27-7-2017
Dưới đây là danh sách những nạn nhân còn sống và gia đình cũng như thân nhân các nạn nhân đã khuất cùng ký tên vào bản lên tiếng này. Danh sách này còn kéo dài do không có điều kiện liên hệ trực tiếp.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ, phu nhân ông Đặng Kim Giang và gia đình.
- Bà Lê Hồng Ngọc, phu nhân ông Hoàng Minh Chính và gia đình.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, phu nhân ông Phạm Viết và gia đình.
- Bà Đinh Thị Bích Đào, phu nhân ông Phùng Văn Mỹ và gia đình.
- Bà Nguyễn Thị Oanh, phu nhân ông Lưu Động (tên thật là Nguyễn Xuân Canh) và gia đình.
- Ông Vũ Thư Hiên, con trai ông Vũ Đình Huỳnh và gia đình.
- Ông Phan Thế Vấn và gia đình.
- Ông Trần Đĩnh và gia đình.
- Ông Trần Việt Trung, con trai ông Trần Châu và gia đình.
- Bà Minh Sơn, con gái ông Trần Minh Việt và gia đình.
- Nguyễn Thị Giáng Hương, con gái ông Trần Thư và gia đình.
Nơi gửi :
Gửi tới mọi người Việt Nam và các ông, bà:
- Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam;
- Ông Trần Đại Quang, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam;
- Ông Nguyến Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam.

TUYÊN BỐ PHẢN ĐỐI BẢN ÁN DÀNH CHO BÀ TRẦN THỊ NGA CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ

Vào ngày 25-7-2017, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã xét xử vội vã trong một ngày và tuyên bản án nặng nề 9 năm tù giam 5 năm quản chế đối với bà Trần Thị Nga.
CHÚNG TÔI NHẬN ĐỊNH như sau:
1)    Phiên tòa tuy mang danh nghĩa công khai nhưng lại cấm đoán cả những người thân của bà Trần Thị Nga được vào tham dự; bên ngoài trụ sở tòa án nhiều người dân đến ủng hộ bà Trần Thị Nga đã bị lực lượng an ninh ngăn cản, trấn áp và đánh đập;
2)    Bản án đã được cơ quan an ninh quyết định từ trước ngày xét xử và không phải là kết quả của một tiến trình tố tụng hợp lệ và hợp pháp theo luật định; hội đồng xét xử chỉ đóng vai con rối trong vở kịch đã được dàn dựng trước một cách khôi hài và lố bịch;
3)    Các chứng cứ dùng để buộc tội bà Trần Thị Nga rất mơ hồ và được xác lập chủ yếu dựa vào sự suy diễn và quy chụp chủ quan của cơ quan an ninh, và có thể dùng để buộc tội bất kỳ công dân nào, không riêng bà Trần Thị Nga; và
4)    Bản án 9 năm tù giam 5 năm quản chế dành cho bà Trần Thị Nga là sự nhạo báng công lý, khiến cho toàn dân phẫn nộ và xem thường hệ thống tư pháp vận hành theo sự lãnh đạo thô bạo của đảng cầm quyền.

VÌ NHỮNG LẼ NÊU TRÊN, CHÚNG TÔI, CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ ĐỒNG LÒNG, TUYÊN BỐ như sau:
Thứ nhất, bác bỏ hoàn toàn các cáo buộc của nhà cầm quyền Việt Nam đối với bà Trần Thị Nga.
Thứ hai, bà Trần Thị Nga được hưởng quyền tự do ngôn luận và quyền bình đẳng trước pháp luật. Việc phát biểu ôn hòa về các vấn nạn của đất nước và xã hội Việt Nam, dù trái với quan điểm và chính sách của nhà cầm quyền, dứt khoát không thể bị xem là hành vi phạm tội theo luật pháp hiện hành.
Thứ ba, lên tiếng về các vấn nạn của đất nước và xã hội Việt Nam là trách nhiệm của toàn dân, phù hợp Hiến pháp và pháp luật; chỉ những ai ngăn cản công dân thực hiện quyền và trách nhiệm đó mới là kẻ phạm pháp và cần phải bị trừng trị theo pháp luật.
Thứ tư, bản án 9 năm tù giam 5 năm quản chế dành cho bà Trần Thị Nga được tuyên hoàn toàn trái pháp luật và, do đó, vô giá trị.
Thứ năm, nhà cầm quyền Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho bà Trần Thị Nga.
Lập tại Việt Nam, ngày 27 tháng 7 năm 2017
Các Tổ chức Xã hội Dân sự:     
1/ Hội Cựu Tù nhân Lương tâm VN: Bs. Nguyễn Đan Quế, Lm. Phan Văn Lợi
2/ Hội Người Dân đòi Quyền Sống: Hồ Thị Bích Khương
3/ Người Bảo vệ Nhân quyền: Vũ Quốc Ngữ
4/ Qũy Tù Nhân Lương Tâm: Phùng Mai
5/ Mạng lưới Nhân quyền VN: Nguyễn Bá Tùng
6/ Tăng Đoàn Giáo Hội PGVNTN: HT. Thích Không Tánh
7/ Hội thánh Tin lành Mennonite Cộng Đồng: MS. Nguyễn Mạnh Hùng
8/ Thanh Niên Canada Tranh Đấu Cho Nhân Quyền Viet Nam: Nguyễn Khuê Tú
9/ Phòng công lý & Hòa bình DCCT Sài Gòn: Lm. Lê Ngọc Thanh.
10/ Hội Anh em Dân chủ: Nguyễn Trung Tôn
11/ Hội Phụ nữ Nhân quyền: Huỳnh Thục Vy
12/ Mạng lưới Các Tổ chức Xã hội Dân sự Độc lập: Vũ Quốc Ngữ
13/ Báo điện tử Tiếng Dân Việt Media: nhà báo Trần Quang Thành
14/ Hội Bầu bí Tương thân: Nguyễn Lê Hùng
15/ Mạng Lưới Blogger Việt Nam: Phạm Thanh Nghiên
16/ Giáo Hội Liên Hữu LuTheran VN-HK: MS Nguyễn Hoàng Hoa
17/ Ban Vận động Văn đoàn Độc lập: Nhà văn Nguyên Ngọc
18/ Hội Sinh Viên Nhân Quyền Việt Nam: Bs. Nguyễn Đan Quế
19/ Bạch Đằng Giang Foundation: Ths. Phạm Bá Hải.
Cá nhân:
1/ Ls. Lê Quốc Quân, Hà Nội
2/ Hoàng Dũng, PGSTS, TPHCM
3/ Bùi Văn Vươm
4/ Nguyễn Cường, Tiệp Khắc
5/ Trần Tiến Đức, nhà báo độc lập, đạo diễn phim tài liệu và truyền hình, Hà nội
6/ Nguyễn Tường Thụy, nhà báo độc lập, Hà Nội
7/ Phạm Thị Lân, Thanh Trì, Hà Nội 
8/ Phạm Toàn, nhà giáo dục, Hà Nội
9/ Đặng Hữu Nam, Linh mục giáo phận Vinh
10/ Bùi Minh Quốc, nhà báo, Đà Lạt
11/ Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An
12/ Hoàng Hưng, nhà thơ-dịch giả, Sài Gòn
13/ Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, tạm trú Hoa Kỳ

No comments:

Post a Comment