Friday, July 28, 2017

Bài viết hay(5228)

Ngày xưa tui phải còng lưng đạp xe đi dạy ở VN mà hổng bệnh tật gì ráo còn bây giờ tui phải đi mua xe đạp cho tốt để tập thể dục chứ nếu không bác sĩ sẽ chửi là lười nên tiểu đường ngày càng tệ hại hơn. Chưa kể là phải mua nón bảo hiểm, găng tay, áo quần, giày vớ, mắt kính, bình nước, đèn và chuông xe đạp, etc... Trang bị y như lính ra trận vậy mà ra biển đạp có 2 tiếng đồng hồ là về nhà rêm mình quá xá. Hổng có ai massage giùm cho nên thôi thì ra Bolsa nhờ mấy thằng Tàu đấm bóp giùm rồi trả tiền cho nó. Tuy có $20/ hr nhưng tip giá chót là $20 nên coi như đi đứt $50. Đạp xe như vầy hao quá nên tui bỏ xe đạp, ra 24 hr fitness chạy treadmill và vô spa với hồ bơi. Tập mới có 1 tháng cũng vui vì có chị em phụ nữ đẹp làm dáng; nhất là bữa nào có mấy nữ ca sĩ nổi tiếng thì coi như rửa mắt luôn. Sáng nay vô bác sĩ khám lại, hổng dè lượng đường vẫn cao mà còn phải đi khám tim mạch và mắt nữa chứ. Lạ thiệt. Hình như sống ở Mỹ mà ăn ngon, làm việc sướng quá thì sinh ra đủ thứ bệnh tật; chưa kể là tui ngày càng có thêm nhiều thói hư tật xấu khi mà chị em ta tập gym thì ít mà cởi mở quá nhiều vào những ngày nóng nực.

Một miền quê thanh bình

Tôi yêu một miền quê thanh bình, nơi tuổi thơ tôi đi qua êm ả với ruộng mạ, chạng vạng nhuộm màu trăng hay chiều tà phất phơ ngọn tre làng, diều vi vút mục đồng quần rách… Tất cả những hình ảnh ấy, ngay trên quê hương tôi, giờ dường như không tìm thấy, vẫn mảnh trăng năm nào, nhưng bây giờ ngước nhìn thấy xa lạ, vẫn là đàn trâu hay những bụi tre còn sót lại, nhưng cái tả tơi đã nhuốm màu thời gian, không thể nói gì khác là nhìn lại những hình ảnh cũ, cái đẹp của nó đã ngân vang tiếng đau.
Cái đau của tôi không lớn, không kì vĩ như cái đau của những người đấu tranh yêu nước, không hiền hòa hay bao dung như cái đau của những nghệ sĩ, không mềm mại như nỗi đau của những người lao động chất phác, không vi vút âm ỉ như nỗi đau của những trí thức… Cái đau của tôi đôi khi nhỏ bé và có chút gì đó thận phận nhược tiểu, tôi tự hiểu, cho dù có sống tăng cuồng vài kiếp nữa, tôi cũng là thằng nhược tiểu kinh niên!
Vì sao tôi lại tự nhốt mình trong tư duy và ám thị nhược tiểu? Bởi tôi chưa bao giờ thấu hiểu đời sống này, chưa bao giờ dám nói thực những điều mà lẽ ra tôi phải nói dõng dạt, phải gào to cho thỏa chí. Không, tôi đã không hề làm như vậy, bởi tuổi thơ, tuổi trẻ của tôi đã chứng kiến nhiều nỗi đau của đồng loại, tôi đã chứng kiến một bà lão vừa dắt đàn bò đi ăn vừa chửi ra rả bên một bãi sông, bà chửi suốt ngày, và sức sống của bà mạnh mẽ đến lạ thường, tôi chưa bao giờ nghe bà khản giọng mặc dù mỗi ngày đi học, ngang qua chỗ bến sông, mặc dù cách xa bà hàng nửa cây số, tôi đã nghe tiếng chửi của bà vọng từ biền dâu.
Sau này, lớn lên, trong một dịp tình cờ, tôi nghỉ hè ở năm nhất đại học, trên đường về, tôi lan man nhớ đến bà, tôi lại chạy đến bến sông để… nghe bà chửi. Nhưng đó là một bến sông vắng lạnh, tôi tìm đến nhà bà, một ngôi nhà hoang, ảnh thờ bám đầy mạng nhện, lạnh đến mức rợn người! Hỏi ra mới biết bà cụ trước đây vốn là gia đình giàu có, bà có bốn người con trai đều học trường Võ Bị Đà Lạt, có người tốt nghiệp, theo binh nghiệp lên đến cấp Tá trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1974, bốn người con của bà đều bị ám toán trong một chiều cuối tuần, bốn anh em chở nhau trên chiếc Jeep, đi qua cánh đồng thì bị phục kích và họ đã chiến đấu đến người cuối cùng.
Sau 1975, lúc này bà đã bị hơi đãng trí sau khi mất con, chồng bà cũng đau đớn, lâm bệnh rồi qua đời. Sau khi mất chồng, bà mang toàn bộ số bò trong nhà nộp cho hợp tác xã với điều kiện để bà chăn đàn bò này. Nhiều người lắc đầu hỏi bà tại sao lại nộp cho hợp tác xã của Việt Cộng, bà nói: “Không nộp thì họ cũng đến thu, mà thu xong thì có khi bò của mình bị giết thịt, thôi thì nộp sớm, để mình còn tính!” (Cách nói như vậy không biết bà điên kiểu gì?!). Từ đó người ta nhìn thấy bà vừa chửi vừa lùa bò vào bãi dâu. Lâu dần,người ta gọi bà là “bà Lời điên”.
Rồi người ta cũng bán đàn bò của bà khi hợp tác xã sắp giải thể, nghe đâu bà được trả cổ phần với số tiền tương đương một con bò. Bà vui vẻ nhận phần mà không có lời nào. Nhưng bà đã chửi té tát vào mặt tay chủ nhiệm hợp tác xã khi các cổ phần khác không bằng bà. Lúc đó, hợp tác xã của bà có ba trăm hộ (gia đình), đàn bò của bà hơn 300 con, đàn bò khủng nhất trên cả nước thời đó. Bà yêu cầu chia mỗi cổ đông một con bò giống như bà và những con con dư ra thì dành cho ban chủ nhiệm chia nhau. Cuối cùng, bà đã thắng, ba trăm hộ gia đình đều có những con bò béo tốt. Phần con bò của bà, bà tặng cho một cặp vợ chồng mới cưới. Sau khi bán đàn bò mấy hôm, người ta thấy “bà Lời điên” nằm chết bên bờ sông. Nghe đâu đám tang của bà tuy không làm rình rang nhưng nhưng người dân trong làng đến đưa bà đông không tả xiết.
Tự dưng nói về yêu quê hương, yêu buổi chiều hay sự nhút nhát, nhược tiểu của mình, tôi lại nhớ đến chuyện “bà Lời điên”! Mà nhớ tới chuyện của Bà (tôi xin viết hoa chữ này!), tôi lại nghĩ đến vấn đề xung năng, năng lượng quốc gia. Nghe buồn cười thật! Mà thực tâm mà nói, năng lượng quốc gia hay xung năng dân tộc là chuyện vớ vẩn nhất đã ám ảnh tôi nhiều năm nay. Tôi luôn tự hỏi: Tại sao cái thời nghèo khổ, ít học, không có thứ gì để cho, tặng nhau mà người ta lại đối xử tử tế với nhau, lại cho, tặng nhau vô tư đến vậy, còn bây giờ, người ta mất tử tế và cho tặng đều có mục đích, toan tính?
Đó cũng do năng lượng mà ra, năng lượng mà tôi suy nghĩ không phải là kiểu điện trường mà người ta hay luyện nhân điện hoặc nội lực, nội công gì đó trong võ thuật, nó đơn giản là năng lượng yêu thương và năng lượng dành cho tha nhân. Bởi lẽ, trước đây, mặc dù nghèo khổ, thiếu thốn nhưng lòng yêu thương cũng như óc suy nghĩ về đồng loại chiếm phần nhiều trong suy nghĩ con người. Người ta dành phần lớn năng lượng trong việc tương tác với tha nhân và không cần suy nghĩ gì nhiều về điều đó.
Ngược lại, trong thời đại mà người ta phải bỏ ra quá nhiều thứ để có được tấm bằng hay chỗ đứng, chỗ ngồi trong xã hội, rồi thêm chuyện đất đai bị bơm giá ảo, mọi quan tâm của con người hướng vào thiên nhiên không còn là cánh đồng, ruộng mạ, lũy tre, cánh rừng ngút mắt… Mà thay vào đó là nhìn cánh đồng, người ta nghĩ ngay đến một quĩ đất bạc tỉ nếu biết đầu tư, nhìn vào lũy tre hay dòng sông, thay vì nhìn thấy vẻ thơ mộng của có, người ta lại nghĩ đến những cái quán núp lùm hay thủy điện, và tư duy, năng lượng người ta đã bị chi phối nặng bởi những thứ không liên quan đến con người, hay nói cách khác là ngộ nhận. Năng lượng không còn dành cho tha nhân mà dành cho những thứ gắn bên ngoài tha nhân với động cơ chiếm hữu, giành lấy nó.
Hiện tại, cả một quốc gia, từ hệ thống nhà nước cho đến người dân đi cày, tất cả đều bận tâm về những gì được mất của bản thân, năng lượng không dành cho tha nhân, cộng đồng, câu hỏi thường trực của người ta thay vì “Tại sao đất nước này nghèo? Tại sao chúng ta mãi nhược tiểu?” thì người ta lại hỏi “Tại sao ông A, bà B giàu? Tại sao mình phải bỏ buôn bán hàng Tàu khi nó mang tiền về cho mình?”. Những câu hỏi này xuất hiện chỉ cho chúng ta một điều duy nhất, đó là tiếp tục nô lệ hóa bản thân và tiếp tục sống trong thân phận nhược tiểu.
Vấn đề của một quốc gia, một con người, một số phận nghe ra lắm rối rắm nhưng đồng thời nó cũng rất đơn giản. Rối rắm bởi đó là xã hội, mà con người thì phải tương tác với thế giới chung quanh. Nhưng cũng đơn giản bởi vì số phận, tương lai con người tùy thuộc vào cách đặt câu hỏi và giải quyết câu hỏi cho tương lai. Và câu hỏi cũng là năng lượng.— VietTuSaiGon

Tiền/Vàng &Nước Mắt

Vấn đề với chủ nghĩa xã hội là tới lúc nào đó nó sẽ dùng hết tiền của người khác.
Chừng mười năm trước, tôi tình cờ đọc được một bài báo ngắn (“Tuần Lễ Vàng 1945”) của Trà Phương – trên trang Vnexpress, số ra ngày 13 tháng 10 năm 2010 – mà cứ cảm động và bâng khuâng mãi. Xin ghi lại nguyên văn, cùng hình ảnh, để chia sẻ với mọi người:
“Sau khi giành độc lập, đất nước gặp nhiều khó khăn về tài chính, 4/9/1945 Bác Hồ đã phát động Tuần lễ Vàng kêu gọi mọi người ủng hộ ngân sách quốc gia. Trong tuần lễ này, giới công thương có đóng góp nhiều nhất.
Một số bức ảnh về Tuần lễ Vàng đã được Nhà sử học Dương Trung Quốc sưu tầm trong một chuyến công tác tại Pháp mới đây. Theo ông Dương Trung Quốc, ngay sau khi từ chiến khu lần đầu tiên về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn nơi ở và làm việc tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang. Đây là nơi ở của nhà tư sản Trịnh Văn Bô, một người thuộc vào hạng giàu nhất Việt Nam lúc bấy giờ.
Bác chọn nhà một tư sản giàu có vì tin vào nhân dân của mình. Không chỉ người nghèo mà cả người giàu cũng khao khát độc lập, tự do. Và cách mạng cần đến sự ủng hộ và tham gia của cả người giàu lẫn người nghèo.”
Một cụ già tám mươi tuổi mang tới một gói lụa điều, bên trong là nén vàng gia bảo nặng mười bảy lạng. Ảnh chú thích: Vnexpress
Chỉ có điều đáng tiếc (nho nhỏ) là nhà báo Trà Phương cho biết quá ít  về gia đình nhà tư sản Trịnh Văn Bô. Đang lúc rảnh nên tôi xin phép được chép lại (đôi trang) của một nhà báo khác, để rộng đường dư luận:
Ông Trịnh Văn Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Văn Đường và cha vợ ông, ông Hoàng Đạo Phương, đều là những nhà nho cùng thời với cụ Lương Văn Can, từng đóng góp rất nhiều cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.
Ông Trịnh Văn Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 năm, kinh doanh thành công, đưa tài sản của hãng tơ lụa Phúc Lợi tăng lên 100 lần so với ngày thừa kế hãng này từ cha mình. Tơ lụa do Phúc Lợi sản xuất được bán sang Lào, Campuchia, Thái Lan, được các thương nhân Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.
Từ năm 1944, gia đình ông nằm trong sự chú ý của những người cộng sản. Ngày 14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng người con trai cả đồng ý tham gia Việt Minh. Vài tháng sau, ông bà đã mang một vạn đồng Đông Dương ra ủng hộ Mặt trận Việt Minh và từ đó, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở thành một nguồn cung cấp tài chánh to lớn cho những người cộng sản. Đến trước Cách mạng tháng Tám, gia đình ông đã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương 212,5 cây vàng. Khi những người cộng sản cướp chính quyền, ông bà Trịnh Văn Bô được đưa vào Ban vận động Quỹ Độc lập.
Ngày 24-8-1945, khi Chính phủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng đều đã ở hoặc qua lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba đêm đầu Hồ Chí Minh ngủ trên giường của ông bà Trịnh Văn Bô, sau đó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giường bạt còn các nhà lãnh đạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng vẫn hoạt động bình thường, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cũng không xuống nhà để tránh gây chú ý. Mọi việc ăn uống đều do bà Trịnh Văn Bô lo, thực khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn ăn 12 chỗ.
Trong suốt từ 24-8 cho đến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà Trịnh Văn Bô lại đích thân mang thức ăn sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh đã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có được gia tài lớn thế này?”. Năm ấy bà 31 tuổi, dù có 4 đứa con nhưng vẫn còn xinh đẹp. Hồ Chí Minh ở lại đây cho đến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thường xuống tầng dưới vấn an bà mẹ ông Trịnh Văn Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các sĩ quan OSS như Archimedes Patti và Allison Thomas. Quần áo mà các lãnh đạo Việt Minh bận trong ngày lễ Độc lập, đều do gia đình ông bà cung cấp. Các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc đồ của ông Trịnh Văn Bô còn áo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.
Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông Trịnh Văn Bô theo Chính phủ Kháng chiến lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 người con, trong đó có một đứa con nhỏ, cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những năm ở đó, từ một bậc trâm anh, thế phiệt, bà đã phải cuốc đất trồng khoai và buôn bán để nuôi con. Năm 1955, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và bắt đầu phải bán dần đồ đạc cũ để nuôi sống gia đình. Lúc này, toàn bộ biệt thự, cửa hàng đều đã bị các cơ quan nhà nước sử dụng hoặc chia cho cán bộ nhân viên ở. Lúc đầu, Nhà nước “mượn” sau tự làm giấy nói gia đình xin hiến, nhưng cụ bà Trịnh Văn Bô bảo: “Tôi không ký”.
Bà quả phụ Trịnh Văn Bô: Ảnh: giadinh.net
Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.
Cho dù được ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” được nhắc tới. Con trai ông Trịnh Văn Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể: “Ở trường, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị, nhìn chị em tôi như những công dân hạng ba. Vào đại học, càng bị kỳ thị vì lượng sinh viên người Hà Nội không còn nhiều. Trong trường chủ yếu là sinh viên con em cán bộ thuộc thành phần cơ bản từ Nghệ An, Thanh Hoá… những người xếp sinh viên Hải Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, năm 1959, phải đi lao động rèn luyện một năm trên công trường Cổ Ngư, con đường về sau Cụ Hồ đổi thành đường Thanh Niên, và sau đó là lao động trên công trường Hồ Bảy Mẫu”.Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được. (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013).
Câu chuyện thượng dẫn tuy hơi cay đắng nhưng kết cục (không ngờ) lại  vô cùng có hậu, theo như bản tin của Vnexpress (“Bộ Tài chính đôn đốc trả nợ tiền vay dân trong 2 cuộc kháng chiến”) số ra ngày 19 tháng 7 năm 2017:
“Đây là những khoản nợ từ công phiếu kháng chiến, phát hành trong các năm 1948, 1949, 1950, 1951, 1952; công trái quốc gia, phát hành năm 1951; công trái Nam-Bộ, phát hành năm 1947, 1958; công phiếu nuôi quân phát hành năm 1964 và những khoản vay khác (tiền hoặc lương thực) do các cơ quan chính quyền từ cấp huyện trở lên vay theo lệnh của cấp trên để mua sắm vũ khí, nuôi quân.”
Nguồn ảnh: taichinhdientu.vn
Thiệt là tử tế và qúi hóa quá xá Trời. Tôi rất tâm đắc với hai chữ “đôn đốc” trong tiêu đề của bản tin thượng dẫn: “Bộ Tài Chính Đôn Đốc Trả Nợ Tiền Vay Dân Trong Hai Cuộc Kháng Chiến.” Nghe sao có tình, có nghĩa hết biết luôn.
Nhà nước sòng phẳng, đàng hoàng, và tử tế đến như thế nên khi quốc khố trống rỗng và nợ công ngập đầu – như hiện nay – thì chuyện huy động vàng trong dân chắc ... cũng dễ (ợt) thôi. Good bye and good luck!— tuongnangtien

No comments:

Post a Comment