Friday, July 28, 2017

Cuba còn ngái ngủ

Nghe ông lãnh đạo xứ ta kể lể rằng… Ta ngủ thì Cuba thức…, nôm na là hai quốc gia cách xa nửa địa cầu thay nhau canh gác [thế giới?], canh cái chi thì Dế Mèn không biết, chắc canh giữ kẻo chủ nghĩa xã hội rơi rớt giữa đàng chăng? Chủ nghĩa xã hội thì chán lắm nhưng Cuba thì lại là một nỗi tò mò của Dế Mèn cũng như những người khác: Xứ cộng sản sát một bên thiên đàng đế quốc, sau 60 năm cấm vận mới được mở cửa buôn bán với nhà giàu, họ làm ăn ra sao? Hai thế hệ con người chịu che mắt, bịt tai sinh sống như thế nào? Hệ thống y tế, giáo dục đi tới đâu?
Sửa soạn khá lâu nhưng đến cuối tháng Ba vừa qua, Dế Mèn mới có thể dự một chuyến đi ngắn, lang thang qua mấy thành phố của Cuba, bắt đầu từ Havana (tiếng địa phương là La Habana) đến Trinida de Cuba và Cienfuegos.
cuba-con-ngai-ngu4
Công viên Cách Mạng (Revolution Park) với những cột cờ trơ trụi,
Trước khi kể chuyện ngắn dài về đất nước xem ra còn ngái ngủ, chưa theo kịp thế giới bên ngoài; phe ta rẽ ngang một chút để nói về thủ tục hành chánh nhập cảnh, bạn đọc nào có thời giờ muốn ghé thăm nơi này thì đỡ tốn thời giờ tìm kiếm. Chính phủ Huê Kỳ chưa chính thức cho phép cư dân “du lịch” (tourism), chỉ có những người thăm viếng đất nước này qua một trong 12 tiêu chuẩn /mục đích liệt kê sẽ được phép dưới hình thức “general license”, bằng không phải xin giấy phép đặc biệt (specific license): Thăm gia đình, vì công việc (công chức liên bang, làm việc cho chính phủ ngoại quốc, cho các tổ chức liên quan đến chính phủ Huê Kỳ); báo chí, nghiên cứu & tham dự hội thảo, giáo dục, tôn giáo, trình diễn công cộng, thể thao… Nghĩa là thăm viếng có mục đích chứ không được đi chơi lang thang. Dế Mèn qua Cuba với mục đích tìm hiểu dân tình (people-to-people) và viết bài tường thuật, nôm na là thăm viếng dưới dạng truyền thông / báo chí. Với mục đích “chung chung” như thế nên không cần giấy phép, chỉ phải ký tên vào biên bản (affidavit), nhìn nhận mục đích thăm viếng cũng như giữ bản thảo ghi chép mỗi ngày về cuộc thăm viếng (lỡ chính phủ Huê Kỳ rỗi hơi đi tìm mà hỏi tới thì có bài viết đưa ra làm bằng!?).
Phe ta bay thẳng từ Orlando, Florida đến Havana qua jetBlue, chuyến bay ngắn xỉn, trên dưới một tiếng đồng hồ sau khi mua visa ngay tại quầy bán vé (tốn cỡ năm phút đồng hồ và 50 Mỹ kim) của hãng máy bay kể trên. Công ty jetBlue nhanh tay lẹ chân làm ăn với chính phủ Cuba nên tha hồ kiếm bạc qua những chuyến bay thẳng đến Havana từ New York, Tampa, Orlando và Miami, chỉ bán visa thôi cũng đủ nặng túi tiền!
cuba-con-ngai-ngu3
Chiếc máy đánh chữ mà văn hào Hemingway thường dùng
Cuba là một hòn đảo nên cũng những hàng dừa lả ngọn bên bờ nước xanh biếc. Ðến nơi vào giữa trưa nên trời nắng chang chang. Nhân viên phi trường ăn mặc khá thoải mái nhất là phụ nữ, váy ngắn trên nửa đùi, mặc vớ lưới đen như mấy vũ nữ trong hộp đêm. Rất lạ. Dân đảo nên có phần phóng khoáng chăng? Qua khỏi quầy di trú là đến màn xếp hàng đổi tiền. Người ngoại quốc đến Cuba sử dụng CUC (Cuban Convertible Peso), còn gọi là “dollar” trong khi người bản xứ dùng peso để mua bán. Một CUC tương đương với 1 Mỹ kim, nhưng chịu 10% “thuế dịch vụ” trong khi các loại tiền khác không chịu 10% thuế này. Dế Mèn dùng Bảng Anh và tiền Canada (còn sót lại trong các chuyến đi trước) để đổi lấy mấy trăm CUC dằn túi. Taxi xếp hàng dài để đón khách, và đã được dặn dò trước nên phe ta ngã giá đàng hoàng trước khi lên xe, đồng hồ để ngó cho đẹp chứ chẳng có chiếc taxi nào xài cả. Từ phi trường về quán trọ trong vùng Malecon, gần bên Tòa đại sứ Huê Kỳ (cho chắc ăn, ăn chắc?), khoảng 30 phút, và tốn 30 CUC cho bốn mạng du khách (đi du khảo).
Mặt tiền ngôi nhà nhìn ra bờ Ðại Tây Dương, xéo xéo là công viên Cách Mạng (Revolution Park) với những cột cờ trơ trụi, những sợi dây treo cờ rít lên trong gió lồng lộng. Nhà có phòng khách, phòng ăn, chỗ nấu bếp nhỏ xíu và bốn phòng ngủ có nhà vệ sinh riêng và máy lạnh. Ðây là một loại phòng trọ nhỏ, cho mướn phòng kiểu “bed & breakfast” của tư nhân; loại “mini hotel” mọc lên như nấm sau mưa khi lãnh tụ Fidel vĩ đại qua đời, ông em kế nghiệp thả lỏng để  cư dân buôn bán làm ăn riêng kẻo đói kém quá, người dân chịu hết nổi hẳn sẽ nổi loạn? Các khách sạn lớn, có môn bài chính thức hầu hết là công ty của chính phủ với phần đầu tư của tư nhân.
Ernest Hemingway House
Nhận phòng xong là phe ta và bạn bè kiếm đường đi thăm ngôi nhà của văn hào Ernest Hemingway. Ngày còn sống, trong thời gian gần 20 năm, ông nhà văn sống ở thôn làng San Francisco de Paula, cách Havana khoảng 10 dặm, cỡ 40 phút taxi. Ngôi nhà có tên “Finca Vigia”, hay “đài quan sát”, do Kiến trúc sư Miguel Pascual y Baguer vẽ kiểu và xây cất năm 1886. Ông cụ Hemingway mua lại với giá 12,500 Mỹ kim vào năm 1940, và sống bán thời gian ở đó cho đến năm 1959. Tại đây, hai tác phẩm lẫy lừng của ông nhà văn ra đời: ‘For Whom the Bell Tolls’ (Chuông gọi Hồn Ai) và ‘The Old Man and the Sea’ (Ngư Ông và Biển Cả) và những tác phẩm khác kể cả ‘A Movable Feast’. Cuốn Ngư Ông và Biển Cả đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1954. Sau trận đổ bộ tại Vịnh Con Heo (the Bay of Pigs) của Hoa Kỳ vào năm 1961, chính phủ Cuba trưng thu tài sản của công dân Huê Kỳ kể cả ngôi nhà Finca Vigia cũng như kho tàng sách vở đồ sộ của ông nhà văn.  Không biết tòa nhà được sửa chữa từ bao giờ nhưng ngày nay, trở thành một địa điểm thăm viếng nổi tiếng của Cuba. Vé vào cửa là 5 CUC.
cuba-con-ngai-ngu
Bảng giới thiệu ngôi nhà của Hemingway, nay là bảo tàng du lịch
Tòa nhà nhiều phòng ốc nằm trên đồi, mảnh đất mênh mông rộng trên 10 mẫu, cây cối um tùm xanh mát rất đẹp. Từ đó ta có thể dõi mắt nhìn quanh thôn làng xa xa.  Phòng làm việc của văn hào nằm trên lầu cao, chung quanh cửa sổ bọc kính, còn giữ được cả cái máy chữ cổ lỗ sĩ nhỏ xíu dài khoảng 20 phân Tây.
Tấm hình cái máy chữ do người giữ cửa chụp dùm và chụp luôn cả hình ảnh nhóm du khách yêu chuộng nhà văn hào.
Riêng người bạn, nguyên là giáo sư Anh Văn, bà ấy yêu văn tài nên theo dấu ông Hemingway khắp nơi, từ Sun Valley, Idaho đến Key West, Florida và hôm nay, San Francisco de Paula, Cuba.
Phòng khách, phòng ngủ và cả nhà vệ sinh, nơi nào cũng có kệ sách đầy kín. Dế Mèn tò mò lắm, không biết ông nhà văn đọc những sách vở gì, mà chỉ được đứng từ cửa ngó vào phòng nên chẳng có dịp nhìn gần. Ông Hemingway thích đi săn nên phòng ốc treo đầy đầu thú vật nhồi bông, từ cọp đến hươu nai.
cuba-con-ngai-ngu2
Tác giả Trần Lý Lê và 3 người trong nhóm du khảo (hàng sau). Hình chụp tại Hemingway House
Finca Vigia còn giữ được cả chiếc tàu Pilar đi câu cá của ông nhà văn và cả mộ chí của bốn con mèo. Dế Mèn nghe nói rằng ông cụ thích mèo nên nuôi cả bầy trên dưới hơn chục con; lúc chết đem chôn, có bia mộ Linda, Negro … đàng hoàng! Ổng thích mèo và thích luôn cả trò đá gà nên trong dinh thự có luôn cả một khoảng đất dùng để làm đấu trường. Bây giờ vẫn còn dấu vết.
Về đến quán trọ thì trời đã chiều, chỉ đủ thời giờ để phe ta rửa mặt, thay quần áo và ra phòng khách gặp gỡ những người du khảo khác. Mojito, món rượu pha nổi tiếng của Cuba được đem ra liên tục. Bá tánh có vẻ ưa chuộng thức uống này, rum trắng pha với nước cốt chanh, đường mía, nước nổi bọt và lá bạc hà đập nát. Có cả món Cuba libre, rum pha với cola, tùy ta nặng hay nhẹ tay với rượu.
Nhà trọ sạch sẽ, khá tươm tất và nhân viên thì hết lòng hết sức với khách hàng! Bữa cơm tối nấu nướng khá vừa miệng, có ca sĩ hát giúp vui. Bữa ăn thịnh soạn theo tiêu chuẩn địa phương, Dế Mèn nghe nói đầu bếp đã nấu nướng cả ngày, món canh bí đỏ nấu chung với cà rốt và khoai lang có vị ngọt của rau củ, tất cả đều được nghiền nát nên sền sệt như cháo; món thịt heo chiên/nướng đặc sản, cơm nấu chung với đậu đen, và khoai mì hấp nhão với tỏi chưa kể món salade với dưa leo, cà chua. Cà chua ở đây rất ngon, dù chỉ mới chín hườm hườm, da còn chỗ xanh chỗ vàng nhưng vẫn đầy đủ hương vị của cây cỏ tươi. Sangria rượu nho ngọt lừ ngọt lự và bia (Presidente) mang nhãn hiệu của Guatemala.
Bài ghi nhận thứ nhất: Anh ngữ chưa mấy phổ thông ở đây, người dân cần cù chịu khó và thức ăn [được xem là ngon] thì hơi nặng dầu mỡ.
cuba-con-ngai-ngu1
Góc sân đá gà trong dinh thự Hemingway
havana2
Castillo de la Fuerza
Buổi tối gió lồng lộng, những đợt sóng cao trên dưới 20 bộ Anh tốc lên bờ khiến khách bộ hành là Dế Mèn đây đang lang thang trên đường Malecon tránh không kịp nên ướt nhẹp. Malecon là con đường dọc theo bờ Ðại Tây Dương, trải dài từ bờ đông của phố Cổ đến sông Almendares, Revolution Park và Tòa đại sứ Hoa Kỳ nằm ở cuối đường.Ðêm Havana khá lạnh, nhiệt độ xuống từ 80-90 độ F lúc ban ngày chỉ còn 50 độ F vào lúc chiều tối; đi bộ loanh quanh, ta sẽ cần áo ấm.
Buổi sáng trong lành, từ cửa sổ phòng ăn Dế Mèn nhìn ra biển, nắng sớm óng ả trên mặt nước xanh ngắt. Biển bình minh nhẹ nhàng, vắng những đợt sóng dữ dội tràn bờ. Bữa ăn sáng cũng bánh mì, trứng chiên, trái cây nhưng đặc biệt là món mứt ổi. Ổi ở đây đỏ ruột và mềm nên người địa phương làm mứt, xay thành nước sinh tố và cắt miếng ăn. Thơm (dứa) trái nhỏ, chỉ bằng nửa trái thơm Hawaii, ruột ngà ngà nhưng rất ngọt; và chuối thì ngọt vô cùng, loại chuối vàng mỏng vỏ bên mình thường đem phơi khô hoặc nấu chuối chưng.
havana1
Đường Malecon dọc theo bờ Đại Tây Dương
Một chút về lịch sử Phố Cổ (Old Havana hay La Habana Vieja): là trung tâm của thành phố và là một trong 15 quận hạt của thủ đô Havana. Phố Cổ được UNESCO ghi nhận là di sản thế giới.
Người Tây Ban Nha thành lập Phố Cổ vào năm 1519, phần đất nằm trong vịnh Havana; nơi này, người Tây Ban Nha đã dùng làm bến đậu khi di chuyển từ quê nhà đến Tân Thế Giới. Vào thế kỷ XVII, Phố Cổ trở thành một trong những trung tâm xây cất tàu bè chính.
havana3
Fidel Castro
Thành phố gồm 3,000 tòa nhà lớn nhỏ được xây cất theo kiến trúc Baroque và neoclassic. Khi tướng cướp Jacques de Sores dẫn đám hải tặc đánh cướp và chiếm giữ thành phố, kiếm không được của cải mong ước, đám cướp biển đốt phá và thiêu rụi hết nhà cửa. Sau biến cố ấy, Tây Ban Nha mang quân đội về trấn giữ Havana và xây cất các đồn trại để bảo vệ thành phố. Castillo de la Fuerza là thành quách đầu tiên xây vào năm 1558.
Ngày đầu Dế Mèn nhìn ngắm Havana từ nóc của chiếc xe bus hai tầng, xe chạy quanh thành phố trên các con đường lớn, tất nhiên là ngừng ở công trường Cách Mạng, Plaza de Revolution, nơi có hình tượng Che Gueva và Fidel Castro.
havana4
Taxi ở Cuba
Hai nhân vật này được tung hô và chiêm bái khắp nơi trên lãnh thổ Cuba. Một vòng thành phố tốn khoảng 3 tiếng theo lộ trình định sẵn. Nắng đổ lửa trên đầu nên phe ta chỉ chụp hình từ xe bus. Mệt và khát nước nên Dế Mèn bỏ qua buổi ăn trưa; bữa sáng khá đầy đủ nên dạ còn lưng lửng không muốn ăn trong khi những người đồng hành hè nhau đi ăn uống.
Phương tiện chuyên chở phổ thông là xe bus, tiền vé cỡ 25 cents cho cư dân địa phương. Khách viếng thăm phải sử dụng CUC để tiêu xài, và thường dùng loại xe bus dành cho tour của chính phủ, xe taxi ba bánh (chỗ ngồi cho hai hành khách), hoặc xe xích lô. Giá cả tùy theo sự thỏa thuận giữa khách hàng và chủ xe.
havana
Xe cổ nơi Phố Cổ
Ngoài ra, những chiếc xe kiểu cũ (của tư nhân) được sửa chữa và tân trang với các màu sắc rực rỡ cũng được dùng làm taxi. Người Mỹ hoài cổ, yêu chuộng xe cũ đều trầm trồ trước những chiếc xe Huê Kỳ thời 50, 60; loại xe không còn lưu hành tại Hoa Kỳ nữa, đem bán đổ bán tháo qua châu Mỹ La Tinh. Nhờ trung gian, cư dân Cuba mua lại và đem về sửa chữa để dùng, những món phụ tùng cần thiết đều được chế biến tại địa phương. Những chiếc xe sặc sỡ chạy quanh trên đường phố trông rất vui mắt.
Santa Clara
Santa Clara là trận đánh cuối cùng của cuộc cách mạng tại Cuba năm 1958; quân đội kháng chiến do ông Guevara dẫn đầu đã dùng xe xúc đất đào xới đường rầy xe lửa. Khi quân đội chính phủ Batista chuyển quân và vũ khí, lương thực qua nơi này bằng xe lửa thì bị phục kích và tiêu diệt. Trận Santa Clara và trận Yaguajay đã giúp quân kháng chiến của Fidel Castro thắng trận. Chính phủ Batista bỏ chạy và ông Castro lên nắm chính quyền.
santa-clara
Công trường chính của Santa Clara
Một chút về lãnh tụ kháng chiến Che Guevara, thường được gọi một cách thân mật là “Che”. Ông Ernesto Guevara de la Serna sinh ngày 14 tháng Sáu năm 1928, tại Rosario, Argentina trong một gia đình khá giả gốc Tây Ban Nha và Ái Nhĩ Lan. Sau khi tốt nghiệp y khoa, hành nghề và đi du lịch khắp vùng Nam Mỹ, ông Guevara chứng kiến nhiều cảnh khốn khó của dân nghèo, bị chủ đồn điền ngược đãi và bóc lột, ông ấy chán ghét người giàu, tiền bạc. Khi tìm hiểu về chủ nghĩa cộng sản, ông Guevara say mê và từ đó hoạt động chính trị ngay tại quê hương Argentina, vùng lân cận Bolivia và Guatemala. Tên gọi “Che” đến từ thói quen ậm ừ, từa tựa như “ờ, ờ” vô nghĩa của tiếng Việt ta (trong tiếng Tây Ban Nha là “che”) do bạn bè đặt trong những năm đi tìm “hướng đi” trong vùng Nam Mỹ. Năm 1954, ông Guevara gặp và kết thân với anh em ông Fidel Castro tại Mexico và trở thành một lãnh tụ của quân đội kháng chiến Cuba chống lại chính phủ Batista, trong cuộc “the Cuban Revolution” (1956–59). Khi ông Fidel Castro lên nắm chính quyền tại Cuba, năm 1959, ông Guevara trở thành công dân danh dự của Cuba và nắm các chức vụ quan trọng trong chính quyền mới. Là sếp lớn của nhà tù La Cabaña Fortress nơi giam giữ những người đối kháng, ông Guevara đã giết khoảng 156-550 tù nhân. Sau đó ông Guevara giữ chức Chủ tịch ngân hàng quốc gia Cuba; trong chức vụ này, ông Guevara đã hủy bỏ các mối giao thương với Huê Kỳ và buôn bán với liên bang Xô Viết. Ba năm sau, ông Guevara trở thành Bộ trưởng bộ Kỹ Nghệ. Không mấy thích thú với công việc hành chánh và tài chánh, ông Guevara rời Cuba, đến các quốc gia nghèo khó khác với mục đích [làm cách mạng bằng cách tiêu diệt người giàu để giúp kẻ nghèo] giúp phiến quân địa phương chống lại chính quyền và “xuất cảng” chủ nghĩa cộng sản. Năm 1966, ông Guevara âm thầm đến Bolivia gầy dựng quân đội phiến loạn. Không được dân chúng ủng hộ, ông Guevara và các phiến quân chiến đấu trong hoàn cảnh ngặt nghèo thiếu thốn và bị quân chính phủ bắt giữ rồi xử tử ngày 9 tháng Mười năm 1967. Từ đó, ông Guevara trở thành anh hùng của những con người thiên tả, yêu chuộng chủ nghĩa cộng sản, hình ảnh được trưng bày rầm rộ tại các quốc gia Nam Mỹ. Tên tuổi ông ấy dính liền với sự đối kháng, cách mạng và xã hội chủ nghĩa. Những người chạy trốn cộng sản nhất là người gốc Cuba lại nhớ đến các hành động sắt máu, bất nhân của ông này đối với những người không đồng chí hướng. Sách vở và phim ảnh viết về nhân vật này khá nhiều, Dế Mèn mới đọc có hai cuốn (Che Guevara: A Revolutionary Life của Jon Lee Anderson và Fidel and Che: A Revolutionary Friendship của Simon Reid-Henry), và ông Che nọ xem ra là một con người khá phức tạp, lẫn lộn giữa lý tưởng (một xã hội công bằng) và hành động thực tế qua các tội ác tận diệt kẻ bất đồng.
santa-clara4
Tượng đài Che Guevara
Năm trước Dế Mèn lang thang qua vùng Trung Mỹ, đi xem các di tích Maya rải rác trên các vùng đất ngày nay là lãnh thổ Guatemala, Honduras, và El Salvador, gặp gỡ những cư dân địa phương nhất là những người trải qua cuộc nội chiến đẫm máu, từa tựa như dân Cuba, xem ra họ ngưỡng mộ ông Che, tất nhiên là có lý do. Hẳn là xã hội vùng Trung Mỹ thủa nọ đầy rẫy những bất công, phần đông dân chúng nghèo xơ xác, tiền bạc của cải do một thiểu số nắm giữ, và người ta phản kháng? Và chỉ có Cuba thành công? Sự “thành công” ấy đem lại những gì cho người dân? Một quốc gia nghèo khó, lạc hậu, xa cách thế giới bên ngoài như ngày nay?!
santa-clara1
Toa xe lửa trong một bảo tàng viện
Rời đài kỷ niệm chiến thắng Santa Clara, xe bus đưa nhóm du khách đến di tích nơi trải qua trận đánh Santa Clara nửa thế kỷ trước. Cư dân Cuba dựng đài tuyên dương chiến thắng, giữ lại cả chiếc xe ủi đất và toa xe lửa cũng như những di vật trong một bảo tàng viện nhỏ nhỏ.
santa-clara5
Chiếc xe ủi đất trong một bảo tàng viện
Ði xem di tích xong thì phe ta vào thành phố, trung tâm là một công trường nho nhỏ, bốn mặt là các tòa nhà xây cất từ những năm 1700 theo kiểu “Thuộc Ðịa” (Colonial, theo kiểu kiến trúc của mẫu quốc) như tòa Hý Viện đã được tu sửa nhiều lần và hình như ngày nay vẫn còn được sử dụng.
santa-clara3
Công viên Vidal có bức tượng bà Marta Abreu
Công viên Vidal có bức tượng bà Marta Abreu, một phụ nữ nổi tiếng qua các hoạt động xã hội, xây trường học, bệnh viện và giúp đỡ phiến quân nổi dậy chống người Tây Ban Nha (Spanish-American War), đòi độc lập trong những năm cuối thế kỷ XIX.
santa-clara2
Đường phố Santa Clara – nguồn you tube
Dế Mèn nghe nói đây là một thành phố  “tên tuổi” của Cuba mà… chẳng thấy gì, hẳn vì lúc đi quanh trời nóng hầm hập, nắng lóa mắt khiến phe ta ngầy ngật; chỉ nhìn quanh tìm bóng mát mà núp nên chẳng ghi nhận được chi?
Xa lộ của Cuba là những con đường đủ cho hai chiếc xe đi song song cùng chiều, hai bên đường là những thửa ruộng và thỉnh thoảng cũng có những người bán rong đứng giữa trời nắng với những chuỗi tỏi khô. Ðến Trinidad thì trời đã dịu nắng.
Trần Lý Lê

No comments:

Post a Comment