Tuesday, July 11, 2017

“Nước lụt” của Đồ Chiểu hay tác giả khác?

Bài thơ Nước lụt của Nguyễn Đình Chiểu, hay Tú Quỳ, hay Lê Trung Đình?
Đồ Chiểu / Nguyễn Đình Chiểu / 阮廷沼 tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù có thêm hiệu Hối Trai. Ông chào đời ngày 1-7-1822 nhằm 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ tại quê mẹ là làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc phường Cầu Kho, quận 1, Sài Gòn; mất ngày 3-7-1888 nhằm 14 tháng 5 năm Mậu Tý tại làng An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tập I Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1980) ghi nhận nguyên quán của Đồ Chiểu là xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Lời nói đầu bộ sách vừa nêu do Nguyễn Thạch Giang chấp bút: “Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc. Từ sau cách mạng tháng 8, và nhất là từ năm 1954, tác phẩm của ông đã được giới thiệu, phổ biến rộng rãi trong cả nước. Song những tác phẩm này chưa được khảo sát dưới góc độ văn bản học chặt chẽ, vì chúng ta chưa có đủ những bản nôm cần thiết.”
Nguyễn Đình Chiểu toàn tập tắt hóa thành toàn tập, gồm 2 tập, do Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải, đã dụng công xử lý văn bản, cố gắng hiệu đính các tác phẩm hầu sát hợp bản gốc. Ở đây, chỉ nhắc qua nhan đề 2 tác phẩm của Đồ Chiểu:
  1. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, về nhan đề, trong sách Gia lễ của Huình-Tịnh Paulus Của (Sài Gòn, 1886) ghi Văn tế vong hồn mộ nghĩa, toàn tập ghi Tế Cần Giuộc sĩ dân trận vong văn.
  2. Ngư Tiều vấn đáp y thuật do Phan Văn Hùm hiệu đính và chú thích, Nhượng Tống tăng bình bổ chú (NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1952); dựa vào bản đó, Vũ Đình Liên và Lê Thước trích chú thành Ngư Tiều y thuật vấn đáp (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1957 – NXB Văn Học, Hà Nội, 1963); toàn tập căn cứ bản nôm do Phạm Khánh Vân chép năm Tân Hợi 1911 để hiệu đính nhan đề Ngư tiều vấn đáp nho y diễn ca.
Phanxipăng bên tượng Nguyễn Đình Chiểu trong sân trường THCS cùng tên ở xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ảnh: Đặng Văn Năm
Tháng 9-2016, cám cảnh mưa to ngập lớn ở TP.HCM cùng một số đô thị khác trên toàn quốc, Phanxipăng lật lại toàn tập, ư ử ngâm nga Nước lụt thi trong tập II (NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1982). Đây là bản phiên ra quốc ngữ từ bản nôm mà theo lời Nguyễn Kim Phụng (cháu nội của Đồ Chiểu) thì do các con của Đồ Chiểu là Sương Nguyệt Anh / Nguyễn Thị Khuê, Nguyễn Đình Chúc, Nguyễn Đình Chiêm chép theo giọng đọc của phụ thân. Bài thơ in trang 15:
Trời mưa từng trận gió từng hồi, 
Thế giới bao nhiêu nước khỏa rồi.
Lũ kiến bất tài đòi chỗ bợ,
Đấu bèo vô dụng kết bè trôi.
Lao xao rừng cụm nghe chim chíp,
Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi.
Nỡ để dân đen trên gác yếu,
Này ông Hạ Vũ ở đâu ôi!
Khảo dị từ sách Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu (NXB Văn Học, Hà Nội, 1963):
Trời mưa từng trận gió từng hồi,Bốn mặt giang sơn ngập cả rồi,Lũ kiến bất tài muôn khóm giạt,Giống bèo vô dụng một bè trôi.Liu riu rừng quạnh nghe chim hót,Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi.Nỡ để dân đen chìm đắm mãi,Này ông Hạ Vũ ở đâu ôi!
Cần thêm rằng sách Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu được tập hợp từ đôi cuốn:
  1. Nguyễn Đình Chiểu – thân thế & thi văn do Nguyễn Bá Thế sưu soạn (NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)
  2. Nguyễn Đình Chiểu do Vũ Đình Liên viết (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1960)
Theo Phanxipăng, nhan đề bài thơ Nước lụt thi nếu nhuận sắc thành Nước lụt ắt gọn gàng, dễ nhớ. Tuy nhiên, có vấn đề mà tổng tập không ghi chú, song đáng phân vân: tác giả đích thực của bài thơ này là ai?
Các ấn phẩm đã nêu trên đều ghi rằng bài thơ Nước lụt của Đồ Chiểu, thế nhưng một số tài liệu lại khẳng định của 1 trong 2 cây bút khác: Tú Quỳ, Lê Trung Đình.
Tú Quỳ (1828 – 1926) có họ tên Huỳnh Quỳ, hiệu Hướng Dương, quê làng Giảng Hoà, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; đỗ tú tài năm 19 tuổi; không chịu làm quan, suốt đời lãng du, dạy học, bốc thuốc & sáng tác đủ loại thể văn chương, nhất là thơ phúng thích. Bài thơ Ni cô của Tú Quỳ:
Ôm chuông gối mõ ngáy kho kho,Gió thổi màn thiền mát mẻ o.Cánh cửa từ bi cài lỏng chốt,Nồi hương tế độ đút đầy lò.Cá kia ngỏng kệ đầu ngơ ngẩn,Chim nọ nghe kinh cổ gật gù.Ướm hỏi chúng sanh lòng muốn độ,Phải quỳ, phải lạy, phải “nam vô”.
Sách Văn thơ Tú Quỳ do Trương Duy Hy sưu soạn (NXB Đà Nẵng, 1993) có bài thơ bát cú Nước lụt, thừa đề lục ngôn, các dòng còn lại thất ngôn:
Mưa từng chặp gió từng hồi,Bốn mặt non sông nước khỏa rồi.Lũ kiến bất tài tha trứng chạy,Chòm rong vô dụng kết bè trôi.Chít chiu rừng rậm chim kêu tổ,Lổm ngổm giường cao chó nhảy ngồi.Nỡ để dân đen rày đói lạnh,Nào ông Hạ Võ ở đâu rồi?
Lê Trung Đình (? – 1885) hiệu Long Cang, gốc làng Bình Sơn, nay thuộc TP Quảng Ngãi. Đỗ cử nhân tại trường thi hương Bình Định khoa Giáp Thân 1884, rồi cùng các sĩ phu ở tỉnh Quảng Ngãi bí mật lập Nghĩa Hội. Ngày 5-7-1885 nhằm 23 tháng 5 năm Ất Dậu, cuộc phản công của phe chủ chiến ở Huế thất bại, kinh đô thất thủ, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương. Lê Trung Đình tập hợp khoảng 3 nghìn hương binh ở bãi sông Trà Khúc, tế cờ, đoạn đánh chiếm thành Quảng Ngãi, bắt giữ quan lại, thả tù phạm, thu ấn triện, binh khí, tiền, lương thực. Quân triều đình vây bắt được Lê Trung Đình, dụ hàng không thành, nên xử chém tại Quảng Ngãi vào tháng 7-1885. Trước khi rơi đầu, Lê Trung Đình bật bài ngũ ngôn tứ tuyệt Lâm hình thời tác / Làm lúc sắp bị hành hình:
Kim nhật lung trung điểu,Minh triêu trở thượng ngư.Thử thân hà túc tích,Xã tắc ai kỳ khu.
Hoàng Tạo dịch:
Nay là chim trong lồng,Mai đã cá trên thớt?Thân này tiếc gì đâu,Gian nan tình đất nước.
Sách Văn đàn bảo giám do Trần Trung Viên sưu soạn (NXB Nam Ký, Hà Nội, 1925 – 1930; NXB Mặc Lâm, Sài Gòn, 1968; NXB Văn Học, Hà Nội, 2004) ghi rằng bài thơ Nước lụt của Lê Trung Đình:
Mưa từng chặn nước từng hồi, 
Bốn mặt non sông nước phủ rồi.
Lũ kiến bất tài tha trứng chạy,
Đám rêu vô dụng kết bè trôi.
Lửng lơ rừng thẳm không chim đậu,
Ngất ngưởng lầu tây có chó ngồi.
Nỡ để dân đen vùi máu đỏ,
Nào ông Hạ Võ ở đâu ôi!
Sách Văn đàn bảo giám mắc nhiều sai lầm, thiếu sót, ấy là nhận xét chung; riêng bài thơ Nước lụt thì vì sao Trần Trung Viên ghi của Lê Trung Đình? Sách Văn thơ Tú Quỳ của Trương Duy Hy lại là ấn phẩm được biên soạn lâu dài, cẩn trọng, chưa rõ dựa theo nguồn nào mà khẳng định rằng bài thơ Nước lụt của Huỳnh Quỳ?
Rất mong các nhà sưu khảo văn học Việt Nam sớm giải đáp: trên cơ sở văn bản học, bài thơ Nước lụt của Đồ Chiểu, hay Tú Quỳ, hay Lê Trung Đình? ♥
https://phanxipang.wordpress.com/2016/10/04/nuoc-lut-cua-do-chieu-hay-tac-gia-khac/

Phanxipăng

No comments:

Post a Comment