Friday, July 28, 2017

Bài viết hay(5225)

Sáng nay Bolsa "nghiên cứu" về "thằng Đại sứ Mỹ" mới sẽ thay Ted ở VN. Tui nói Trump không care gì nhân quyền mà chỉ biết có tiền thì ngay lập tức có tiếng nói "phản biện" ngay từ các bác vừa chơi tennis về. Họ cho rằng Trump "rất cao tay ấn" khi biết sử dụng dollars để giành quyền lợi về cho Mỹ chứ hổng có ngu như Obama cứ ca bài "tình cho không biếu không" nên "chẳng được mẹ gì ráo trọi"! Nghe câu này, tui chợt nghĩ tới chuyện Mỹ bỏ VNCH khiến cho chúng ta phải chạy qua Bolsa luôn nè. "Đụng" tới Trump là họ "nhảy nai" liền nên tui chẳng ngu gì mà chọc cứt cho thúi tay. Uống cà phê thôi để coi Trump sẽ làm gì khi Tàu Cộng nuốt hết biển đông. Lúc ấy Bolsa chỉ chửi VC chứ đố ai dám chửi Trump. Khi tui già, tui cũng đâm ra lú lẩn kia mà? Khổ nỗi, lúc nào tui cũng nghĩ mình khôn ngoan, hiểu biết, kinh nghiệm hơn tụi nhỏ nên hễ đứa nào cải lại là tui chửi nó hỗn láo. Về nhà, tui mới thấy cái ngu dốt của mình nên cứ đứng tồng ngồng trước kiếng mà mắc cỡ.13001097_10153448925747371_4236262378678791277_n

"Tình hình tham nhũng tại Việt Nam rất trầm trọng và ngày càng trầm trọng hơn"

Đó là lời bà Lê Hiền Đức - người được tổ chức Minh bạch quốc tế trao giải thưởng Liêm chính năm 2007 - trả lời phỏng vấn ông Dominique Foulon, Giám đốc phát hành của Tạp chí  "Carnets du Viet Nam" vào năm 2013.

Xét thấy nội dung bài viết này còn nguyên tính thời sự, BVN trân trọng đăng lại.

Bauxite Việt Nam
- Từ khi bà được sinh ra thì nước Việt Nam đã trải qua những trang sử sôi động. Bà có thể cho chúng tôi được biết về sự hiện diện của bà trong khung cảnh lịch sử đó?
Tôi được sinh ra vào năm 1932, khi Việt Nam còn là nước thuộc địa bị chia thành 3 kì với 3 chế độ cai trị khác biệt. Ở tuổi thiếu niên, tôi tận mắt thấy đời sống lầm than, cơ cực của người dân Việt Nam dưới ách thống trị tàn ác của thực dân, phong kiến. Đặc biệt vào đầu năm 1945, tôi phải chứng kiến nạn đói khủng khiếp đã cướp đi 2 triệu sinh mạng, tức là hơn 1/10 dân số Việt Nam khi ấy. Chúng hun đúc cho tôi lòng yêu nước, thương nòi, căm thù sự áp bức, bất công. Vì vậy, khi Mặt trận Việt Minh hô hào toàn dân vùng lên đoàn kết đánh đổ áp bức, bất công, giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho dân tộc, trả lại ruộng đất cho dân cày, nhà máy, hầm mỏ cho dân thợ, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, đem lại hạnh phúc, ấm no, bình đẳng cho toàn thể dân chúng, khiến ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ở tuổi 13, tôi đã cùng các anh chị mình hăng hái hưởng ứng. 30 năm tiếp theo đó, trên các cương vị công an viên rồi giáo sinh, giáo viên, tôi tích cực tham gia 2 cuộc kháng chiến với mục đích giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước. Nay nhìn lại, tôi rất xúc động và ít nhiều tự hào vì những năm qua mình đã biết sống vì dân, vì nước.

- Vào tình huống nào mà bà đã đối mặt với vấn đề tham nhũng và vấn đề tước đoạt quyền sử dụng đất một cách phi pháp? Có những ví dụ chính xác nào mà có thể chia sẻ với chúng tôi?
Tôi có thể đưa ra không phải hàng chục, hàng trăm mà là hàng ngàn, hàng vạn ví dụ rõ ràng và sinh động. Các thông tin về chúng đều đã được kiểm chứng là chính xác. Về đất đai, là các vụ cưỡng chế, tước đoạt đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng - thành phố Hải Phòng, đối với nhiều hộ nông dân ở huyện Văn Giang - tỉnh Hưng Yên, ở phường Dương Nội - quận Hà Đông - thành phố Hà Nội. Về y tế, là các vụ lừa đảo người dân để lấy tiền một cách lâu dài, có hệ thống diễn ra tại Bệnh viện Mắt Trung ương, tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hoài Đức - thành phố Hà Nội. Về giáo dục, là vụ tham ô của Tạ Thị Bích Ngọc ở Trường tiểu học Nguyễn Khả Trạc - quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội. Các lĩnh vực khác cũng có nhiều vụ việc nghiêm trọng, như vụ Đặng Thị Bích Hòa ở Công ty cổ phần Chuyển phát nhanh bưu điện.
Phản ứng của chính quyền ra sao khi bà đặt vấn đề với họ về việc tước đoạt quyền sử dụng đất và về tham nhũng?
Phản ứng chung là xấu, là tiêu cực, với những biểu hiện như lảng tránh, câu giờ, ngụy biện, đùn đẩy cho nhau… nhằm làm cho "chìm xuồng" ngay cả khi sự việc đã rõ mười mươi, đã có đầy đủ nhân chứng, vật chứng. Để lấy ví dụ cụ thể về điều này, ông có thể đọc bài "Chỉ đạo phòng chống hay trực tiếp bao che, lấp liếm?" mà tôi viết vào năm kia.
Từ những trải nghiệm của mình, tôi cho rằng Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam chỉ hô hào suông chứ không thực tâm chống tham nhũng, thậm chí còn bao che, dung túng tham nhũng, sống dựa vào tham nhũng. Việc cách đây mấy năm, khi trả lời chất vấn của Quốc hội trên cương vị Phó thủ tướng thường trực, ông Nguyễn Sinh Hùng (nay là Chủ tịch Quốc hội) nói nếu kỉ luật hết cán bộ sai phạm thì lấy ai làm việc cho thấy rõ tham nhũng, sai phạm là thuộc tính, là bản chất của đội ngũ quan chức của Việt Nam hiện nay.
- Thái độ của người nông dân đối với bà như thế nào ?
Bà con nông dân, đặc biệt là những người bị tước đoạt đất đai, nhà cửa… tỏ ra yêu mến, tin tưởng tôi. Thái độ của bà con đem lại cho tôi những cảm xúc lẫn lộn. Trân trọng, xúc động bao nhiêu, tôi lại buồn bã, áy náy bấy nhiêu vì trong hầu hết trường hợp, tôi chưa giúp được bà con đánh đuổi bọn cướp ngày, giành lại đất đai, nhà cửa…
Báo chí có nêu lên những mối đe dọa chống lại bà, đó là những gì?
Xét riêng việc chống tham nhũng thì đối với người chống tham nhũng, mối đe dọa chủ yếu và trực tiếp nhất là từ kẻ tham nhũng. Tôi từng phải nhận nhiều thư từ, cuộc gọi nặc danh, từng bị lén lút đổ chất thải bẩn thỉu vào nhà hay bị đặt vòng hoa tang trước cửa nhà. Tôi cũng từng phải nghe lời đe dọa từ những kẻ bị tôi tố cáo và lời "khuyên nhủ" có hàm ý răn đe từ những quan chức bao che chúng. Trong số quan chức ấy, không ít người ở cấp thứ trưởng, bộ trưởng, cũng không ít người nắm giữ trọng trách bảo vệ pháp luật, phòng chống tham nhũng.
Việc năm ngoái, nhiều tờ báo của Nhà nước đồng loạt đăng bài xuyên tạc, bôi nhọ tôi nhân một sự việc ở Sở thông tin - truyền thông Hà Nội và việc trong vài năm trở lại đây, lực lượng Công an đã nhiều lần cản trở hoạt động chống tham nhũng của tôi, thậm chí còn gửi giấy "triệu tập", còn ra quyết định xử phạt hành chính đối với tôi một cách vô căn cứ cho thấy ở Việt Nam đang tồn tại những tập đoàn tham nhũng "cấp quốc gia". Chữ "cấp quốc gia" tôi để trong nháy kép. 
Năm 2007, bà đã nhận được giải thưởng quốc tế về sự dấn thân của bà, điều đó xảy ra như thế nào?
Năm 2007 tôi có được Tổ chức Minh bạch quốc tế trao tặng một giải thưởng. Khi ấy, tôi hoàn toàn bất ngờ. Mọi việc đã diễn ra công khai, minh bạch đúng như tiêu chí của giải thưởng và tôn chỉ của tổ chức trao tặng nó. Trả lời rõ ràng, đầy đủ câu hỏi này của ông, chắc không ai hơn Tổ chức Minh bạch quốc tế. Ở đây, tôi chỉ muốn nói thêm rằng tôi và những người cùng chí hướng ở Việt Nam đấu tranh chống tham nhũng không phải để nhận sự khen thưởng nhưng đối với chúng tôi, giải thưởng năm 2007 của Tổ chức Minh bạch quốc tế có ý nghĩa động viên, khích lệ hết sức to lớn. Chúng tôi chân thành cảm ơn Tổ chức Minh bạch quốc tế về điều đó và mong muốn bạn bè quốc tế kề vai sát cánh cùng chúng tôi hơn nữa trên mặt trận chống tham nhũng.
- Theo bà thì những thay đổi nào sẽ là quan trọng cho tương lai của Việt Nam để người ta có thể sống trong một xã hội bớt tham nhũng và nhiều bình đẳng hơn.
Hiểu theo nghĩa chung nhất thì tham nhũng là lợi dụng quyền hành để tham ô và nhũng nhiễu dân. Có thể ví tham nhũng như một cái cây với đủ gốc rễ, thân chính, các cành lớn nhỏ, lá già, lá non, chồi, búp…
Ở Việt Nam, như tôi từng khẳng định, tham nhũng đang rất trầm trọng và ngày càng trầm trọng hơn, trong đó tham nhũng đất đai là rất kinh khủng, tham nhũng ở nhiều lĩnh vực khác như đầu tư công, y tế, giáo dục cũng không kém phần ghê gớm. Để minh chứng, tôi lấy ngay báo cáo của Chính phủ Việt Nam: Riêng năm 2012, các cơ quan hành chính Nhà nước đã tiếp nhận 349.139 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo, trong đó có 4.772 lượt đoàn đông người (từ 5 người trở lên); đã tiếp nhận 136.783 đơn thư khiếu nại, tố cáo. Về khiếu nại, cả nước phát sinh 115.344 lượt đơn với 86.814 vụ việc, trong đó khiếu nại về đất đai chiếm 74,7%, khiếu nại về nhà ở chiếm 4,2% tổng số đơn. Về tố cáo, cả nước phát sinh 21.439 đơn với 12.606 vụ việc, trong đó tố cáo về hành chính chiếm 93,9% tổng số đơn.
Nhưng những số liệu đó chỉ phần nào phản ánh các cành lớn nhỏ, lá già, lá non, chồi, búp… chứ chưa hề phản ánh gốc rễ, thân chính của cái cây tham nhũng ở Việt Nam, đó là tham nhũng về chính trị, tức tình trạng một thiểu số không do người dân bầu lên hay cử ra nhưng mấy chục năm qua cứ khư khư nắm giữ toàn bộ quyền quản lí, điều hành Nhà nước và xã hội. Sự tham nhũng đó khiến người dân Việt Nam không chỉ bị tước đoạt đất đai, nhà cửa, tài sản mà còn bị tước đoạt, xâm hại nhiều quyền lợi chính đáng, phổ quát khác như quyền tự do ngôn luận, tự do cư trú, tự do đi lại, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do tín ngưỡng, tự do biểu tình, tự do bầu cử và ứng cử… Chế độ chính trị và xã hội Việt Nam hiện nay hoàn toàn không phải là chế độ chính trị và xã hội mà gần 70 năm trước, khi đi theo Mặt trận Việt Minh, tôi mong muốn xây dựng. Có thể nói rằng cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của chúng tôi đã bị phản bội một cách toàn diện. Để hiểu cụ thể hơn điều này, ông có thể đọc bài "Phản cách mạng đã rõ ràng!" mà tôi viết năm ngoái.
Theo tôi, để được sống trong một xã hội bớt tham nhũng và nhiều bình đẳng hơn, người dân Việt Nam phải đốn bỏ thân chính, đào tận gốc, trốc tận rễ cái cây tham nhũng, đó là sự tham nhũng về chính trị mà tôi vừa đề cập.

"Ai bưng bít thông tin là lạc hậu nhất"

Đó là khẳng định của ông Trần Xuân Bách (1924 - 2006) trong một bài nói chuyện chỉ ít lâu trước khi ông bị Hội nghị Trung ương VIII (khóa VI) của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 3-1990 phê phán gay gắt và thi hành kỉ luật, đưa ra khỏi Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chấp hành Trung ương.

BVN đăng lại bài nói chuyện kể trên với mong muốn phụ giúp bạn đọc hiểu thêm về Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bauxite Việt Nam
Chủ nghĩa xã hội thế giới đang đứng trước những thử thách lớn
Một điểm rất thống nhất của toàn xã hội, toàn thể nhân dân hiện nay là trăn trở với tình hình trên thế giới và trong nước, muốn đưa dân tộc ta tiến lên. Trong Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu ta bình chân như vại trước tình hình hiện nay là thiếu trách nhiệm.

Chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang đứng trước những thử thách lớn và những triển vọng lớn. Do từ những thử thách của thời đại và những triển vọng lớn cũng là do thời đại. Tất cả các dân tộc đều trong hoàn cảnh bức xúc, cả chủ nghĩa tư bản, cả chủ nghĩa xã hội, cả loài người đều như vậy. Có hai lí do của sự bức xúc:
- Chỉ còn 10 năm nữa là bước sang thế kỉ XXI, dân tộc nào bị tụt hậu vào giữa thế kỉ XXI là nguy hiểm vô cùng, vì đây là thời đại của cách mạng khoa học kĩ thuật, của bùng nổ thông tin và giao lưu quốc tế. Xử lí vấn đề này không thể một nhóm, một người nào làm được. Cả dân tộc phải chuẩn bị và làm công việc này.
- Diễn biến chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa đang căng thẳng, phức tạp và dây chuyền. Vì sao có tính dây chuyền? Vì ta ở trong thời đại thông tin, không thể bưng bít thông tin được. Ai bưng bít thông tin là lạc hậu nhất. Phải cung cấp thông tin đầy đủ để người ta lựa chọn. Không thể nghĩ rằng ở châu Âu thì sôi sục còn châu Á thì ổn định. Không thể chủ quan cho mình là ổn định. Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều nằm trong sự vận động để tiến lên, đều có những mâu thuẫn lớn, đều phải phá vỡ sức đè nén của những cái cũ, không anh nào có thể yên trí mình ổn định được. Có khi tuần này còn huênh hoang, tuần sau đã bị đảo lộn.
Tình hình chung hiện nay là biểu hiện của tư duy khoa học đang lấn át tư duy giáo điều, tư duy khoa học đang thay thế tư duy giáo điều. Lịch sử đang thay đổi mạnh. Mác trao cho chúng ta vũ khí biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử chứ không phải trao ta Kinh Thánh! Việc vận dụng những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử đương thời như Mác nói. Mác sống thời chủ nghĩa tư bản cổ điển, ngày nay là chủ nghĩa tư bản hiện đại, có nhiều cái khác với thời Mác. Ngay thời Lê-nin, khi đề ra chính sách kinh tế mới (NEP) cũng đã đổi khác với những dự báo của Mác rồi. Phải có tư duy khoa học. Tụng từng câu "Kinh Thánh" trong sách Mác, không bảo vệ được chủ nghĩa Mác đâu. Ngay cả về chủ nghĩa xã hội, hiện nay đang có những cuộc tranh luận để hiểu nó thế nào cho đúng. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là đi tới một xã hội, trong đó sự phát triển toàn diện của mọi người là điều kiện cho sự phát triển toàn diện của xã hội như Mác và Ăng-ghen nói trong "Tuyên ngôn Cộng sản". Còn cụ thể như thế nào thì ta phải tìm. Trong Hội nghị Trung ương lần thứ VII, có thảo luận một vấn đề thú vị: Ban Văn hoá Tư tưởng đề nghị nêu những thuộc tính của chủ nghĩa xã hội, nhưng bị bác bỏ.
Ta phải nhận lỗi trước Mác vì đã làm méo mó chủ nghĩa Mác
Cho đến nay, ta thấy có nhiều kiểu chủ nghĩa xã hội: chủ nghĩa xã hội kiểu Sta-lin, chủ nghĩa xã hội kiểu Mao Trạch Đông, chủ nghĩa xã hội kiểu Pôn Pốt. Bây giờ đang có nhiều ý kiến khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Những dòng ý kiến khác nhau là quá trình trưởng thành, không sợ gì cả. Ở Liên Xô, người ta đang tranh luận Liên Xô ở vào thời kì nào của chủ nghĩa xã hội, và khái niệm chủ nghĩa xã hội phát triển bị bác bỏ vì nó được dùng để che đậy cho tình trạng trì trệ. Ta phải nhận lỗi trước Mác vì đã làm méo mó chủ nghĩa Mác. Ta đã chọn một mô hình, mà mô hình đó là sự lai ghép chủ nghĩa xã hội phương Tây với chủ nghĩa xã hội phương Đông. Bây giờ ta phải gỡ ra khỏi hai thứ giáo điều ấy.
Phải tiếp tục hoàn thiện tư duy khoa học của Đại hội VI
Vấn đề của mọi vấn đề hiện nay là tư duy khoa học. Đại hội VI đã khởi động theo hướng này và phải tiếp tục hoàn thiện thêm. Đại hội VI đúc kết 4 bài học có tính lí luận, tuy mới ở dạng sơ chế: lấy dân làm gốc, nắm vững quy luật khách quan, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Đảng phải ngang tầm nhiệm vụ lịch sử. Bản thân Đảng phải trở thành trí tuệ tiên phong của cả dân tộc, muốn thế phải có lí luận tiên phong. Những gì đang diễn ra ở thế giới chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, là sự phát triển tiến bộ, là thời kì thai nghén chủ nghĩa xã hội đích thực (dân chủ, khoa học, nhân đạo, hiện đại).
Hai xu thế chủ yếu chuyển sang kinh tế hàng hóa và dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa, đó cũng là hai cái mà Đại hội VI khởi động.
Dân chủ không phải là ban ơn
Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng. Đó là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ hóa là khơi động trí tuệ của toàn dân tộc để tháo gỡ khó khăn và đưa đất nước đi lên kịp thời đại. Từ hai vấn đề đó, xảy ra một vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lĩnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân. Từ nay đến hết thế kỉ XX, chủ nghĩa xã hội thế giới sẽ hoàn thiện và trưởng thành một bước lớn. Trong quá trình biến động này, mất đi cái gì? Mất chủ nghĩa xã hội kiểu quan liêu, hành chính - bao cấp, mất tư duy giáo điều. Và như thế là đúng lí luận của Mác, là phủ định của phủ định. Đây là thời kì thai nghén chủ nghĩa xã hội đích thực. Phải có bà đỡ là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Có bà đỡ khéo tay, có bà đỡ vụng tay, nhưng phải có bà đỡ.
Cần phải khách quan, bình tĩnh và đổi mới.
Ở Trung Quốc, Giang Trạch Dân đọc diễn văn coi là đã giải quyết được cơ bản vấn đề ăn no mặc ấm. Tôi rất nghi ngờ điều đó. Giang lại nêu lên độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, kế hoạch hóa tập trung và tư tưởng Mao Trạch Đông. Cuộc cải cách của Trung Quốc như vậy là đi theo chu kì vòng tròn, không phải theo đường xoáy trôn ốc. Sau vụ đàn áp Thiên An Môn, Trung Quốc không tuyên truyền về cải tổ ở Liên Xô nữa. Ở Liên Xô, Goóc-ba-chốp coi cải tổ là cuộc cách mạng với các thành phần và các nhân tố khác nhau, đan xen nhau, thống nhất với nhau và độ dài của cải tổ có thể là hàng chục năm. Đồng chí Goóc-ba-chốp nêu lên 3 vấn đề chính của cải tổ là dân chủ hóa, hạch toán kinh tế và cải tổ Đảng. Cải tổ để có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Đặt vấn đề như vậy là đúng chứ không sai. Kinh tế Liên Xô năm 1989 phát triển chậm nhưng theo Rư-giơ-cốp, mặc dù căng thẳng song không thể quay lại con đường cũ vì đó là ngõ cụt. Năm 1989 là năm khó khăn nhất của Liên Xô nhưng rồi sẽ trở lại bình thường. Liên Xô rất thận trọng trong vấn đề xử lí giá và tỉ giá vì đây là một nước rất lớn.
Trước cuộc khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa, cần phải khách quan, bình tĩnh và phải đánh giá theo quan niệm đổi mới. Sau Hội nghị VII của Trung ương, chúng tôi đã rút kinh nghiệm. Ngày 25-11-1989, Bộ Chính trị chúng tôi đã họp và đánh giá tình hình các nước Đông Âu theo quan điểm đổi mới. Cuộc khủng hoảng ở các nước đó diễn ra trong bối cảnh khoa học kĩ thuật và giao lưu quốc tế phát triển mạnh, ý thức độc lập và dân chủ tăng nhanh và thông tin bùng nổ. Tập thể Bộ Chính trị phân định có hai loại mâu thuẫn cần chú trọng: mâu thuẫn nội tại tích tụ lâu ngày của chủ nghĩa xã hội và mâu thuẫn giữa hai hệ thống. Nguyên nhân khủng hoảng là lãnh đạo sai lầm, vi phạm dân chủ, duy ý chí, bảo thủ trì trệ, đổi mới lệch lạc, đội ngũ đảng viên cán bộ thoái hóa, hư hỏng. Trong khi đó thì chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động triệt để lợi dụng. Bọn đế quốc ngay từ khi chủ nghĩa cộng sản ra đời đã kịch liệt chống lại và luôn nói tới cái chết của chủ nghĩa cộng sản, không có gì mới.
Thái độ của Đảng ta là rút kinh nghiệm Hội nghị VII, cần tránh cả hai thái độ hốt hoảng (cho chủ nghĩa xã hội đang có nguy cơ mất ở Đông Âu) và chủ quan (cho mình chẳng có vấn đề gì lớn, vẫn giả định).
Phải thực hiện dân chủ từ trên xuống dưới.
Bộ Chính trị quyết định phải tiếp tục đổi mới, phải thực hiện dân chủ mạnh mẽ trong Đảng, từ trên xuống dưới, từ Bộ Chính trị trở đi. Cần quán triệt và thực hiện nghị quyết Đại hội VI, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị về công tác đối ngoại và Nghị quyết Trung ương VI về cơ cấu kinh tế.
Không thể dùng quyền lực thay cho năng lực
Vấn đề năng lực của Đảng nổi lên hàng đầu trong lúc này. Không thể dùng quyền lực thay cho năng lực. Thời đại nào có trí tuệ của thời đại ấy. Đảng phải có năng lực trí tuệ. Xã hội ta đã chớm vui vì sức ép lạm phát và thị trường có giảm đi nhưng lòng dân vẫn còn chưa yên. Dân đang đòi hỏi dân chủ hóa, đòi hỏi công bằng xã hội, đòi hỏi cán bộ, đảng viên và Đảng phải vươn lên vị trí tiên phong. Đảng phải kết tinh truyền thống dân tộc và trí tuệ thời đại, không như thế thì không giữ được vai trò lãnh đạo. Đừng đổ lỗi cho cải tổ, đổi mới, cải cách. Đổi mới là cái gương để ta soi. Nếu mặt bị nhơ chỉ rửa mặt chứ không phải là đập vỡ gương. Vấn đề đặt ra lúc này là phải đổi mới đồng bộ, tổng thể, cả cơ chế kinh tế lẫn cơ chế chính trị. Hai vấn đề chủ yếu của cơ chế kinh tế là vấn đề sở hữu và vấn đề thị trường (luận đề: kế hoạch nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên thị trường). Hai vấn đề chính của cơ chế chính trị là: quản lí nhà nước và quản lí kinh doanh, vai trò lãnh đạo của Đảng và quyền lực của nhân dân (luận đề: Đảng nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên xã hội).Trần Xuân Bách

Cao điểm Vị Xuyên: Thất trận, lính Trung Quốc nổi loạn bắn chỉ huy


Trong 6 năm chiến đấu phòng ngự chống Trung Quốc lấn chiếm ở mặt trận Vị Xuyên đã diễn ra nhiều trận đánh ác liệt nhưng ít có trận nào được báo chí Trung Quốc nói đến nhiều như trận ngày 31-5-1985 trên cao điểm A6B (phía Trung Quốc gọi là cao điểm 211). Khu vực này cùng Bốn Hầm, 772… là nơi chiến sự diễn ra ác liệt nhất. Địch dội xuống đây hàng trăm ngàn quả đạn pháo khiến đỉnh núi bị bạt thấp đi mấy mét, đá trở nên trắng xóa vì đạn pháo, nên được lính ta gọi là "Lò vôi thế kỉ". Nhưng chính tại nơi này, cán bộ chiến sĩ ta đã kiên cường tiến công giành lại trận địa, bám trụ cho đến khi đối phương phải rút quân về bên kia biên giới.
clip_image001
Vị trí đóng quân xen kẽ khu vực trước khi xảy ra trận đánh (chữ màu đỏ là quân Trung Quốc giữ, chữ màu đen là quân ta giữ). Ảnh do tác giả cung cấp.

Trận A6B đã đi vào lịch sử hào hùng của quân đội ta như một trận phản kích, phòng ngự thắng lợi. Đối với đối phương, đây là một trận thất bại cay đắng, được nhắc đến nhiều, ngoài tổn thất lớn, cũng bởi sau trận này đã xảy ra vụ binh biến chưa từng có: lính vác súng bắn chỉ huy quân đoàn vì bất tài, nướng quân vô ích…
Mạng Thiết Huyết (Tiexue.net) của Trung Quốc hiện vẫn đang đăng trên mục "Lịch sử Trung Quốc" của Diễn đàn lịch sử Thiết Huyết bài viết về trận huyết chiến A6B và chuyện xảy ra sau đó với nhan đề: "Hổ phụ sinh khuyển tử: Túc Nhung Sinh, con trai Túc Dụ và trận thảm bại ngày 31-5 của Quân đoàn 67" tại địa chỉ: http://bbs.tiexue.net/post _ 3404616_ 1. html. Ngoại trừ những chi tiết bịa đặt, phóng đại thắng lợi, che giấu thất bại, bài báo đã phản ánh phần nào thực tế cuộc chiến đấu ác liệt này. Xin lược dịch dưới đây để bạn đọc tham khảo (đề mục nhỏ do chúng tôi đặt).
Bất ngờ bị mất điểm cao 211
Cao điểm 211 (tức A6B) ở khu vực cửa khẩu Na La - mặt trận Lão Sơn (tức cụm cao điểm 1509, phía tây sông Lô thuộc xã Thanh Thủy - huyện Vị Xuyên - tỉnh Hà Giang) do Quân đoàn 1 (QĐ1) chiếm được ngày 11-2-1985.
clip_image001[4]
Một góc nhìn khác về A6B (cao điểm 211) với các trận địa 1, 2, 3 (chỗ khoanh đỏ là nơi hàng chục lính Trung Quốc bị chết). Ảnh do tác giả cung cấp.
Ngày 18-5-1985, Quân đoàn 67 (QĐ67) sau khi ra luân chiến đã tiếp nhận bàn giao trận địa từ Quân đoàn 1. 13 ngày sau, vào lúc 5h10’ ngày 31-5-1985, Quân khu 2 Việt Nam nhân lúc QĐ67 đứng chân chưa vững đã phát động cuộc tấn công "M-1" pháo kích mãnh liệt toàn bộ mặt trận suốt 45 phút. Đến 5h55’, khi pháo binh chuyển làn, Tiểu đoàn 4 (d4) - Trung đoàn 982 (e982) của Việt Nam đã chia làm hai hướng tiến công 3 điểm cao 211, 156 và 166; cùng lúc d5/e982 của họ nghi binh tiến công các cao điểm 140, 142.
Dưới sự yểm hộ của pháo binh, quân đội Việt Nam đã lợi dụng ưu thế binh lực, nhanh chóng đánh chiếm các chốt số 1, 2 của điểm cao 211. Tiểu đội chốt giữ ở đó cơ bản chết hết, chiến sĩ Lý Lâm Hải ở chốt số 1 bị bắt làm tù binh, tiểu đội trưởng Bào Hổ Dân bỏ trận địa, nhảy xuống thung lũng trốn, sau 7 ngày mới tìm về được trận địa bên kia. Sau đó quân Việt Nam nhiều lần tổ chức tiến công các điểm cao 140, 156, 166 đến tận 9h30’ tối mới ngừng. Điểm cao 211 không rộng lắm, nằm kề điểm cao 227 (tức A6A) do quân Việt Nam chốt giữ. Toàn bộ 211 chỉ có 3 điểm chốt. Nói cách khác, quân Việt Nam đã chiếm lại thành công toàn bộ cao điểm 211.
Bị mất trận địa nhưng báo cáo vẫn đang kiểm soát
clip_image002[4]
Hình ảnh nơi xảy ra trận đánh ác liệt. Cao điểm 211 (A6B) phía bên phải.
Ảnh do tác giả cung cấp.
Ngày hôm đó, QĐ67 khi báo cáo Quân khu Côn Minh và Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc vẫn nói đang kiểm soát được cao điểm 211; nhưng Trung tướng Ngôi Phúc Lâm, Cục trưởng Cục Tác chiến/BTTM tỏ ý sẽ tự mình ra Lão Sơn kiểm tra công tác, yêu cầu QĐ67 cho gọi chiến sĩ ở cao điểm 211 xuống báo cáo. Không còn cách nào khác, QĐ67 ra lệnh bằng mọi giá phải chiếm lại các chốt số 1, 2 của 211.
Sư trưởng f199 khi đó là Thiếu tướng Trịnh Quảng Thần (sau này về hưu khi đang là Phó tư lệnh Quân khu tỉnh Sơn Đông) lên tiếng phản đối mạo hiểm xuất kích, cho rằng bộ đội vừa tiếp nhận trận địa, chưa thông thạo tình hình chiến trường, địa hình và tình hình bên kia, cần phải để quân lính có quá trình làm quen.
Trịnh Quảng Thần nói: trận đầu rất quan trọng, không đánh thì thôi, nếu đánh phải thắng, chắc thắng hãy đánh. Ý kiến của Thần không những không được chấp nhận mà còn bị Tham mưu trưởng QĐ67 là Túc Nhung Sinh phê bình là "sợ chiến đấu", "dao động". Túc Nhung Sinh báo cáo vấn đề của Trịnh Quảng Thần lên Tư lệnh quân đoàn. Tức giận, Tư lệnh QĐ67 đã bãi quyền chỉ huy của Trịnh Quảng Thần, giao Túc Nhung Sinh vượt qua mặt cơ quan f199, trực tiếp sử dụng cơ quan quân đoàn tổ chức cho e595/f199 tổ chức phản kích nhằm lấy lại trận địa.
Túc Nhung Sinh là con trai Đại tướng Túc Dụ (1907-1984, nguyên Ủy viên thường vụ Quân ủy, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc), mới được đề bạt làm Sư trưởng f200 được một năm, trước khi QĐ67 ra biên giới, nhờ chạy các mối quan hệ nên được đề bạt Tham mưu trưởng QĐ67. Chuyến đi "tráng men" (nguyên văn: mạ vàng) này của Sinh đã khiến quân lính f199 rơi vào bi kịch.
Sau khi QĐ67 thảm bại, Sinh ngồi im trên ghế Tham mưu trưởng QĐ67 5 năm, đến năm 1990 bị điều ngang về BTTM làm Cục phó Cục Quân vụ (quân lực), ngồi chơi xơi nước. Sau khi "Dương gia tướng" (ám chỉ anh em Dương Thượng Côn, Dương Bạch Băng) bị ngã ngựa, Trương Vạn Niên - bộ hạ cũ của ông Túc Dụ lên làm Phó chủ tịch Quân ủy - đã đề bạt Túc Nhung Sinh làm Tư lệnh QĐ24, tháng 11-1997 lại đề bạt Sinh làm Phó tư lệnh Quân khu Bắc Kinh, phụ trách hậu cần, nội vụ, ngoại sự… Năm 1999, Sinh được phong hàm trung tướng sau 11 năm ngồi im với lon thiếu tướng.
Trở lại câu chuyện ở mặt trận năm 1985. Ngày 1-6-1985, d1/e595/f199/QĐ67 do Túc Nhung Sinh tổ chức tập kết ở cao điểm 255, tiến hành phản kích định chiếm lại cao điểm 211. Tiểu đoàn phó Vương Triều Đông phụ trách chỉ huy tuyến 1.
Sáng sớm, dưới màn mưa như trút, Đông dẫn phân đội xung kích xuất kích. Cùng lúc mũi thứ hai do Trung đội trưởng Trung đội 2 (b2)/Đại đội 1 Vương Trung Viễn chỉ huy cũng từ cao điểm 908 đánh xuống. Hai mũi đột kích vượt qua địa hình lồi lõm nhằm thẳng hai trận địa chốt số 1, 2 trên 211 xông tới. Lúc đó, quân Việt Nam trên 211 phát hiện 2 toán xung kích của ta (Trung Quốc), cuộc chiến lập tức bùng phát. Quân Việt Nam chiếm địa thế cao hơn, ném lựu đạn và bắn quét như mưa, đồng thời gọi pháo binh tiến hành phong tỏa hỏa lực. Pháo Trung Quốc cũng bắn chế áp lên 211.
clip_image003[4]
Lính Trung Quốc sau trận đánh đẫm máu. Ảnh do tác giả cung cấp
Đạn pháo của cả hai bên cùng bắn trùm lên 255 và 211, mảnh đạn bay tứ tung. Hai tiểu đội trưởng lần lượt chết trên đường xung phong. Dưới một mỏm đá cao 5m ở chân 211, hơn 10 lính xung kích tử trận, máu hòa vào bùn đất. Những người sống sót lui về chốt số 3 củng cố lại rồi xung phong tiếp. Quân Việt Nam ở 211 và 227 phối hợp đánh chặn. Sau khi quân Trung Quốc chiếm được trận địa số 1 và 2, quân Việt Nam ở 255 liền tổ chức bao vây, đẩy lui 8 lính còn sống sót, trong đó 5 đã bị thương về trận địa số 3. Sau khi chốt giữ mấy ngày ở chốt số 3, 5 lính bị thương đều bị chết…
Trong máy vô tuyến điện 861 không ngừng vang lên tiếng các mũi xung kích gọi nhau nhưng đại bộ phận họ sau đó đều chết và bị thương. Dưới màn mưa và đạn pháo, Đại đội 3 (c3) tổ chức 3 đợt xung phong nữa nhưng qua ngày thứ 2 chỉ còn sót lại 2 người.
Trong các ngày từ 2-6 đến 11-6, các đội viên xung kích của quân Trung Quốc cơ bản không có cách nào tiếp cận được cao điểm 211, mà người chỉ huy ở Sở chỉ huy tiền phương vẫn cứ liên tục thúc giục xung phong. Trong tình hình không thể giành lại được 211, QĐ67 vẫn ném nhiều binh lực và đạn dược, cố bằng mọi giá quyết giành lại cao điểm này. Trong chiến đấu, do hỏa lực pháo binh Việt Nam quá dữ dội, thi thể những lính xung kích bị chết không thể đem về được, cảnh tượng xác chết nằm phơi mình khắp nơi trông rất thê thảm. f199 phải tổ chức mấy đợt tiến công có yểm hộ để lấy xác.
Trong cuộc chiến đấu kéo dài 11 ngày đó, e595/f199/qđ67 bị tổn thất nghiêm trọng: 2 tiểu đoàn bị quân Việt Nam đánh tan, biên chế từ đại đội đến trung đoàn hoàn toàn bị xóa. Để tăng viện cho e595, đơn vị dự bị của sư đoàn là d3/e597 cũng tổn thất nghiêm trọng. Hơn 120 đội viên đột kích mãi mãi nằm lại 211, số bị thương thì không sao tính xuể; mấy trăm hầm hố, hang động lớn nhỏ xung quanh khu vực này chỗ nào cũng chật kín thương binh. Sau trận đánh, khi rút về tuyến sau, số người còn tự mình đi về trận địa xuất phát được chỉ chiếm không tới 1/10. Cả e595 đã mất sức chiến đấu, không thể đảm đương được nhiệm vụ tác chiến, phải đưa ra khỏi mặt trận để chỉnh đốn. Để thay thế e595, Quân khu Tế Nam phải khẩn cấp thành lập e598 từ 3 tiểu đoàn lấy từ các e598, 599, 600 và đại đội pháo lấy từ f76 để đưa ra Vân Nam thay cho e595.
clip_image005
Mệnh lệnh của SCH Quân khu yêu cầu từ 4-6 tổ chức các cuộc xung phong cấp trung đội, đại đội quyết giành lại chốt 1 và 2. Trong đó khoác lác trận 31-5 đã tiêu diệt hơn 700 quân Việt Nam. Ảnh do tác giả cung cấp.
Về mặt địa hình, cao điểm 211 không có giá trị quân sự gì lớn, nhưng vì nó được QĐ67 nhận bàn giao từ QĐ1 nên chỉ huy QĐ67 nhận định không thể để mất, tung lực lượng lớn binh lực vào chịu trận dưới hỏa lực pháo của Việt Nam. Đó là nguyên nhân chủ yếu gây nên trận thảm bại 11-6. Sau khi tin tức về thất bại của e595/f199/qđ67 lan truyền, toàn quân Trung Quốc đều sửng sốt. Thế nhưng, đối với các quan binh e595 đã bỏ mình trong trận đó, điều đáng tiếc không chỉ có thế.
Trong số họ, đại bộ phận sau đó đã không được tôn vinh đúng mức. Trong danh sách gần 100 liệt sĩ được khen thưởng huân chương, ngoài Giả Kha, không thấy có tên các quan binh của e595 chết trong trận 11-6.
Quân lính phẫn uất bắn chỉ huy
Quân binh f199 từ trên xuống dưới cực kì phẫn nộ đối với thủ trưởng QĐ67. Rất nhiều người viết đơn tố cáo, kiện lên tới Quân ủy và Tổng bộ, chỉ trích Tham mưu trưởng QĐ67 không nghe ý kiến bộ đội, đánh nhau trên giấy, gây nên thất bại nghiêm trọng ngay trận đầu ra quân. Bộ Tổng tham mưu lần lượt cử các đoàn do Cục trưởng Quân huấn Thác Hiệp dẫn đầu xuống điều tra. Sau khi điều tra, kết luận khẳng định không phải do lãnh đạo f199 sợ chiến đấu mà do thủ trưởng QĐ67 khi đó không phán đoán chính xác tình hình địch, ta, chỉ huy vượt cấp, sau khi thất bại lại đùn đẩy trách nhiệm cho sư đoàn là không đúng, đề nghị "nghiêm khắc phê bình" QĐ67. Túc Nhung Sinh cũng cảm thấy mất mặt, dẫn nhóm cán bộ cơ quan rút về Bộ tư lệnh quân đoàn; Sư trưởng Trịnh Quảng Thần được phục hồi quyền chỉ huy, các trận sau đó lại do Sư bộ f199 tổ chức chỉ huy.
Trận thảm bại 31-5 của QĐ67 còn sinh ra một chuyện có một không hai trong cuộc chiến tranh đánh Việt Nam kéo dài 10 năm: một chiến sĩ quê Tảo Trang sống sót trên cao điểm 211, trong khi ăn sáng đã mang súng xông vào nhà ăn Sở chỉ huy quân đoàn, nhằm Túc Nhung Sinh bắn quét. Sinh nhanh chóng chui xuống gầm bàn nấp tránh nên không bị thương nhưng người cảnh vệ của Sinh bị bắn chết. Tư lệnh Quân đoàn Trương Chí Kiên bị trúng vào vai, hơn chục quan binh khác cũng trúng đạn bị thương. Cảnh tượng khi đó rất hỗn loạn, mấy ngày sau vẫn không làm rõ được điều gì đã xảy ra. Người lính đã nổ súng sau đó rút ra ngoài an toàn, mấy ngày sau mới phát hiện anh ta đã tự sát chết dưới hồ nước phía sau Sở chỉ huy, tay vẫn ôm khẩu tiểu liên đã dùng gây án. Do chết đã lâu ngày nên thi thể đã thối rữa. QĐ67 lại được thông báo toàn quân thêm lần nữa.
Sau khi sự việc xảy ra, các đoàn của Quân ủy, Bộ Công an, Bộ An ninh quốc gia tới tấp về Bộ tư lệnh QĐ67 điều tra nguyên nhân sự cố. Khi bị nhân viên điều tra thẩm vấn trong bệnh viện, Tư lệnh Trương Chí Kiên đã khóc, nói: "Tôi không thể nào nghĩ đến chuyện chiến sĩ của mình lại vác súng bắn tư lệnh quân đoàn của họ như thế!".

Thu Thủy (chuyển ngữ từ Tiexue.net)
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/cao-diem-vi-xuyen-that-tran-linh-trung-quoc-noi-loan-ban-chi-huy-386164.html

No comments:

Post a Comment