Saturday, July 15, 2017

Gò Muồng Ninh Hòa

Lâu lâu về lại Ninh Hòa mới thấy quê cũ thay đổi nhiều. Con đường thân quen Nguyễn Trường Tộ bên hông chùa Quãng Đông ngày xưa sình lầy nhỏ hẹp bây giờ mở rộng tráng nhựa bằng phẳng, xe máy chạy bon bon thẳng tới Tiên Du. Tiên Du bây giờ khác hẵn với ngày xa xưa, bây giờ ruộng lúa mênh mông, tiếng xe máy nổ vang thay cho tiếng í thá của đám trâu cày ruộng thời chiến. Chiều hôm đó ông anh lái xe đưa tôi đi thăm một người bà con ở Tiên Du. Trên đường về chợ Dinh, tôi đang mù mờ chưa biết đâu là đâu, bất ngờ tôi thấy ngọn tháp nhà thờ phản chiếu mặt trời sáng chói, tôi dục ông anh dừng xe tại ngả ba nhà thờ. Xuống xe, tôi chẩm rải rảo bước về hướng nhà thờ. Lãng vãng ngoài hàng rào, bị hàng cây um tùm che khuất nên không thấy hình bóng quen mắt ở bên trong. Mặc dầu nó vẫn còn rõ nét trong trí óc tôi nhưng cảnh cũ đã qua mấy mươi năm nó đã lui vào dĩ vãng lâu rồi. Nãn chí, tôi quay lại lên xe ngồi dục ông anh đi tiếp. Hai anh em đi đến đầu chợ Dinh ghé vô tiệm bà Năm kiếm chút nem nướng lót dạ trước khi về Xuân Hòa..

Chưa kịp ngồi xuống thì ông anh hỏi tôi "chú tìm gì zậy"?

"Tìm căn nhà của anh Pierre." Tôi vụt miệng trả lời.

Có lẽ câu trả lời của tôi quá bâng quơ khiến anh ngẫng ngơ. Thật ra câu hỏi của ông anh nhắc tôi nhớ lại một kỷ niệm xa xưa. Kể hết ra thì quá dài dòng, nhưng mùi tỏi thơm của nem nướng làm chột dạ. Nhìn chén nước chấm đặc sản nem Ninh Hòa mấy mươi năm tôi mới được nếm một lần, nó làm tôi xót cả ruột gan. Mấy lát khế nằm trên đĩa rau thơm làm tôi nhớ lại chuyện cũ nhiều hơn, tôi nghĩ mình ngồi đây lai rai mà kể chuyện Gò Muồng thì lý tưởng lắm.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Tôi nhớ ngày xưa từ đầu ngả ba đi ra nhà thờ Gò Muồng chừng trăm thước, bên tay trái sau hàng cây có một căn nhà lá, đó là nhà của anh Pierre. Anh Pierre ở đó với bà mẹ già, tôi gọi bà là Bà Nội, và hai đứa con gái nhỏ xinh xắng. Nhà không có ruộng đất, có mấy bụi chuối, vài cây ổi, một cây bưởi và một cây khế ngọt. Cây khế này ngộ thật, mùa nào cũng có trái ngọt liệm. Thường ngày bà nội hái khế, hái ổi nội nhờ người quen đem lên chợ Dinh bán đổi lấy gạo cho nội. Tôi và đám học trò từ trường Đức Trí thường rủ nhau xuống nhà mua khế mua ổi. Mỗi lần chúng tôi kéo tới nhà bị hai con chó cản đường sủa um xùm, anh Pierre la quát đuổi chúng đi. Nội và hai cháu gái vui mừng lăng xăng đi lấy cây sào, lấy cho cái rổ để đựng. Nội lựa cành nào có trái ngon chỉ cho chúng tôi hái. Hai em gái trắng trẻo trong bộ đồ bà ba, tóc bum bê mang đôi dép nhựt tung tăng chạy theo chân. Mỗi lần có trái rơi xuống đất, hai em nhanh nhẩu nhặc lên lấy tay phủi đất cho sạch bỏ vào rổ. Cả đám học trò ngước mặt lên ngọn cây tay hái miệng nhai, la inh ỏi thật là vui.

Ba tôi kể rằng anh Pierre là người Tây lai, lúc còn trẻ, anh làm cho sở hỏa xa Nha Trang, anh làm việc với nhóm chuyên viên Pháp xây đường hầm xe lửa đèo Rù Rì và đèo Ruột Tượng giữa Ninh Hòa và Nha Trang. Sau khi hoàn tất hai cái hầm thì anh bị đau mắt, không chữa được khiến anh mù cả hai mắt, anh phải nghỉ việc. Bà nội đem cả gia đình anh về sống trong căn nhà lá ở Gò Muồng với bà. Trong căn nhà mái tranh lụp xụp tăm tối, cả gia đình năm người sống nhờ vào cây khế, cây ổi và bụi chuối, cuộc sống quá khó khăn nên vợ anh ra đi biền biệt bỏ lại hai đưa con gái xinh xắng chưa đến tuổi đi học.

Anh Pierre người cao lớn, mũi cao tóc nâu nước da sáng sủa, tướng mạo trí thức. Anh nói tiếng Việt, tiếng Pháp rất hoạt bát, anh được nhiều người trong thị trấn thương mến. Hai cô con gái da cũng trắng, mũi cũng cao, mặt mày lai Tây giống như cha. Cô lớn thì tôi không nhớ tên nhưng tên của cô nhỏ thì tôi vẫn nhớ tên là Janet.

Bạn bè của anh Pierre ở chung quanh phố chợ Dinh người nào cũng mến anh. Lâu lâu Janet dẫn cha lên phố để anh có dịp thăm bạn bè. Tôi còn nhớ vào ngày đẹp trời, Janet đội cái mủ vải vành to che nắng, hai cha con từ Gò Muồng dắt nhau lên phố chợ. Lên đến ngả ba dốc Xóm Rượu, hai cha con quẹo trái ghé vào nhà tôi trước tiên. Anh Pierre và ba tôi gặp nhau rất tâm đắc, hai người nói chuyện Việt Minh và tình hình chiến sự Đông Dương. Tôi và Janet nói chuyện con nít một hồi rồi từ giã. Từ nhà tôi Janet lại nắm tay đưa cha tiếp nối hành trình: trên đường Võ Tánh lên nhà máy nước đá Liên Thành, ghé vào thăm hai anh em Cúc Tùng và Cúc Bình, rồi đi đến nhà anh Trúc chuyên bán đồ gốm, sau đó lên nhà chú Chín Mụn trước đồn G.I bây giờ là chợ mới Ninh Hòa. Quẹo qua bên trái hai người vượt qua nhà máy đèn qua Cầu Trạm thăm anh Yến tiệm giày Đức Hưng, thăm anh Tưng chủ xe đò Hương Giang. Hai cha con quay ra phố chợ thăm hết bà con chung quanh chợ, cuối cùng anh ghé vô tiệm cafe Đại A đầu đường Nguyễn Trường Tộ thăm bác hai Khiền. Bác hai pha cho ly cà phê đá ngồi hỷ hả với anh. Bác hai cũng không quên biếu cho Janet cái bánh bao nhân thịt, hai cha con ăn uống xong dắt nhau đi thẳng một lèo trở về lại Gò Muồng.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Sau khi chiến tranh Việt Pháp chấm dứt năm 1954, kinh tế quận Ninh Hòa xuống dốc thê thảm, tôi phải đi xa tìm lẽ sống nên không còn gặp anh Pierre và Jannet nữa. Một hôm em tôi vào Saigon thăm tôi và cho biết bà nội của Janet đã chết, ông cha nhà thờ Gò Muồng liên lạc với tòa đại sứ Pháp ở Saigon nhờ giúp đỡ. Họ đưa hai chị em Janet qua Pháp. Anh Pierre thì họ đưa vô nhà dưỡng lão Thị Nghè Saigon. Nghĩ mà buồn cho anh Pierre, khi bà mẹ còn sống cả gia đình nhờ vào cây khế cây ổi sống quanh quần với nhau thế mà vui, khi nội chết mỗi người bị tách biệt một phương trời.

Một buổi sáng chủ Nhựt, chúng tôi đi tìm anh Pierre, chúng tôi ghé chợ mua ít bánh kẹo, lên chiếc xa lam chạy thẳng đến cầu Thị Nghè. Nhà dưỡng lão nằm bên tay trái đầu cầu. Thập niên sáu mươi Saigon rất lộn xộn, đảo chánh liên miên, bên ngoài viện dưỡng lão xe cộ ồn ào nhưng bên trong thì rất yên tịnh lạ thường. Chúng tôi đứng trong trung tâm dưỡng lão mà không biết vì nó là ngôi nhà rộng thênh thang, những chiếc giường cá nhân được bố trí ngay hàng thẳng lối, mền gối và đồ dùng cá nhân sắp xếp trên đầu giường của mỗi người. Tôi đảo mắt một vòng để tìm anh Pierre. Thấy có người nằm trên giừơng, vài người đứng trước đầu giường ngơ ngát. Ông nào cũng thui thủi mặt buồn hiu. Từ xa tôi thấy anh Pierre ngồi trên giường, anh cúi đầu hai mắt sâu thẳm của anh nhìn mông lung trông thật thảm thương. Tôi vội vàng bước đến gần, kêu tên anh. Anh giựt mình quay lưng thật lẹ miệng hỏi lớn " ai zị?" Quá xúc động, tôi xưng tên và kêu anh một lần nữa khiến anh ngạc nhiên mừng rỡ. Anh dơ hai tay ôm chặc lấy tôi thật thắm thiết.

Câu hỏi đầu tiên của tôi khi gặp anh là hai đứa nhỏ đâu? Anh nói "Sau khi bà già mất, cha nhà thờ báo cho tòa Đại Sứ Pháp ở Saigon biết, họ cho người ra Gò Muồng gặp anh, họ nói họ sẽ làm thủ tục để đưa hai đứa nhỏ qua Pháp. Mấy tháng sau họ đến một lần nữa họ đưa hai chị em Janet qua Pháp." Anh nói tiếp, "Hai đứa nó được một gia đình ngươi Pháp ở Paris nhận làm con nuôi. Hai đứa nó được vô trường học, phần anh vì mù hết cả hai mắt nên họ chưa cho đi. Họ nói anh phải chờ cho đến khi hai đứa lớn lên, lấy quốc tịch Pháp và đi làm có lợi tức, lúc đó tụi nó có thể bảo lảnh anh qua Pháp theo diện đoàn tụ. Anh cho biết hai chị em của Janet có gởi thơ và quà đến Tòa Đại Sứ Pháp nhờ họ trao lại cho anh. Vào những dịp lễ Noel hay Tết, tòa Đại Sứ Pháp có mang quà đến ủy lạo. Qua những lần thăm viếng anh cho biết con gái lớn mới làm đám cưới, Jannet thì chưa muốn lập gia đình. Janet nhận được học bổng đi học bên London Anh Quốc. Mừng cho hai chị em Jannet thoát khỏi cuộc đời bỉ cực nhưng cũng buồn cho anh Pierre vì chưa đoàn tụ với hai con. Thập niên sáu mươi đất nước nhiều tao loạn và thời gian không ngừng trôi qua. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, gây ra nhiều cuộc chia ly, tôi theo giòng đời trôi dạt phương xa không còn gặp anh nữa.

Trong lần đầu tiên chúng tôi trở lại Saigon, chúng tôi đến Thị Nghè tìm anh Pierre, thật là ngỡ ngàn, cảnh vật nơi đây đã hòan toàn thay đổi. Tôi hỏi thăm về anh, nhưng không một ai biết cái viện dưỡng lão bây giờ ở đâu. Thật không ngờ cái lần thăm anh Pierre năm xưa đó là lần gặp gỡ cuối cùng giữa chúng tôi. Thầm mong anh đã được đoàn tụ với hai con bên Paris.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Sau tháng Tư 1975 thời cuộc đưa đẩy người Ninh Hòa tản mạn đi nhiều nơi trên thế giới, mấy bạn già định cư bên Âu Châu kêu réo nên tôi làm một chuyến đi Âu Châu để tìm hiểu cuôc sống của họ ra sao và biết đâu tôi có thể gặp lại anh Pierre và hai chị em Janet bên Paris Pháp Quốc.

Chuyến bay của tôi đáp xuống phi trường Charles de Gaulle International Paris lúc chín giờ sáng. Đang lây quây tìm hành lý, loa phát thanh lên tiếng cho biết đây là chuyến bay cuối cùng hôm nay và phi trường này bị đóng cửa vì bụi núi lữa từ Iceland bay phủ khắp bầu trời Âu Châu. Từ đây không một chiếc máy bay nào được bay đi và bay đến. Hằng ngàn chuyến bay theo sau chuyến bay của tôi phải chuyển hướng qua các phi trường bên Liên Bang Sô Viết. Chỉ trong một ngày mấy chục ngàn hành khách chen nhau chật hết cã các phi trường trên tòan thể Âu Châu nằm chờ cho bụi núi lữa tan đi. Tôi may mắn thoát nạn được anh chị bạn đến đón đưa về nhà.

Sau một đếm ngủ mệt nhoài, tôi được anh Nam và chị Minh đưa lên xe lữa đi vô thủ đô Paris. Từ Res De La Gare ở Montigny xe chạy qua ga Franconville nơi chị Nguyển Thị Tri người Xóm Rượu ở. Xe vượt qua mấy chặn xe điện ngầm qua mấy đường hầm khiến tôi mù mờ không biết đâu là đâu. Đến lúc chị Minh dục tôi ra khỏi xe điện, leo lên hai ba cầu thang máy, tôi bước lên trung tâm thành phố Paris, thủ đô của nước Cộng Hòa Pháp Quốc.


Paris nước Pháp? cái nước mà ngày xưa tôi gọi là Tây, họ đô hộ nước tôi một trăm năm, những ngày đó lính Tây Lê Dương đi lùng xét các làng xóm hảm hiếp đàn bà con gái, bao nhiêu thanh niên bị lính Tây giết hại đem xác chôn thành những nấm mộ hoang trên Gò Quít. Bao nhiêu thanh niên ở quê tôi bị Tây cầm tù mỗi ngày bị dẫn đi qua lại trước nhà tôi. Tất cả kỷ niệm quá khứ đau buồn tôi vẫn còn nhớ, nhưng hôm nay, buổi sáng này, tôi đang đứng giữa khung trời Paris, dưới ánh nắng Xuân mai tất cả những cái đó đã biến mất trong tôi.

Ôi Paris! thành phố này sao mà đẹp thế! Người đi dập dìu, thong dong dưói nắng Xuân. Bốn bề đầy rẫy dinh thự nguy nga lộng lẫy, kiến trúc rất mỹ thuật chen lấn bởi những hàng cây đậm màu đầy hoa khoe sắc. Du thuyền đầy khách tấp nập trên sông Seine, trước mặt là ngọn tháp Eiffelle hiên ngang hùng vĩ, những chiếc xe mui trần chở đầy du khách tham quan thành phố vui cười hớn hở. Mùa Xuân Paris nắng gắt nhưng gió bắc cực thổi về lạnh tê tái. Hằng ngàn người từ khắp nơi trên thế giới sắp hàng đứng dưới chân tháp Eiffelle chờ đến phiên mình được lên đỉnh tháp xem toàn cảnh thành phố Paris huy hoàng. Hai bên đại lộ Champs Elysées Khải Hoàn Môn có nhiều cửa hàng danh tiếng đông khách chen vai mua sắm. Quận 13 của Paris năm 1954 chánh phủ Pháp lập trại tỵ nạn cho người Việt Miên Lào nay là vùng đất vàng, là khu vực thương mại sầm uất của người Á-Châu. Super Market và nhiều cửa hàng của người Việt Miên Lào mua bán, khách ra vô nườm nượp. Các nhà hàng với hình ảnh thực đơn với các món ăn thuần túy dân tộc Việt Miên Lào trình bày trước cửa tiệm thấy mà vui.

Paris nổi tiếng với danh hiệu Thành Phố Của Tình Yêu thật không ngoa. Paris thật quyến rũ khiến tôi quên hết những tàn tích hung ác của Tây Lê Dương ngày xưa. Tôi đang mê mẩn chụp hình lia lịa, bỗng một cô gái trẻ người Đông Âu xinh đẹp đầu đội khăn Burka bước đến, miệng cô nở nụ cười thân thiện muốn trào nước mắt. Cô đưa tôi một mảnh giấy nhỏ. Tôi mở ra xem thấy những lời than vang buồn tẽ, tôi trả lại tờ giấy kèm món quà nhỏ. Nhìn cô nàng chậm rải bước đi mà lòng đầy luyến tiếc, ước gì cô là Janet người bạn năm xưa tôi đang tìm trong giây phút này. Giữa trời Xuân Paris Thành Phố của Tình Yêu mà thấy lòng bơ vơ. Tôi vẩn biết đời người không tránh khỏi cái sinh ly tử biệt. Trái đất tuy tròn nhưng nó bao la quá nên mình không gặp nhau được. Tôi cất bước tiếp tục khám phá Paris mà lòng đầy thương nhớ về Gò Muồng và người xưa.

Quý vị nào biết được Janet và câu chuyện này, xin vui lòng email về địa chỉ email: duongdubinh@yahoo.com

Đường Bình

No comments:

Post a Comment